giải pháp phòng ngừa và hạn chế rủi ro trong thanh toán quốc tế theo phương thức tín dụng chứng từ tại ngân hàng thương mại cổ phần quân đội chi nhánh hoàng quốc việt - Pdf 24

Chuyên đề tốt nghiệp 1
LỜI MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của chuyên đề
Trong xu thế hội nhập kinh tế quốc tế ngày nay, kinh doanh và rủi ro là
hai phạm trù song song cùng tồn tại. Rủi ro là sự bất trắc gây ra mất mát thiệt
hại, song lại là hiện tượng đồng hành với các hoạt động kinh doanh của các
doanh nghiệp nói chung và ngân hàng nói riêng.
Là một trong những lĩnh vực hoạt động kinh doanh của ngân hàng
thương mại, thanh toán quốc tế ra đời và phát triển không ngừng như một tất
yếu khách quan. Nó là một mắt xích không thể thiếu trong việc buôn bán,
giao thương giữa các quốc gia. Trong đó, tín dụng chứng từ đang trở thành
phương thức thanh toán ưu việt và ngày càng được sử dụng phổ biến trong
thanh toán xuất nhập khẩu. Tuy nhiên, trong quá trình hoạt động của mình,
Thanh toán quốc tế không chỉ đơn thuần mang lại những lợi ích kinh tế mà
còn phát sinh những nguy cơ có thể gây rủi ro, tổn thất trực tiếp cho ngân
hàng, cho các doanh nghiệp hoạt động kinh doanh xuất nhập khẩu và cả nền
kinh tế quốc gia.
Qua hơn 10 năm thành lập, hoạt động thanh toán quốc tế của Ngân
hàng TMCP Quân Đội-chi nhánh Hoàng Quốc Việt còn mới mẻ nhưng đã đạt
được những thành tựu nhất định. Sự mở rộng và phát triển đa dạng các sản
phẩm thanh toán quốc tế đã tạo tiền đề căn bản thúc đẩy phương thức tín dụng
chứng từ phát huy tính hiệu quả và trở thành công cụ đắc lực đáp ứng ngày
một tốt hơn nhu cầu của các doanh nghiệp xuất nhập khẩu. Tuy vậy, thực tiễn
áp dụng các tập quán quốc tế cho thấy tín dụng chứng từ không phải là nghiệp
vụ đơn giản, nó tiềm ẩn nhiều rủi ro về tài chính và uy tín không chỉ cho các
doanh nghiệp tham gia xuất nhập khẩu mà cho các ngân hàng thương mại
trong đó có Ngân hàng TMCP Quân Đội chi nhánh Hoàng Quốc Việt.
Xuất phát từ thực tế trên, việc nghiên cứu các vấn đề về rủi ro trong thanh
toán quốc tế bằng tín dụng chứng từ để từ đó tìm ra các biện pháp phòng ngừa
Nguyễn Đức Ngọc Lớp: NHH- K11
Chuyên đề tốt nghiệp 2

- Phương pháp đối chiếu, so sánh;
- Phương pháp diễn giải, quy nạp;
- Phương pháp phân tích và tổng hợp.
- …….
5. Kết cấu của chuyên đề
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Danh mục tài liệu tham khảo, chuyên đề
được bố cục thành 3 chương như sau:
- Chương 1 : Lý luận chung về phương thức thanh toán tín dụng
chứng từ và rủi ro trong phương thức thức thanh toán
tín dụng chứng từ.
- Chương 2 : Thực trạng rủi ro trong phương thức thanh toán tín
dụng chứng từ tại Ngân hàng Thương mại Cổ phần
Quân đội chi nhánh Hoàng Quốc Việt.
- Chương 3 : Những kiến nghị và đề xuất giải pháp phong ngừa rủi
ro trong thanh toán quốc tế theo phương thức tín dụng
chứng từ tại Ngân hàng Thương mại Cổ phần Quân đội
chi nhánh Hoàng Quốc Việt.
Nguyễn Đức Ngọc Lớp: NHH- K11
Chuyên đề tốt nghiệp 4
CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN CHUNG VỀ PHƯƠNG THỨC
THANH TOÁN TÍN DỤNG CHỨNG TỪ VÀ RỦI RO TRONG
PHƯƠNG THỨC THANH TOÁN TÍN DỤNG CHỨNG TỪ
1.1 TDCT KHÁI NIỆM, Ý NGHĨA VÀ QUY TRÌNH CỦA PHƯƠNG
THỨC THANH TOÁN TÍN DỤNG CHỨNG TỪ
1.1.1. Khái niệm phương thức thanh toán TDCT
Phương thức TDCT: là phương thức thanh toán, trong đó theo yêu cầu
của khách hàng, một ngân hàng sẽ phát hành một bức thư (gọi là thư tín dụng
– letter of credit) cam kết trả tiền hoặc chấp nhận hối phiếu cho một bên thứ
ba khi người này xuất trình cho ngân hàng bộ chứng từ thanh toán phù hợp
với những điều kiện và điều khoản quy định trong thư tín dụng.

không phải ứng trước tiền. Hơn nữa, nhờ có sự bảo đảm về thanh toán, nhà
nhập khẩu có thể tiến hành thương lượng các điều kiện tốt hơn về hàng hóa
như giá cả, chất lượng và trên hết là có thêm cơ hội để nhập được hàng hoá
mà mình cần.
 Đối với NHTM
Có thể nói, thanh toán theo phương thức TDCT là một loại hình dịch
vụ không thể thiếu của ngân hàng phục vụ cho người nhập khẩu nên khi hoạt
động thanh toán đạt hiệu quả cao sẽ đem lại nguồn thu lớn cho ngân hàng với
một mức rủi ro tương đối thấp.
Khi tiến hành nghiệp vụ thanh toán L/C, ngân hàng có được một nguồn
thu ổn định từ việc thu phí như phí mở, sửa đổi, điều chỉnh L/C, phí thông
báo, thanh toán, xác nhận L/C (các khoản phí trong nghiệp vụ thanh toán L/C
nói chung khá cao, cao hơn so với những phương thức thanh toán khác vì
nghiệp vụ này tương đối phức tạp, đòi hỏi trình độ nghiệp vụ cao). Ngoài ra
khi quy định các khoản ký quỹ cho doanh nghiệp mở L/C, ngân hàng còn huy
động thêm được một lượng vốn đáng kể phục vụ cho hoạt động của các
Nguyễn Đức Ngọc Lớp: NHH- K11
Chuyên đề tốt nghiệp 6
nghiệp vụ khác như cho vay xuất nhập khẩu, xác nhận, bảo lãnh Hơn nữa,
với việc thực hiện tốt nghiệp vụ thanh toán L/C sẽ góp phần nâng cao uy tín
của ngân hàng trên nhiều phương diện khác nhau không chỉ ở trong nước mà
ngay cả trên trường quốc tế.
1.1.3. Quy trình của phương thức thanh toán TDCT
Sơ đồ 1.1: Quy trình nghiệp vụ phương thức thanh toán TDCT
(2)
(5)
(8) (8)
(7) (6) (1) (8) (5) (3)
(4) (4)
(1) Gửi đơn yêu cầu phát hành thư tín dụng và tiến hành ký quỹ.

chứng từ không được thanh toán, mà đó còn là rủi ro về sự chậm trễ trong các
khâu của quá trình thanh toán, về tỷ giá biến động, về thay đổi môi trường
chính trị hoặc về đạo đức kinh doanh.
1.3. PHÂN LOẠI RỦI RO TRONG THANH TOÁN TDCT
Rủi ro trong thanh toán L/C xảy ra khi quyền lợi của các bên tham gia
bị vi phạm. Trong trường hợp này, rủi ro không chỉ được hiểu theo nghĩa hẹp
là việc chứng từ không được thanh toán mà còn được hiểu là bất kỳ sự khúc
mắc, chậm trễ nào trong các khâu của quá trình thanh toán. Rủi ro trong thanh
toán L/C có rất nhiều loại, tùy từng phương diện và căn cứ mà rủi ro lại có
những tên gọi và đặc điểm khác nhau. Sau đây là hai căn cứ được sử dụng
phổ biến nhất để phân loại rủi ro trong hoạt động thanh toán quốc tế theo
phương thức tín dụng chứng từ.
1.3.1. Căn cứ vào đối tượng bị thiệt hại
 Rủi ro đối với người nhập khẩu
Người nhập khẩu nhận được hàng hoá không đúng số lượng, chất
lượng với quy định của hợp đồng. Do ngân hàng chỉ phải kiểm tra tính chân
thực “bề ngoài” của bộ chứng từ, mà không chịu trách nhiệm về tính chất “bên
trong” của bộ chứng từ, tức là không chịu trách nhiệm với hàng hóa thực
giao. Rủi ro này xảy ra khi người xuất khẩu chủ tâm gian lận có thể xuất trình
bộ chứng từ giả mạo (có bề ngoài phù hợp với L/C) cho ngân hàng được chỉ
định thanh toán.
Nguyễn Đức Ngọc Lớp: NHH- K11
Chuyên đề tốt nghiệp 8
Người nhập khẩu chưa nhận được bộ chứng từ để làm thủ tục nhận
hàng mặc dù hàng đã cập cảng khiến người nhập khẩu phải chịu chi phí lưu
kho, lưu bãi. Trường hợp muốn nhận hàng hóa ngay, người nhập khẩu sẽ đề
nghị ngân hàng phát hành một thư bảo lãnh gửi hãng tàu để nhận hàng và phải
chịu rủi ro chấp nhận thanh toán với mọi sai sót của bộ chứng từ.
Người xuất khẩu không gửi hàng nhưng vẫn lập bộ chứng từ giả xuất
trình đòi tiền NHPH. Loại rủi ro này tuy không chiếm tỷ lệ lớn song vẫn tồn tại.

Đây là loại rủi ro gây thiệt hại nặng nề nhất cho NHPH, do ngân hàng phải
thanh toán cho bộ chứng từ hoàn hảo trong khi không thể thu hồi lại vốn từ
người mua.
Thứ ba, rủi ro do nhà xuất khẩu có hành vi lừa đảo, giả mạo chứng từ:
NHPH mặc dù đã kiểm tra chứng từ với “sự cẩn thận hợp lý” nhưng không
phát hiện sai sót và tiến hành thanh toán. Nếu phía xuất khẩu là một tổ chức
“ma” hoặc bị phá sản, trong khi nhà nhập khẩu không đủ năng lực tài chính
để bồi thường thì NHPH cuối cùng sẽ là người phải gánh chịu rủi ro đó.
Thứ tư, rủi ro do nhà nhập khẩu không nhận hàng: Khi tỷ giá biến động
theo hướng bất lợi hoặc giá hàng trên thị trường giảm mạnh, nhà nhập khẩu
không muốn nhận hàng vì sợ thua lỗ nên không tiến hành thanh toán. Trong
trường hợp này, nếu tỷ lệ ký quỹ L/C không bù đắp được tỷ lệ trượt giá của
nội tệ thì rủi ro này sẽ do NHPH gánh chịu.
- Rủi ro đối với NHTB:
Về mặt nguyên tắc, NHTB chỉ chịu trách nhiệm có sự quan tâm hợp lý để
đảm bảo tính chân thực của L/C mình thông báo mà không chịu trách nhiệm
thanh toán. Tuy nhiên, nếu không hoàn thành tốt trách nhiệm và để xảy ra sai
sót thì NHTB cũng phải gánh chịu rủi ro như không nhận được phí dịch vụ,
thậm chí nghiêm trọng hơn là bị khởi kiện và đòi bồi thường thiệt hại.
- Rủi ro đối với ngân hàng xác nhận:
Thứ nhất, rủi ro do NHPH không có khả năng thanh toán: NHXN phải
Nguyễn Đức Ngọc Lớp: NHH- K11
Chuyên đề tốt nghiệp 10
thanh toán cho bộ chứng từ hoàn hảo bất luận có truy đòi được từ NHPH hay
không. Như vậy, NHXN phải chịu rủi ro tín dụng đối với NHPH cũng như rủi
ro chính trị và rủi ro ngoại hối của nước NHPH.
Thứ hai, rủi ro trong khâu kiểm tra chứng từ: Trường hợp NHXN
không phát hiện sai sót của bộ chứng từ và tiến hành thanh toán thì không thể
truy đòi lại từ NHPH.
- Rủi ro đối với NHCK chứng từ:

vì một lý do nào đó hoặc phải đóng cửa hoặc vỡ nợ thì cũng dẫn tới rủi ro cho
người xuất khẩu và NHCK. Điều này phụ thuộc nhiều vào mức độ tín nhiệm
của NHPH¸tuy rất hiếm xảy ra nhưng cũng đã có những NHTM bị sụp đổ. Vì
vậy, để tránh xảy ra tình huống như trên, tốt nhất nhà xuất khẩu nên yêu cầu
nhà nhập khẩu chọn những NHTM lớn, có uy tín để phát hành L/C.
 Rủi ro hàng hoá:
Đây là những rủi ro về mất mát, hư hỏng, khó tiêu thụ hàng hoá trong quá
trình vận chuyển, bảo quản và tiêu thụ.
Trong thương mại quốc tế, vận chuyển hàng hóa thường qua chặng
đường dài, chuyển giao qua nhiều nước, nhiều con tầu, bảo quản trong kho lâu
ngày. Vì vậy, hàng hóa có thể gặp rủi ro như mất phẩm chất, biến động về giá
cả trong quá trình vận chuyển, bảo quản và tiêu thụ. Thậm chí hàng hóa còn có
thể bị mất do đắm tầu, máy bay bị cháy, khủng bố, cướp biển, Điều này sẽ
gây thiệt hại cho các bên liên quan là người nhập khẩu, người xuất khẩu và
ngân hàng. Do đó, các bên tham gia cần phải tính toán, dự đoán trước những
rủi ro để có biện pháp rào chắn hợp lý như mua bảo hiểm với những loại hình
bảo hiểm phù hợp. Ngoài ra về phía ngân hàng là người tài trợ cho người nhập
khẩu nên cũng cần quan tâm đúng mức đến mặt an toàn của hàng hóa.
 Rủi ro ngoại hối:
Rủi ro ngoại hối là khả năng xảy ra những tổn thất mà các bên tham gia giao
dịch phải gánh chịu khi tỷ giá thay đổi vượt dự tính.
Nguyễn Đức Ngọc Lớp: NHH- K11
Chuyên đề tốt nghiệp 12
Nếu ngoại tệ lên giá thì bất lợi cho nhà nhập khẩu và có lợi cho nhà
xuất khẩu và ngược lại. Sự biến động của tỷ giá phụ thuộc vào nhiều yếu tố
như: Chính sách tỷ giá, tốc độ lạm phát, cán cân thanh toán, dự trữ ngoại hối,
cung cầu ngoại hối,… của từng quốc gia.
Đối với NH, trường hợp thường xảy ra nhất đối với loại rủi ro này là
trạng thái ngoại hối về đồng tiền thanh toán khác 0. Nếu trạng thái ngoại tệ
âm (tức là ngân hàng đã ứng trước để bán cho khách hàng - vay từ nguồn

- Sự cấm vận về kinh tế: khi một quốc gia bị cấn vận kinh tế thì mọi hoạt
động thương mại quốc tế bị kiểm soát gắt gao, kể cả tài khoản Nostro của
nước đó tại nước ngoài cũng bị kiểm soát thậm chí bị phong tỏa nên
NHPH không thể thanh toán tiền hàng cho người xuất khẩu.
 Rủi ro pháp lý:
Rủi ro pháp lý là rủi ro không tuân thủ các yêu cầu pháp lý, sự vận
dụng không đồng nhất các nguồn luật điều chỉnh L/C như UCP600 và yêu cầu
về quản lý của nhà nước.
TTQT bằng phương thức L/C được các ngân hàng trên thế giới thực hiện
trên cơ sở UCP, nhưng ở từng giao dịch còn bị chi phối bởi hệ thống luật quốc
gia. Nhìn chung luật quốc gia thông thường tôn trọng và ít khi có đối đầu với
thông lệ quốc tế. Tuy nhiên trong trường hợp có khác biệt hoặc đối nghịch với
UCP thì Luật quốc gia sẽ vượt trội lên trên tất cả và được tuân thủ. Nói như vậy
là bởi theo quan điểm của ICC thì UCP không thể thay đổi được luật quốc gia
cho nên nếu có tranh chấp thì tốt nhất để tòa án xem xét và giải quyết.
Ngoài ra, rủi ro pháp lý còn do hệ thống luật pháp không đồng bộ, thậm
chí nhiều khi còn mâu thuẫn nhau trong hệ thống luật pháp của một nước.
Như vậy, để giảm thiểu xảy ra rủi ro quốc gia thì trước khi ký kết hợp
đồng ngoại thương, các bên cần xem xét luật của quốc gia đối tác và quy định
rõ trong hợp đồng ngoại thương khi tranh chấp xảy ra thì áp dụng theo luật
nào và thứ tự ưu tiên như thế nào.
Nguyễn Đức Ngọc Lớp: NHH- K11
Chuyên đề tốt nghiệp 14
 Rủi ro đạo đức:
Rủi ro đạo đức là rủi ro xảy ra khi một bên tham gia tín dụng chứng từ cố tình
không thực hiện nghĩa vụ của mình, gây thiệt hại tới quyền lợi của các bên
còn lại. Đây là loại rủi ro mà các bên tham gia tín dụng chứng từ khó có thể
lường trước và kiểm soát được.
Rủi ro từ phía người nhập khẩu: Nếu không phải bạn hàng lâu năm,
không có uy tín trong kinh doanh, nhà nhập khẩu thường lợi dụng những sai

tín dụng chứng từ nên quy định các điều khoản về chứng từ xuất trình theo
L/C không chặt chẽ, khiến nhà xuất khẩu dễ dàng lập được bộ chứng từ hoàn
hảo mặc dù giao hàng không theo đúng quy định của hợp đồng.
NH đóng vai trò quan trọng trong phương thức L/C, là người thay
mặt nhà nhập khẩu kiểm tra bộ chứng từ và cam kết thanh toán cho nhà
xuất khẩu trên cơ sở bộ chứng từ sạch. Vì vậy, nếu cán bộ ngân hàng
không tinh thông nghiệp vụ sẽ gây khó khăn và rủi ro cho cả ngân hàng và
khách hàng. Ví dụ: ngân hàng chỉ có thời gian hợp lý, tối đa không quá 05
ngày làm việc kể từ sau ngày nhận được chứng từ để kiểm tra. Quá 05 ngày
làm việc, NHPH sẽ mất quyền từ chối bộ chứng từ sai sót và phải chịu mọi
rủi ro liên quan đến hành vi của mình.
 Rủi ro công nghệ:
Rủi ro công nghệ là những bất trắc xảy ra do công nghệ thấp kém, không đáp
ứng hoặc đáp ứng không tốt yêu cầu đặt ra.
Công nghệ lạc hậu, thủ công sẽ gây sai sót trong quá trình lập chứng từ,
tìm kiếm thông tin và tốn kém chi phí cho nhà xuất nhập khẩu.
Đối với NH, việc đầu tư cho công nghệ, đặc biệt là công nghệ ngân
hàng đòi hỏi chi phí rất cao. Nhìn chung, các ngân hàng nhỏ, vốn ít không có
điều kiện để trang bị công nghệ hiện đại thường gặp rủi ro này. Ví dụ như:
Rủi ro trong quá trình truyền điện đi nước ngoài, trong lưu chuyển hồ sơ,
chứng từ trong nội bộ ngân hàng hay sai sót trong hạch toán, thu phí dịch vụ.
Nguyễn Đức Ngọc Lớp: NHH- K11
Chuyên đề tốt nghiệp 16
 Rủi ro uy tín:
Rủi ro uy tín là những bất trắc xảy ra gây ảnh hưởng, làm giảm uy tín
của các bên.
Đối với nhà xuất nhập khẩu, khi uy tín giảm sút, các ngân hàng đánh
giá hệ số tín nhiệm của các nhà xuất nhập khẩuthấp thì ngân hàng sẽ không
tiến hành cho vay, mở L/C cho nhà nhập khẩu hay ngừng chiết khấu chứng từ
cho các nhà xuất khẩu.

chuyên gia giỏi nghiệp vụ ngoại thương thương thảo hợp đồng.
- Các biện pháp tập trung tác động vào môi trường rủi ro: Môi trường rủi ro
ở đây có thể là môi trường văn hoá, chính trị, luật pháp,… Rủi ro sẽ xảy ra
nếu nhân viên của doanh nghiệp không có những hiểu biết cần thiết về môi
trường văn hoá, chính trị,… của nước đối tác, dẫn đến hành xử không
đúng và gặp rủi ro. Biện pháp phòng ngừa: Đào tạo, huấn luyện, nâng cao
trình độ cho cán bộ, đặc biệt là kiến thức về văn hoá, luật pháp và cách
ứng xử.
- Các biện pháp tập trung vào sự tương tác giữa nguy cơ và môi trường rủi
ro. Ví dụ: Khi ngân hàng ban hành các quy trình, quy chế mới điều chỉnh
phương thức tín dụng chứng từ cho phù hợp với yêu cầu thực tiễn nhưng
không phải CN, cán bộ nào cũng có thể thích ứng ngay. Cách phòng ngừa
là phải thường xuyên theo dõi, cập nhật đầy đủ, kịp thời các thông tin,
chính sách, quy trình, quy chế của NH.
1.4.3. Các biện pháp giảm thiểu rủi ro
Đây là các biện pháp để giảm thiểu những tổn thất, thiệt hại, mất mát
do rủi ro mang lại, bao gồm:
- Cứu vớt những tài sản còn sử dụng được.
- Chuyển nợ. Ví dụ: Sau khi thanh toán cho người hưởng lợi theo phương
thức tín dụng chứng từ, NHPH sẽ đòi tiền thanh toán từ người yêu cầu mở
L/C.
Nguyễn Đức Ngọc Lớp: NHH- K11
Chuyên đề tốt nghiệp 18
- Xây dựng và thực hiện các kế hoạch phòng ngừa rủi ro.
1.4.4. Các biện pháp dự phòng
Trong hoạt động kinh doanh, ngân hàng và doanh nghiệp có thể đưa ra
rất nhiều biện pháp dự phòng, hạn chế rủi ro. ví dụ: Khi nhập khẩu hàng hoá trị
giá lớn, hàng “nhạy cảm” như phân bón, xăng dầu, sắt thép,… người bán
thường yêu cầu người mua mở L/C tuần hoàn hoặc L/C cho phép đòi tiền bằng
điện. Khi đó, độ rủi ro trong thanh toán là rất cao. Vì vậy, nhà nhập khẩu sẽ

Hiệu quả hoạt động của MB luôn được các cơ quan quản lý, đối tác cũng
Nguyễn Đức Ngọc Lớp: NHH- K11
Chuyên đề tốt nghiệp 20
như khách hàng đánh giá cao. Liên tục được Ngân hàng Nhà nước xếp hạng
A và trao tặng nhiều bằng khen cho những thành tích xuất sắc; nhiều năm liền
nhận được các giải thưởng thanh toán quốc tế do các ngân hàng uy tín quốc tế
trao tặng như HSBC, Standard Chatered Bank, UBOC; được người tiêu dùng
bình chọn là Thương hiệu mạnh liên tục trong hai năm liền 2005 và 2006; đạt
cúp vàng Top ten thương hiệu Việt, ngành hàng: Ngân hàng – tài chính năm
2006; …và nhiều giải thưởng có uy tín, giá trị khác.
Các sản phẩm dịch vụ của MB không ngừng được đa dạng hoá theo
hướng hoàn thiện và phát huy dịch vụ truyền thống kết hợp với phát triển các
dịch vụ hiện đại như, hệ thống thanh toán qua thẻ, Mobile Banking, Internet
Banking. Dịch vụ của MB liên tục được cải thiện, mang lại cho khách hàng
không những hiệu quả cao về tài chính mà còn cả sự yên tâm tuyệt đối.
Song song với việc nâng cao chất lượng sản phẩm, dịch vụ, MB đặc biệt
chú trọng mở rộng mạng lưới kênh phân phối tại các khu vực kinh tế trọng
điểm của cả nước. Hiện nay, MB đang có 40 điểm giao dịch trên khắp đất
nước, đặt quan hệ đại lý với gần 600 ngân hàng trên thế giới để hợp tác cung
cấp các dịch vụ ngân hàng toàn cầu. Dự kiến, đến cuối năm 2008, mạng lưới
chi nhánh của MB sẽ tăng lên con số 65.
Nhận thức được chất lượng đội ngũ nhân viên chính là sức mạnh của
Ngân hàng, hàng năm, hàng ngàn lượt cán bộ, nhân viên chủ chốt của MB đã
được cử đi đào tạo trong và ngoài nước. Trong vòng từ năm 2005 đến đầu
năm 2008, gần 600 cán bộ, nhân viên đã được MB tuyển dụng vào làm việc
tại Ngân hàng. Bởi vậy, hiện nay hơn 1.000 cán bộ, nhân viên đang cống hiến
và làm việc tại Ngân hàng với những chính sách, chế độ đãi ngộ thoả đáng.
Dự kiến đến cuối năm 2008, con số này sẽ tăng lên 50-60%.
Cùng với số lượng nhân viên trẻ, dồi dào và có chuyên môn hoá cao,
MB đang phát triển trở thành ngân hàng đa năng với việc thành lập các công

Chuyên đề tốt nghiệp 22
Hoạt động TTQT được coi là một trong những hoạt động hiệu quả của
MB-Hoàng Quốc Việt và doanh thu phí từ hoạt động TTQT đóng góp một
phần đáng kể vào thu nhập của ngân hàng.
Biểu đồ 2.1 : Doanh thu TTQT trong tổng doang thu của MB
-Hoàng Quốc Việt
Nguồn: MB-Hoàng Quốc Việt
Doanh thu phí từ hoạt động TTQT tăng trưởng đều qua các năm, chiếm
tỷ lệ tương đối trong tổng doanh thu của ngân hàng.
Và từ 2009 đến nay, doanh thu từ phí TTQT tăng khá mạnh qua các
Nguyễn Đức Ngọc Lớp: NHH- K11
2008 2009 2010 2011
Chuyên đề tốt nghiệp 23
năm. Năm 2010 đạt 5462 triệu đồng, tăng 1.77 lần so với năm 2009. Năm
2011, doanh thu từ phí TTQT đạt 7907 triệu đồng, bằng 1.45 lần doanh thu của
năm 2010. Rõ ràng, doanh thu từ phí TTQT ngày càng gia tăng với tốc độ lớn.
Cũng như các NHTM khác, MB-Hoàng Quốc Việt có 3 phương thức
TTQT được áp dụng phổ biến, đó là: Phương thức tín dụng chứng từ,
nhờ thu và chuyển tiền.
Bảng 2.1: Tỷ trọng các phương thức TTQT tại MB-Hoàng Quốc Việt
(2008-2011)
Đơn vị tính: triệu đồng
Năm
Tổng
doanh
thu
Tín dụng chứng từ Nhờ thu Chuyển tiền
Trị giá % Trị giá % Trị giá %
2008 3341 2372 71% 167 5% 802 24%
2009 3083 2250 73% 62 2% 771 25%

Năm
Tổng KL
thanh toán
L/C
L/C nhập
khẩu
Tỷ lệ
L/C
xuất
khẩu
Tỷ lệ
2008 2372 1374 58% 998 42%
2009 2250 1503 69% 747 31%
2010 4260 3354 79% 906 21%
2011 6326 4745 75% 1581 25%
Nguồn: MB-Hoàng Quốc Việt.
Xét về giá trị kim ngạch nhập khẩu thanh toán bằng L/C qua MB trong
4 năm (từ 2008 đến 2011) theo số liệu thống kê trong bảng 2 ta thấy doanh số
thanh toán hàng hóa nhập khẩu bằng L/C liên tục tăng, cụ thể như sau:
Năm 2010 doanh số thanh toán hàng hóa nhập khẩu theo L/C tại MB
đạt 3354 triệu đồng, tăng 2.23 lần con số đạt được năm 2009 là 1503 triệu
đồng. Có được kết quả như vậy là do nhu cầu nhập khẩu các mặt hàng chiến
lược, đặc biệt trong lĩnh vực quốc phòng gia tăng. Do đó doanh số thanh toán
hàng hóa nhập khẩu qua L/C tại MB-Hoàng Quốc Việt tăng đột biến bởi các
Nguyễn Đức Ngọc Lớp: NHH- K11
Chuyên đề tốt nghiệp 25
doanh nghiệp thuộc Bộ quốc phòng là khách hàng truyền thống của MB-
Hoàng Quốc Việt. Bên cạnh đó, việc gia tăng đó cũng phần nào do bối cảnh
kinh tế trong nước và thế giới năm 2010. Sự phục hồi của kinh tế thế giới sau
khủng hoảng đã có những tác động tích cực thúc đẩy tăng trưởng kinh tế Việt


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status