biện pháp quản lý đổi mới phương pháp dạy học môn tiếng anh chuyên ngành ở trường cao đẳng sư phạm đà lạt, tỉnh lâm đồng - Pdf 24

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
ĐẠI HỌC HUẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM

TRƯƠNG THỊ HÀ
BIỆN PHÁP QUẢN LÝ ĐỔI MỚI PHƯƠNG PHÁP
DẠY HỌC MƠN TIẾNG ANH CHUN NGÀNH Ở
TRƯỜNG CAO ĐẲNG SƯ PHẠM ĐÀ LẠT, TỈNH
LÂM ĐỒNG
Chun ngành: Quản lý giáo dục
Mã số: 16 14 05
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ GIÁO
DỤC
Người hướng dẫn khoa học:
TS. TRẦN VĂN HIẾU
i
Hueá, Naêm 2013
ii
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của
riêng tôi, các số liệu và kết quả nghiên cứu nêu trong luận
văn là trung thực và chưa từng được công bố trong bất kỳ
một công trình nào khác.
Tác giả
TRƯƠNG THỊ HÀ
iii
Lời Cảm Ơn
Với tình cảm chân thành, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến Khoa
Tâm lý - Giáo dục, Phòng Sau Đại học Trường Đại học Sư Phạm - Đại học
Huế; Quý Thầy, Cô đã giúp đỡ tôi trong quá trình học tập, nghiên cứu.
Đặc biệt tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến Tiến sỹ Trần Văn Hiếu,

1.2.4. Đổi mới phương pháp dạy học 14
1.2.5. Quản lý việc đổi mới phương pháp dạy học 15
1.3. Lý luận của việc đổi mới phương pháp dạy học môn tiếng anh chuyên
ngành ở trường Đại học, Cao đẳng 15
1.3.1. Vị trí, vai trò của môn tiếng Anh trong trường Đại học, Cao đẳng
15
1.3.1.1. Tiếng Anh là môn văn hóa 15
1.3.1.2. Tiếng Anh là công cụ giao tiếp Quốc tế 16
1.3.1.3. Tiếng Anh góp phần phát triển tư duy 16
1.3.1.4. Môn tiếng Anh góp phần hình thành và phát triển nhân cách
của sinh viên 17
1.3.2. Sự cần thiết đổi mới phương pháp dạy học môn tiếng Anh 17
1.3.3. Nội dung đổi mới PPDH tiếng Anh ở trường Đại học- Cao Đẳng18
1.4. Hiệu trưởng và vấn đề quản lý đổi mới phương pháp dạy học môn
tiếng Anh ở trường Cao đẳng 21
1.4.1. Vị trí, chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn của Hiệu trưởng trường
Cao đẳng 21
1.4.1.1. Vị trí của Hiệu trưởng trường Cao đẳng 21
Hiệu trưởng là người đứng đầu đơn vị, được Nhà nước giao nhiệm vụ và
quyền hạn điều hành mọi hoạt động trong nhà trường. Do đó, Hiệu
trưởng phải là người có đủ phẩm chất đạo đức, chính trị và năng lực
chuyên môn, có tài quản lý, thông minh, nhạy bén để đưa nhà trường đi
lên và đạt nhiều thành tích 21
1
Người Hiệu trưởng phải là người có tri thức khoa học, có óc tổ chức, có
kỹ năng quản lý con người và công việc để thực hiện những chủ trương,
đường lối GD thông qua nội dung, PP và hình thức tổ chức GD phù hợp.
22
1.4.1.2. Chức năng của Hiệu trưởng 22
Theo tài liệu của UNESCO, công tác quản lý có bốn chức năng. Đó là kế

và là vấn ngang giải chưa được giải quyết ở các trường ĐH – CĐ của cả
nước và trở thành mối quan tâm lớn trong công tác quản lý nhà trường
nói chung quản lý việc dổi mới PPDH nói riêng của Hiệu trưởng 24
Từ vị trí và yêu cầu mới đối với người học hiện nay, mục tiêu quản lý
việc quản lý việc đổi mới PPDH môn tiếng Anh của Hiệu trưởng là làm
sao nâng cao chất lượng dạy và học tiếng Anh 24
2
Mục tiêu quản lý đổi mới PPDH môn tiếng Anh là những chỉ tiêu được
đảm bảo cho mọi hoạt động đổi mới PPDH được kết quả. Chẳng hạn,
những quy định đối với GV dạy tiếng Anh là biết sử dụng thông thạo các
loại phương tiện nghe nhìn, giao tiếp được bằng tiếng Anh, tiếp cận các
PPDH mới, luôn vận dụng sáng tạo các thủ thuật dạy học, biết kích
thích, biết động viên SV… 24
Đối với SV, bước đầu, ham thích học môn này, giờ học ngoại ngữ thật sự
là giờ học nhẹ nhàng, thoải mái, SV sôi nổi luyện tập, thực hành giao
tiếp, biết tìm tòi, sáng tạo, tự tin, không nhút nhát… 24
Hoạt động của nhà trường rất phức tạp và đa dạng: người Hiệu trưởng
phải chịu trách nhiệm về toàn bộ các công việc từ lớn đến nhỏ, từ chiến
lược đến chiến thuật. Để giúp người Hiệu trưởng biết cách tập trung vào
các mũi nhọn quan trọng chủ yếu trong quá trình quản lý việc đổi mới
PPDH môn tiếng Anh cần xác định rõ những mục tiêu cơ bản sau đây: 25
Đảm bảo chất lượng của quá trình dạy học môn tiếng Anh: Tổ chức thực
hiện kế hoạch dạy học hợp lý; tổ chức và quản lý việc đổi mới PPDH của
GV tiếng Anh như thường xuyên kiểm tra đánh giá giờ dạy GV theo
đúng tinh thần chỉ đạo đổi mới PPDH ngoại ngữ của Bộ GD&ĐT; tổ
chức các buổi hội thảo về PPDH mới; khuyến khích, động viên GV tích
cực tự học , tự bồi dưỡng các kỹ năng sư phạm cần thiết để dạy tiếng
Anh hiệu quả hơn, chất lượng hơn, đối với SV, Hiệu trưởng cũng cần có
kế hoạch quản lý quá trình học tập của các em thông qua trợ lý chủ
nhiệm để có kế hoạch điều chỉnh kế hoạch điều chỉnh, giúp đỡ kịp thời.

các chuyên đề, sáng kiến kinh nghiệm dạy học, tổ chức sinh hoạt, trao
đổi kinh nghiệm dạy học. Vì vậy quản lý hoạt động tổ chuyên môn là
nội dung đầu tiên và quan trọng nhất trong quản lý việc đổi mới PPDH.
26
Quản lý hoạt động tổ chuyên môn, trước hết cần cụ thể các chủ trương
về đổi mới PPDH của các cấp quản lý thành quy định nội bộ để tổ chức
thực hiện. Để thuận lợi trong việc theo dõi và chỉ đạo, Hiệu trưởng cần
giao trách nhiệm cho Phó hiệu trưởng, Phòng đào tạo nghiên cứu khoa
học, tổ trưởng chuyên môn với những yêu cầu cụ thể và có khả năng
thực hiện được. Tránh đưa ra những yêu cầu quá cao, quá khó, vượt khỏi
khả năng của GV 26
Để quản lý tốt hoạt động chuyên môn của tổ tiếng Anh, bản thân người
Hiệu trưởng cần có vốn hiểu biết tiếng Anh nhất định nhằm hỗ trợ tốt
cho công tác thanh tra. Hiệu trưởng có nhất chỉ đạo cho tổ chuyên môn
xây dựng kế hoạch đổi mới PPDH cho từng năm học, cụ thể hóa các yêu
cầu cần thiết xuyên suốt cả năm học. Ngoài ra, Hiệu trưởng phải phân
công các Phó hiệu trưởng và Phòng đào tạo có kế hoạch dự sinh hoạt các
buổi để theo các buổi sinh hoạt tổ để theo dõi kiểm tra và đánh giá các
mặt hoạt động của tổ được chính xác 26
Một trong những nội dung quản lý việc đổi mới PPDH của tổ tiếng Anh
là Hiệu trưởng luôn khuyến khích động viện GV tăng cường tảo luận sâu
sắc các vấn đề khó khăn trong lúc thực hiện đổi mới dạy học ở các buổi
sinh hoạt tổ; yêu cầu tổ trưởng luôn đổi mới nội dung sinh hoạt tổ để làm
phong phú nội dung sinh hoạt tổ 26
1.4.3. Những yếu tố ảnh hưởng đến quá trình quản lý việc đổi mới
phương pháp dạy học môn tiếng Anh chuyên ngành ở Trường ĐH- CĐ.
28
TIỂU KẾT CHƯƠNG 1 31
Chương 2 32
THỰC TRẠNG QUẢN LÝ VIỆC ĐỔI MỚI PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC

Chương 3 52
CÁC BIỆN PHÁP QUẢN LÝ ĐÔỈ MỚI PHƯƠNG PHÁP 52
DẠY HỌC MÔN TIẾNG ANH CHUYÊN NGÀNH Ở TRƯỜNG 52
CAO ĐẲNG SƯ PHẠM ĐÀ LẠT 52
3.1. Những định hướng xác lập biện pháp 52
3.1.1. Mục tiêu dạy học môn tiếng Anh chuyên ngành ở trường Cao đẳng
sư phạm Đà Lạt 52
3.1.2. Những chủ trương về đổi mới phương pháp dạy học 53
3.2. Các nguyên tắc xác lập biện pháp 53
3.3. Các biện pháp 54
3.3.1. Biện pháp 1: Nâng cao nhận thức về đổi mới PPDH môn tiếng
Anh cho GV bộ môn và Sinh viên 54
3.3.1.1. Mục đích của biện pháp 54
3.3.1.2. Nội dung và tổ chức thực hiện 54
3.3.2. Biện pháp 2: Phát huy vai trò của Tổ chuyên môn Tiếng Anh trong
việc đổi mới PPDH 56
3.3.2.1. Mục tiêu của biện pháp 56
3.3.2.2. Nội dung và tổ chức thực hiện 56
5
3.3.3. Biện pháp 3: Đẩy mạnh hoạt động đổi mới PP giảng dạy của GV
tiếng Anh 59
3.3.3.1. Mục tiêu của biện pháp 59
3.3.3.2. Nội dung và tổ chức thực hiện 59
3.2.4. Biện pháp 4: Tăng cường hoạt động đổi mới PP học tập môn tiếng
Anh của SV 63
3.2.4.1. Mục tiêu của biện pháp 63
3.2.4.2. Nội dung và tổ chức thực hiện 63
3.3.5. Biện pháp 5: Tổ chức tốt công tác bồi dưỡng nâng cao năng lực
đổi mới phương pháp dạy học cho đội ngũ GV tiếng Anh 65
3.3.5.1. Mục tiêu của biện pháp 65

PPGD : Phương pháp giáo dục
SGK : Sách giáo khoa
TB : Trung bình
TBDH : Thiết bị dạy học
7
DANH MỤC BẢNG BIỂU
Bảng 2.2. Phân loại đánh giá và số điểm trung bình thang đo 4 mức 34
Bảng 2.3. Nhận thức về sự cần thiết đổi mới PPDH môn tiếng Anh 35
Bảng 2.4. Thực trạng đổi mới PPDH của GV tiếng Anh 36
Bảng 2.5. Thực trạng học tập môn tiếng Anh của SV Trường CĐSP Đà Lạt.39
Bảng 2.5. Thực trạng quản lý hoạt động đổi mới PPDH môn tiếng Anh của
GV 41
Bảng 2.7. Thực trạng quản lý hoạt động đổi mới PPDH của tổ chuyên môn
tiếng Anh ở trường CĐSP Đà Lạt 41
Bảng 2.8. Công tác bồi dưỡng GV tiếng Anh về kỹ năng sử dụng PPDH mới
43
Bảng 2.9. Công tác quản lý việc đổi mới PP học tập môn tiếng Anh của SV 45
Bảng 2.11. Thực trạng quản lý các điều kiện hỗ trợ đổi mới PPDH 47
Bảng 3.0. Tổng hợp kết quả về tính hợp lý và tính khả thi của biện pháp 72
8
Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA QUẢN LÝ ĐỔI MỚI PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC
MÔN TIẾNG ANH Ở TRƯỜNG ĐẠI HỌC – CAO ĐẲNG
1.1. Khái quát lịch sử nghiên cứu vấn đề
Dạy học là hoạt động lao động xã hội xuất hiện từ lúc con người có nhu cầu
truyền lại cho thế hệ sau những kinh nghiệm của thế hệ trước. Quản lý ra đời khi có
sự phân công lao động xã hội. Quản lý phương pháp dạy học (PPDH) là một quá
trình đặc thù, hình thành và phát triển cùng với sự hình thành và phát triển của hoạt
động dạy học.
Đổi mới PPDH và quản lý việc đổi mới PPDH hiện nay là một vấn đề cấp

Những chuyển biến tích cực trong mọi mặt đời sống kinh tế, văn hóa, xã hội
từ sau Đại hội VI của Đảng Cộng sản Việt Nam đã thổi một luồng sinh khí vào
công tác nghiên cứu, đổi mới PPDH tại Việt Nam. Nhiều khía cạnh của PPDH,
nhiều biện pháp, kiến nghị được đưa ra nhằm chấn hưng nền giáo dục nước nhà. Đó
là các tác giả: Trần Bá Hoành, Đổ Đình Hoan, Phan Trọng Luận, Trần Kiều,
Nguyễn Kỳ, Nguyễn Cảnh Toàn, Hồ Ngọc Đại, Vũ Trọng Rỹ, Lê Đức Phúc, Hà
Nhật Thăng, Hoàng Đức Nhuận, Nguyễn Sinh Huy … Thái Duy Tuyên vừa cho in
tác phẩm “Phương pháp dạy học - truyền thống và đổi mới” mà theo ông, là “tác
phẩm để lại cho đời sau” đã hệ thống hóa hầu như toàn bộ những vấn đề có liên
quan đến PPDH.
Nhiều luận văn Thạc sỹ giáo dục học tại Đại học Huế đã góp phần đáng kể vào việc
nghiên cứu và đổi mới PPDH, quản lý việc đổi mới PPDH. Đó là những luận
văn của tác giả: Nguyễn Hữu Quốc (2008) [27]: “Biện pháp quản lý của Hiệu
trưởng về việc đổi mới PPDH môn tiếng Anh trung học phổ thông tỉnh Tây
Ninh”.Trần Thị Phương (2007): “Biện pháp quản lý việc đổi mới PPDH môn
tiếng Anh của Hiệu trưởng các trường trung học cơ sở trên địa bàn thị xã Tây
Ninh, tỉnh Tây Ninh” [28].
Ở nước ta, quản lý nói chung, quản lý giáo dục (QLGD) nói riêng được quan
tâm nghiên cứu bởi nhiều tác giả như Mai Hữu Khuê: Lý luận về quản lý nhà nước;
Nguyễn Thị Mỹ Lộc: có nhiều đề tài được bảo vệ cấp bộ về quản lý giáo dục; Hồ
Văn Liên: cơ sở pháp lý trong giáo dục và quản lý giáo dục.Tuy nhiên việc nghiên
cứu công tác quản lý đổi mới PPDH chưa được nghiên cứu đúng mức. GS. TSKH
10
Thái Duy Tuyên là người nghiên cứu tương đối toàn diện các vấn đề quản lý việc
đổi mới PPDH trong giai đoạn hiện nay.
Hiện nay, ở Lâm Đồng, do yêu cầu nâng cao chất lượng dạy và học môn
tiếng Anh, việc đổi mới PPDH tiếng Anh đang được quan tâm và đòi hỏi có những
biện pháp quản lý cụ thể. Tuy nhiên cho đến nay vẫn chưa có một công trình nghiên
cứu nào đáp ứng nhu cầu này. Do đó, chúng tôi cho rằng việc nghiên cứu thực
trạng, xác lập các biện pháp quản lý việc đổi mới PPDH môn tiếng Anh tại Trường

tiêu giáo dục của hệ thống một cách tối ưu trong điều kiện cụ thể của hệ thống.
1.2.2. Quản lý nhà trường
Tác giả Đặng Quốc Bảo cho rằng: “Quản lý nhà trường là quản lý một thiết
chế vừa có tính sư phạm vừa có tính kinh tế. Các vấn đề tổ chức - sư phạm và kinh
tế - xã hội lồng ghép vào nhau” [5, tr.35].
Theo Phạm Minh Hạc: “Quản lý nhà trường là thực hiện đường lối giáo dục
của Đảng trong phạm vi trách nhiệm của mình tức là đưa nhà trường vận hành theo
nguyên lý giáo dục để tiến tới mục tiêu giáo dục, mục tiêu đào tạo đối với ngành
giáo dục, với thế hệ trẻ và từng HS - SV” [19, tr.66].
“Quản lý, lãnh đạo nhà trường là quản lý lãnh đạo hoạt động của giảng viên,
hoạt động của HS - SV, hoạt động phục vụ dạy và học của cán bộ, nhân viên trong
nhà trường” [22, tr.33].
Vậy, có thể hiểu quản lý nhà trường thực chất là sự tác động có định hướng,
có kế hoạch của chủ thể quản lý lên tất cả các nguồn lực nhằm đẩy mạnh hoạt động
của nhà trường theo nguyên lý giáo dục để tiến tới mục tiêu giảng dạy.
1.2.3. Phương pháp dạy học
Thuật ngữ “phương pháp” bắt nguồn từ tiếng Hy Lạp (methodos) có nghĩa là
con đường để đạt mục đích. Theo đó, phương pháp dạy học (PPDH )là con đường
để đạt mục đích dạy học.
“PPDH là những hình thức cách thức hoạt động của giảng viên và HS, SV
trong những điều kiện dạy học xác định nhằm đạt mục đích dạy học. PPDH là
những hình thức và cách thức thông quá đó và bằng cách đó giảng viên và HS, SV
lĩnh hội những hiện thực tự nhiên và xã hội xung quanh trong những điều kiện học
tập cụ thể” [23, tr.29].
12
“Phương pháp dạy học là hệ thống những cách thức hoạt động chung thống
nhất của giảng viên và HS, SV nhằm thực hiện tốt những mục đích và nhiệm vụ dạy
học đã xác định” [23, tr.75].
GS. TSKH Thái Duy Tuyên cho rằng PPDH “có thể tóm tắt trong ba dạng cơ
bản sau đây: theo quan điểm điều khiển học, phương pháp là cách thức tổ chức hoạt

Hoạt động dạy học ngoại ngữ ở các trường ĐH, CĐ là hoạt động có mục
đích, chương trình, kế hoạch, nội dung, phương pháp dạy học cụ thể nhằm giúp cho
sinh viên nhận thức và có thể vận dụng chủ động, tự giác học ngoại ngữ như một
ngôn ngữ giao tiếp.
Chúng ta có thể hiểu PPDH là cách thức hoạt động của giảng viên trong việc
chỉ đạo, tổ chức các hoạt động học tập nhằm giúp HS, SV chủ động chiếm lĩnh tri
thức để đạt được mục tiêu dạy học.
1.2.4. Đổi mới phương pháp dạy học
Một trong những trọng tâm của đổi mới chương trình và sách giáo khoa là
đổi mới PPDH. Phát huy tính tích cực của HS, SV trong học tập không phải là vấn
đề mới mà đã đặt ra đối với ngành giáo dục của nước ta từ những năm 60 của thế kỷ
20. Nhưng cho đến nay, sự đổi mới về PPDH trong các trường ĐH, CĐ vẫn chưa
đạt kết quả cao. Phổ biến nhất vẫn là cách dạy thông báo kiến thức, dạy học thụ
động, sách vở, thầy đóng vai trò chủ động truyền đạt kiến thức một chiều; học sinh,
sinh viên không chủ động tìm tòi, tự phát hiện tri thức mới. Với PPDH như thế
không còn phù hợp với xu thế phát triển của thời đại cho nên cần đổi mới PPDH.
“Đổi mới PPDH luôn đặt trong mối quan hệ với đổi mới mục tiêu, nội dung
dạy học, đổi mới cơ sở vật chất (CSVC) và thiết bị dạy học (TBDH); đổi mới các
hình thức tổ chức dạy học để phù hợp giữa dạy học cá nhân và các nhóm nhỏ hoặc
cả lớp, giữa dạy học trong phòng học và ngoài hiện trường; đổi mới môi trường
giảng dạy để học tập gắn với thực hành và vận dụng; đổi mới cách đánh giá kết quả
học tập của HS, SV qua đổi mới nội dung, hình thức kiểm tra, xây dựng các bộ
công cụ đánh giá, phối hợp kiểu đánh giá với cách trắc nghiệm khách quan bảo đảm
đánh giá khách quan, trung thực mức độ đạt được mục tiêu giáo dục của từng HS -
SV” [12, tr.7,8].
Tác giả Thái Duy Tuyên cho rằng: “khi nói đến đổi mới PPDH phải nhìn
nhận vấn đề một cách rộng rãi và linh hoạt theo ba hướng: phát triển năng lực nội
14
sinh của người học; đổi mới quan hệ thày trò và đưa công nghệ hiện đại vào nhà
trường” [34, tr.444].

bản và năng lực thực hiện công tác chuyên môn". Do vậy, hoạt động dạy học ở các
trường ĐH,CĐ là giúp cho sinh viên có kiến thức chuyên môn và kĩ năng thực hành
cơ bản về một ngành nghề, có khả năng giải quyết những vấn đề thông thường
thuộc chuyên ngành đào tạo, phát triển năng lực và phẩm chất trí tuệ, đặc biệt là
trong tư duy nghề nghiệp.
Chương trình, giáo trình, kế hoạch giảng dạy học tập đối với ngành nghề
được phép đào tạo do các trường ĐH, CĐ được quyền tự chủ và tự chịu trách nhiệm
xây dựng. Mục tiêu đào tạo được xác định trên cơ sở phân tích hoạt động nghề và
yêu cầu thực tiễn. Vì vậy chương trình đào tạo được xây dựng trên cơ sở mục tiêu
đào tạo đáp ứng mục tiêu đào tạo.
Như vậy để đạt được mục tiêu đào tạo đòi hỏi giảng viên hội đủ kiến thức đại
cương, kiến thức cơ sở, chuyên môn ngành và kĩ năng thực hành của các nghề trong
ngành đồng thời phải có kiến thức và kĩ năng sư phạm. Trong quá trình giảng dạy và
đào tạo giảng viên phải trang bị cho sinh viên hệ thống kiến thức chuẩn của môn học
cần phải nắm vững, giúp họ tự học, tự tìm tòi và tự kiểm tra nhận thức của mình, tự
mở rộng kiến thức qua các tài liệu tham khảo, giúp sinh viên tự tổ chức học nhóm,
học tổ, trao đổi thảo luận và giải quyết vấn đề nhằm đạt mục tiêu đào tạo.
1.3.1.2. Tiếng Anh là công cụ giao tiếp Quốc tế
Người ta thống kê được là có tới 2/3 các tạp chí, các đài phát thanh truyền hình,
các chương trình máy tính, các loại sách báo khoa học … được viết bằng tiếng Anh.
Trong xu thế toàn cầu hóa hiện nay thì việc nắm vững tiếng Anh còn có ý nghĩa hết sức
đặc biệt. “Tiếng Anh là một ngôn ngữ quan trọng cần nắm vững (…) bởi vì nó cung
cấp cho chúng ta cách tiếp cận với học thuật và thương mại thế giới” [6, tr.9].
Sinh viên biết tiếng Anh sẽ có cách tự học, tự nghiên cứu nhằm nâng cao và mở
rộng tầm hiểu biết của mình bằng việc tiếp xúc, tìm hiểu những tri thức tiên tiến, khoa
học, hiện đại trên thế giới thông qua mạng internet, sách báo, chuyên gia …
1.3.1.3. Tiếng Anh góp phần phát triển tư duy
Trong quá trình học tập tiếng Anh, khả năng tư duy lôgic của sinh viên (SV)
dần dần được phát triển và hoàn thiện thông qua cách trình bày, diễn đạt và lập luận
các cấu trúc ngôn ngữ. Ai cũng biết rằng ngôn ngữ gắn bó rất mật thiết và hữu cơ

Nhìn chung, học sinh sau 3 năm học tiếng Anh ở trường trung học phổ
thông vẫn không có khả năng giao tiếp. Giảng viên còn lúng túng, không định
hướng rõ ràng là cần đổi mới cái gì, đổi mới như thế nào để đáp ứng đúng yêu cầu;
17
việc kiểm tra, thi cữ vẫn theo lối cũ, chưa khuyến khích cách học sáng tạo của sinh
viên; phương tiện, thiết bị dạy học còn quá nghèo nàn, không thuận tiện cho việc
đổi mới PPDH.
Mục tiêu dạy học môn tiếng Anh hiện nay là làm cho sinh viên nắm được các
kiến thức ngôn ngữ và trong đợt kiểm tra cần bám sát vào nội dung mà chuẩn châu
Âu đã đề ra. Để đạt được những yêu cầu trên, sinh viên cần phải được trang bị cách
thức học tiếng Anh và ý thức tự học, tự rèn luyện vì người học là chủ thể, nếu
không biết cách tự học thì sẽ không thể nắm vững tiếng nước ngoài.
Tiêu chí cơ bản của phương pháp dạy học mới là hoạt động tự lập, tích cực,
chủ động của sinh viên trong việc giải quyết các nhiệm vụ giao tiếp bằng ngoại ngữ.
Tiêu chí chủ yếu để đánh giá kết quả học tập của sinh viên là năng lực giao tiếp,
năng lực ứng xử bằng ngoại ngữ trong các tình huống giao tiếp cụ thể.
Từ những yêu cầu trên, chúng tôi cho rằng đổi mới PPDH tiếng Anh ở
trường ĐH, CĐ hiện nay là rất cần thiết và mang tính cấp bách.
1.3.3. Nội dung đổi mới PPDH tiếng Anh ở trường Đại học- Cao Đẳng
Giáo dục ĐH hiện nay đang có sự đổi mới mạnh mẽ về nội dung chương
trình và phương pháp dạy học theo hướng hiện đại hóa, tiếp cận trình độ của các
nước trong khu vực và trên thế giới. Vì vậy, việc lựa chọn phương pháp dạy học sao
cho phù hợp với môn học, nội dung chương trình, đối tượng đào tạo của từng cơ sở
đào tạo là rất quan trọng. Nghị quyết TW 2 khoá VIII đã chỉ rõ: “Đổi mới mạnh mẽ
phương pháp giảng dạy - đào tạo, khắc phục lối truyền thụ một chiều, rèn luyện
thành nếp tư duy sáng tạo của người học. Từng bước áp dụng các phương pháp tiên
tiến và phương tiện hiện đại vào quá trình dạy - học, đảm bảo điều kiện và thời gian
tự học, tự nghiên cứu cho học sinh, nhất là sinh viên ĐH…” [14].
Theo tác giả Phan Thế Sủng: “Đổi mới giáo dục nói chung, phương pháp dạy
học nói riêng là qui luật phát triển tất yếu của thời đại và của mỗi quốc gia trên

chủ động của sinh viên, sinh viên không còn là người thụ động tiếp thu các kiến
thức ngôn ngữ mà phải được tham gia tích cực vào các hoạt động luyện tập ngôn
ngữ, giảm thiểu tối đa thời gian nói trên lớp của giảng viên, tăng thời gian sử dụng
ngôn ngữ cho sinh viên, dạy theo phương pháp gợi mở: giảng viên chỉ gợi mở và
dẫn dắt để học sinh tự tìm ra lời giải đáp hoặc con đường đi của mình; huy động tất
cả các kiến thức sẵn có về văn hóa, xã hội cũng như ngôn ngữ của sinh viên trong
luyện tập ngôn ngữ; có thái độ tích cực với lỗi ngôn ngữ của sinh viên: chấp nhận
19
lỗi như một tất yếu trong quá trình dạy học ngoại ngữ, giúp sinh viên học tập được
từ chính lỗi của bản thân và bạn bè; không chỉ chú ý đến sản phẩm cuối cùng của
bài luyện tập (product) mà còn chú trọng đến cả quá trình (process) luyện tập và
phương pháp học của sinh viên.
* Thực hiện đầy đủ quy trình 3 bước của giờ lên lớp:
Giờ lên lớp trong mỗi kỹ năng: nghe,nói,đọc,viết được thực hiện trên cơ sở
một quy trình 3 bước gồm: giới thiệu, luyện tập và vận dụng. Quy trình đó có thể
được mô tả trong quy trình sau:
Presentation  practice  performance (production).
Bước giới thiệu: giảng viên giới thiệu tình huống của bài nghe, bài nói, bài
viết hay bài đọc; giới thiêu từ, cấu trúc mới và xác định nhiệm vụ, thời gian sinh
viên cần thực hiện.
Bước luyện tập: sinh viên thực hiện các bài tập khai thác bài nghe, nói, đọc
và viết bắt đầu bằng các bài tập có hướng dẫn đến các bài tập mở, tự do hơn.
Bước vận dụng: sinh viên được khuyến khích sử dụng các kiến thức ngôn
ngữ vừa học trong những tình huống giao tiếp mới hoặc kết hợp nhiều kiến thức
ngôn ngữ đã học với nhau.
* Tổ chức cho sinh viên học tập, làm việc theo cặp, nhóm cũng là yêu cầu bắt
buộc trong việc đổi mới phương pháp dạy học của giảng viên. Hình thức học tập theo
cặp, nhóm là hình thức dạy học mang tính hợp tác, tương tác cao. “Các hình thức tổ
chức giáo dục phải bảo đảm cân đối, hài hòa giữa dạy học các môn học và hoạt động
giáo dục; giữa dạy học theo lớp, nhóm và cá nhân … tạo điều kiện phát triển năng lực

đầy đủ và đúng phương pháp, là nền tảng cơ bản cho sinh viên giao tiếp thành công
theo mục tiêu chương trình đã được xác định.
1.4. Hiệu trưởng và vấn đề quản lý đổi mới phương pháp dạy học môn tiếng
Anh ở trường Cao đẳng
1.4.1. Vị trí, chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn của Hiệu trưởng trường
Cao đẳng
1.4.1.1. Vị trí của Hiệu trưởng trường Cao đẳng
Hiệu trưởng là người đứng đầu đơn vị, được Nhà nước giao nhiệm vụ và
quyền hạn điều hành mọi hoạt động trong nhà trường. Do đó, Hiệu trưởng phải là
người có đủ phẩm chất đạo đức, chính trị và năng lực chuyên môn, có tài quản lý,
thông minh, nhạy bén để đưa nhà trường đi lên và đạt nhiều thành tích.
21

Trích đoạn Đánh giá chung về thực trạng Mục tiêu dạy học mơn tiếng Anh chuyên ngàn hở trường Cao đẳng Nội dung và tổ chức thực hiện Mục tiêu của biện pháp Biện pháp 5: Tổ chức tốt cơng tác bồi dưỡng nâng cao năng lực
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status