Thực trạng về quản lý giảng dạy tiếng anh tại ngoại ngữ trường cao đẳng sư phạm Bình Dương - Pdf 25


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP. HỒ CHÍ MINH PHAN NGUYỄN HỒNG DIỄM

Chuyên ngành : Quản lý giáo dục
Mã số : 60 14 05 LUẬN VĂN THẠC SĨ GIÁO DỤC HỌC


dục – Khoá 15, đã quan tâm giúp đỡ, động viên tác giả tron
g suốt khoá học.

Mặc dù đã rất cố gắng, song vẫn không tránh khỏi những thiếu sót, rất mong Quý Thầy, Cô và
các Anh, Chị đồng nghiệp tận tình đóng góp ý kiến thêm.

Bình Dương, tháng 07 năm 2007
PHAN NGUYỄN HỒNG DIỄM
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT - CĐSP BD
: Cao đẳng Sư phạm Bình Dương
- CSVC : cơ sở vật chất
- TBDH : thiết bị dạy học
- Ths : Thạc sĩ
- TS : Tiến sĩ
- ĐVHT : đơn vị học trình
- GD & ĐT : giáo dục và đào tạo
- SV : sinh viên
- SVC : sinh viên chuyên

toàn diện, đảm bảo chất lượng. Để thực hiện mục tiêu này thì công tác quản lý giáo dục và đào tạo m
à
cụ thể là quản lý việc dạy học là một trong những vấn đề quan trọng được quan tâm. Vì quản lý giáo
dục và đào tạo chính là quản lý việc thực hiện các chủ trương chính sách giáo dục quốc gia, nâng cao
hiệu quả đầu tư cho giáo dục, chú ý thực hiện các mục tiêu giáo dục, nâng ca
o chất lượng giáo dục.
Đặc biệt quản lý giáo dục và đào tạo được coi là khâu then chốt nhằm bảo đảm thắng lợi của mọi hoạt
động giáo dục.
Ngày nay quá trình toàn cầu hoá đang đặt ra cho giáo dục nước ta những thách thức lớn, trong
đó việc dạy và học ngoại ngữ giữ vị trí và vai trò quan trọng. Ngoại ngữ là một công cụ giao tiếp, là
phương tiện để thực hiện đẩy mạnh hợp tác quốc tế.
Việc dạy và học ngoại ngữ được Đảng và Nhà nước ta qua
n tâm và đầu tư từ nhiều năm nay. Ở
các trường phổ thông, trung học chuyên nghiệp, cao đẳng và đại học ngoại ngữ trở thành một trong
những môn không thể thiếu trong chương trình. Tại các trường cao đẳng, đại học, bên cạnh các ngành
chuyên ngữ, ngoại ngữ không chuyên được đưa vào giảng dạy cho các ngành khoa học khác. ngoại
ngữ được các giáo viên và sinh viên sử dụng như phương tiện học tập và nghiên cứu trong lĩnh vực
chuyên môn của m
ình.
Trong những năm qua, trường Cao đẳng Sư phạm Bình Dương đã đào tạo hàng ngàn sinh viên
có trình độ cử nhân đáp ứng phần nào nhu cầu nguồn nhân lực cho tỉnh nhà. Tuy nhiên, sinh viên

chuyên sau khi ra trường vẫn còn một số chưa đáp ứng được nhu cầu giảng dạy, những sinh viên lớp
không chuyên ngữ thì chưa sử dụng được tiếng Anh.
Để góp phần khắc phục tình trạng trên, việc nghiên cứu đề tài “Thực trạng về quản lý giảng dạy
tiếng Anh tại khoa ngoại ngữ trường Cao đẳng Sư phạm Bình Dương” là một việc hết sức thiết thực.
Qua c
ông trình nghiên cứu này chúng tôi muốn làm rõ thực trạng công tác quản lý của hiệu trưởng,
trưởng khoa ngoại ngữ về nội dung, chương trình, phương pháp giảng dạy bộ môn tiếng Anh, công tác
giảng dạy của giáo viên khoa ngoại ngữ, kết quả học tập của sinh viên… trường Cao đẳng Sư phạm

và địa bàn nghiên cứu
6.1. Phạm vi nghiên cứu:
Chỉ nghiên cứu về quản lý giảng dạy tiếng Anh ở khoa ngoại ngữ trường Cao đẳng Sư phạm
Bình Dương.

6.2. Địa bàn nghiên cứu:
- Khoa ngoại ngữ trường Cao đẳng Sư phạm Bình Dương.
- Sinh viên năm I, II của trường CĐSP BD
7. Phương pháp nghi
ên cứu
7.1. Phương pháp nghiên cứu tài liệu nhằm xây dựng tổng luận nghiên cứu:
Thu thập tài liệu, nghiên cứu, phân tích, tổng hợp những tài liệu lý luận về những nội dung có
liên quan đến đề tài.
7.2. Phương pháp điều tra bằng phiếu.
Nhằm làm rõ thực trạng giảng dạy tiếng Anh với các mẫu điều tra ở các đối tượng là cán bộ
quản lý, giáo viên, sinh viên. Kết quả được xử ý bằng t
oán thống kê được tiến hành như sau:
- Thống kê các kết quả của bảng trưng cầu ý kiến, xử lý thô
- Thống tần số, tính tỉ lệ phần trăm
- Tính chi bình phương (X
2
), độ tự do (df) để tính mức xác suất (p). Nếu p< 0,05 thì có sự khác
biệt ý nghĩa thống kê về các khách thể đối với đối tượng; nếu p> 0,05 thì không có sự khác biệt ý nghĩa
thống kê về các khách thể đối với đối tượng.
7.3. Ngoài hai phương pháp trên còn sử dụng phương pháp quan sát, phỏng vấn:
Tiếp cận và thu thập dữ liệu thực tế về công tác quản lý giảng dạy tại khoa ngoại ngữ trường
Cao đẳng Sư phạm Bình
Dương.
Trao đổi trực tiếp với cán bộ quản lý của trường, của khoa, giáo viên trong khoa hoặc sinh viên
để có thêm những thông tin cần thiết liên quan đến đề tài.

khoa không chuyên ngữ, đưa ra một số biện pháp để khắc phục những yếu kém
.
Tài liệu hội thảo 2 “ Đổi mới phương pháp dạy học môn tiếng Anh trong các trường Đại học –
Cao đẳng đào tạo giáo viên trung học cơ sở”, của Dự án đào tạo giáo viên trung học cơ sở, năm 2003,
đã đề cập đến vai trò của ngoại ngữ, thực trạng của dạy và học ngoại ngữ hiện nay và giải pháp, đổi
mới phương pháp giảng dạy và cá
ch kiểm tra đánh giá.
“Giảng dạy tiếng Anh tại trường Đại học Kiến trúc Hà nội”, tác giả Nguyễn Thị Ánh Tuyết đã
khái quát về những khó khăn và tồn tại trong giảng dạy tiếng Anh, nguyên nhân của những tồn tại đó
chủ yếu đề cập đến trình độ giáo viên và cơ hội học tập, giao tiếp của giáo viên còn hạn chế.
Trong kỷ yếu hội thảo khoa học do trường Đại học Sư phạm Th
ành Phố Hồ Chí Minh tổ chức
vào tháng 11/2005, có nhiều bài tham luận nêu lên thực trạng giảng dạy ngoại ngữ không chuyên,
những thuận lợi cũng như những khó khăn từ việc giảng dạy của giáo viên và học tập của học sinh.
Một số bài tham luận như:
“Phấn đấu giảng dạy đạt yêu cầu của ngoại ngữ không chuyên trong các trường Đại học”, T
S.
Vũ Văn Thành, Trường Đại học Sư phạm Hà Nội.
“Hướng tới nâng cao năng lực ngoại ngữ cho học sinh không chuyên”, Trần Thị Nga, Đại học
Quốc gia Hà Nội.

“Việc dạy và học ngoại ngữ cho sinh viên không chuyên ngữ ở trường đại học Hải Phòng”, Ths.
Lê Thị Hồng, Trường Đại học Hải Phòng.
“Thách thức và triển vọng của giảng dạy ngoại ngữ tại các trường Đại học không chuyên ngữ ở
Việt Nam” Đào Thị Tạo, Trường Đại học kiến trúc Hà Nội.
“Thực trạng và giải pháp dạy học ngoại ngữ không chuyên ở Thanh Hoá và trường Đại học
Hồng Đức”, Ths. Phạm Văn Chủ.
“Một số ý kiến về việc dạy học tiếng Anh như là một ngoại ngữ không chuyên”, Ths. Lý Thị
Mỹ Hạnh, Trường Đại học Sư phạm T
hành Phố Hồ Chí Minh.


1.2. CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VẤN ĐỀ NGHI
ÊN CỨU
1.2.1. Nhìn từ góc độ quản lý
1.2.1.1. Quản lý.
* Quản lý: Thuật ngữ “Quản lý” (Tiếng Việt gốc Hán) lột tả được bản chất của hoạt động này
trong thực tiễn. Nó bao gồm hai quá trình tích hợp vào nhau, quá trình “Quản” gồm coi sóc, giữ gìn,
duy trì ở trạng thái “ổn định”, quá trình “Lý” gồm sự sửa sang, sắp xếp, đổi mới hệ, đưa hệ vào thế
“phát triển”. Nếu người đứng đầu tổ chức chỉ lấy việc “Quản” làm chính thì tổ chức dễ trì trệ, ngược
lại chỉ quan tâm
đến việc “Lý” thì sự phát triển của tổ chức không bền vững.
Người quản lý phải luôn xác định và phối hợp tốt, sao cho trong “Quản” phải có “Lý” và trong
“Lý” phải có “Quản”, làm cho trạng thái của hệ thống luôn ở trạng thái cân bằng động. Vậy quản lý

chính là quá trình giữ gìn sự ổn định để phát triển và sự phát triển phải tạo ra được sự ổn định của hệ.
Quản lý là hoạt động tất yếu nảy sinh khi có lao động chung của nhiều người, cùng theo đuổi
một mục đích. Quản lý là dạng hoạt động đặc thù (lao động đặc thù) của con người và là một thuộc
tính có trong xã hội ở bất cứ trình độ phát triển nào. Kể từ xã
hội nguyên thuỷ, lao động chung nhiều
người là săn bắn, hái lượm, cũng đã cần có sự quản lý, cho đến khi nền kinh tế tri thức vẫn cần phải có
sự quản lý.
Khi xã hội phát triển, lao động quản lý tách khỏi lao động trực tiếp và đã trở thành nghề quản lý.
Nghề quản lý tuy tách thành hai bộ phận:Quản lý và lao động trực tiếp, song nó có liên quan mật thiết
với nhau, không tách rời nhau, hai bộ phận này tạo thà
nh hệ xã hội chung toàn vẹn. Hệ có sự quản lý
trong đó gồm có hai bộ phận: Bộ phận quản lý và bộ phận bị quản lý. Bộ phận quản lý hay còn gọi là
chủ thể quản lý, bộ phận bị quản lý hay còn gọi là khách thể quản lý. Đã có nhiều tác giả đưa ra khái
niệm quản lý và theo nhiều cách tiếp cận khác nhau:
Theo tác giả Hà Sỹ Hồ, nếu như ở tầm vĩ mô
, nói đến quản lý xã hội thì “Quản lý là sự tác động

pháp hoạt động cụ thể. Đồng thời quản lý cũng mang tính nghệ thuật, vì nó vận dụng một cách sáng
tạo trên những điều kiện cụ thể trong sự kết hợp và tác động nhiều mặt của các yếu tố khác nhau trong
xã hội.

Ta có thể hiểu bản chất của hoạt động quản lý là sự phối hợp các nổ lực của con người thông
qua việc thực hiện các chức năng quản lý trong giáo dục. Hoạt động quản lý là tác động của nhà quản
lý giáo dục đến tập thể giáo viên, học sinh và các lực lượng giáo dục khác nhau trong xã hội, nhằm
thực hiện các hệ thống
mục tiêu quản lý giáo dục. Mặc dù có nhiều quan niệm
khác nhau về quản lý song có thể hiểu quản lý
là những hoạt động mang tính tổ chức, điều khiển của chủ thể quản lý đến khách thể quản lý, nhằm
thực hiện có hiệu quả mục tiêu mà tổ chức đã đề ra.
* Các chức năng quản lý:
Theo tác giả Nguyễn Ngọc Quang “Chức năng quản lý là một dạng hoạt động quản lý, thông
qua đó chủ thể quản lý tác động vào khách t
hể quản lý nhằm thực hiện mục tiêu nhất định” [38].
Chức năng của quản lý là hình thức biểu hiện sự tác động có chủ đích của chủ thể quản lý lên
đối tượng quản lý. Đó là tập hợp những nhiệm vụ khác nhau mà chủ thể quản lý phải tiến hành trong
quá trình quản lý. Thực chất các chức năng quản lý chính là do sự tồn tại các hoạt động quản l
ý. Ta có
thể hiểu chức năng quản lý là một nội dung cơ bản của quá trình quản lý, là nhiệm vụ không thể thiếu
được của chủ thể quản lý. Nhiều công trình nghiên cứu về khoa học quản lý, tuy chưa thống nhất và có
khá nhiều chức năng, nhưng về cơ bản đều thống nhất quản lý có bốn chức năng cơ bản, liên quan mật

thiết với nhau: Kế hoạch hoá, tổ chức chỉ đạo, kiểm tra và thông tin vừa là phương tiện, vừa là điều
kiện thực hiện các chức năng quản lý.
- Kế hoạch
hoá: Căn cứ vào thực trạng ban đầu của tổ chức và các chức năng được giao mà xây
dựng quyết định về mục tiêu, chương trình hành động và bước đi cụ thể trong một thời gian nhất định
của một hệ thống quản lý hay xác định được mục tiêu của tổ chức, các biện pháp, các điều kiện cho tổ

Mối quan hệ giữa các chức năng quản lý và hệ thống thông tin được biểu diễn bằng sơ đồ chu
trình quản lý như sau:

Kế hoạch
Tổ chức Kiểm tra
Chỉ đạo
Thông tin Sơ đồ 1.1: Các chức năng quản lý trong c
hu trình quản lý [35]
1.2.1.2. Quản lý giáo dục
Chúng ta đã biết quản lý là một dạng tất yếu nảy sinh khi có lao động chung của nhiều người
cùng theo đuổi một mục tiêu. Vậy đương nhiên hoạt động giáo dục cũng cần được quản lý đó là:
Quản lý giáo dục. Giáo dục là một bộ phận của xã hội, nên quản lý giáo dục là một loại hình quản
lý xã hội. Quản lý xã
hội là tác động có ý thức của chủ thể quản lý tới khách thể quản lý hoặc
những bộ phận của nó, trên cơ sở nhận thức và vận dụng những quy luật khách quan của đối tượng,
nhằm đảm bảo cho nó vận động và phát triển hợp lý để đạt được mục tiêu đã định. Có nhiều tác giả
đưa ra các quan niệm khác nhau về quản lý giáo dục:
Theo tác giả Nguyễn Ngọc Quang “ Quản lý giáo dục là hệ thống những tác động c
ó mục
đích, có kế hoạch, hợp quy luật của chủ thể quản lý (hệ giáo dục), nhằm làm cho hệ vận hành theo
đường lối và nguyên lý giáo dục của Đảng, thực hiện được tính chất của nhà trường xã hội chủ
nghĩa Việt Nam mà điểm hội tụ là quá trình dạy học giáo dục thế hệ trẻ, đưa hệ giáo dục tới mục
tiêu dự kiến, tiến lên trạng thái mới về chất” [38]

Theo tác giả Đỗ Hoàng Toàn “ Quản lý giáo dục là tập hợp những biện pháp tổ chức, phương
pháp giáo dục, kế hoạch hoá tài chính, cung tiêu…, nhằm đảm bảo sự vận hành bình thường của
các cơ quan trong hệ thống giáo dục, đảm bảo sự tiếp tục phát triển và mở rộng hệ thống cả về mặt

p của người học và ngược lại. Nói cách khác hoạt động
dạy chế ước hoạt động học và ngược lại, cho nên quản lý dạy học là quản lý đồng thời các hoạt
động của giáo viên và học sinh. Mặt khác đứng ở góc độ quản lý, tuy mọi tác động quản lý của hiệu
trưởng đều đến với học sinh (vị trí trung tâm của quá trình dạy học), nhưng mọi tác động đó trước
hết được đến với giáo viên, vì lẽ đó quản lý dạy học trước hết là quản lý khâu chủ yếu của quá
trình
dạy học (hoạt động giảng dạy của giáo viên).
Yêu cầu của quản lý dạy học là phải quản lý các thành tố cấu trúc của quá trình dạy học, nhưng
trước hết các thành tố đó sẽ phát huy tác dụng thông qua qui trình hoạt động của người dạy một
cách đồng bộ, hài hoà
, hợp quy luật, đúng nguyên tắc dạy học. Qui trình đó có tính tuần hoàn và
được bắt đầu từ khâu soạn bài, tiếp đó là giảng bài và tạm thời kết thúc ở khâu đánh giá kết quả.
Cho nên quản lý dạy học là quản lý các khâu soạn bài, giảng bài và đánh giá kết quả dạy học của
giáo viên. Quản lý dạy học được thông qua công tác quản lý của đội ngũ cán bộ quản lý, tổ chuyê
n
môn, đội ngũ giáo viên chủ nhiệm lớp và ban cán sự lớp.
** Tổ trưởng chuyên môn có nhiệm vụ xây dựng kế hoạch dạy học của tổ, giám sát kế hoạch
của tổ viên, tổ chức kiểm tra, đánh giá chất lượng dạy học và đề xuất khen thưởng, kỷ luật đối với

giáo viên. Tổ trưởng hành chính có nhiệm vụ tổ chức công tác hành chính, văn thư, kế toán, thủ
quỹ, thư viện, thí nghiệm, y tế học đường, bảo vệ, … để phục vụ hoạt động giáo dục.
** Giáo viên chủ nhiệm lớp có ảnh hưởng trực tiếp về quyền uy, đạo đức và tâm lý tới học sinh,
đồng thời là nhân tố chủ yếu để cộng tác với cha mẹ học sinh, phối hợp với giáo viê
n bộ môn, các
đoàn thể và tổ chức xã hội nhằm góp phần thực hiện mục đích giáo dục và dạy học.
** Ban cán sự lớp trực tiếp nắm bắt tình hình của người học, đại diện phát biểu các nhu cầu và
nguyện vọng của người học và thường là hạt nhân của các tổ chức đoàn thể của người học, có trách
nhiệm tổ chức triển khai các hoạt động của tập thể người học nhằm đạt đư
ợc mục đích dạy học.
Hoạt động của ba lực lượng trên có ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động dạy học và quản lý hoạt

có được nhờ hoạt động quản lý của chủ thể quản lý.

Bằng các căn cứ ở trên cho thấy mối qua
n hệ giữa quản lý dạy học và hoạt động dạy học là: Chủ
thể dạy học đặt ra yêu cầu cho chủ thể quản lý là phải tạo ra các phương tiện thực hiện mục đích
dạy học để họ cộng tác tối ưu trong việc phát huy các yếu tố chủ quan nhằm quản lý và tự quản l
ý
dạy học. Cụ thể là họ cần có được hệ thống: Chế định Giáo dục và Đào tạo hoàn chỉnh, bộ máy tổ
chức và nhân lực dạy học có chất lượng cao, nguồn tài lực và vật lực dạy học đầy đủ và hiện đại, có
được môi trường dạy học thuận lợi và có đầy đủ thông tin giáo dục nói chung và thông tin dạy học
nói riêng. Chủ thể quản lý dạy học vừa có t
rách nhiệm tạo ra các phương tiện thực hiện mục đích
dạy học và vừa phải coi chúng là các phương tiện quản lý của chính mình để sử dụng trong quản lý
hoạt động dạy học.
Có thể mô tả trực quan mối quan hệ giữa quản lý dạy học với hoạt động dạy học bằng sơ đồ sau:
Mục đích dạy học

(Từng bước hoàn thành nhân cách người học)
Yếu tố
chủ quan:
năng lực
và phẩm
chất người
dạy

Bộ máy

tổ chức
và nhân
lực dạy
học
Nguồn
tài lực
và vật
lực dạy
học
Môi
trường
dạy học
Hệ
thống
thông
tin dạy
học
luôn gắn bó mật thiết với nhau, tồn tại cho nhau và vì nhau.
* Hoạt động dạy của thầy:
Là truyền thụ tri thức, tổ chức, điều khiển hoạt động chiếm lĩnh tri thức của học sinh, giúp học
sinh nắm được kiến thức, hình thành kỹ năng, thái độ. Hoạt động dạy có c
hức năng kép là truyền đạt và
điều khiển nội dung học theo chương trình qui định. Có thể hiểu hoạt động dạy là quá trình hoạt động
sư phạm của thầy, làm nhiệm vụ truyền thụ tri thức, tổ chức, điều khiển hoạt động nhận thức của học
sinh.
* H
oạt động học của học sinh:
Là quá trình tự điều khiển chiếm lĩnh khái niệm khoa học, học sinh tự giác, tích cực dưới sự
điều khiển của thầy nhằm chiếm lĩnh khái niệm khoa học. Hoạt động học cũng có chức năng kép là
lĩnh hội và tự điều khiển quá trình chiếm lĩnh khái niệm
khoa học một cách tự giác, tích cực nhằm biến
tri thức của nhân loại thành học vấn của bản thân. Có thể hiểu hoạt động học của học sinh là quá trình
lĩnh hội tri thức, hình thành những hệ thống kỹ năng, kỹ xảo, vận dụng kiến thức vào thực tiễn và hoàn
thiện nhân cách của bản thân. Hai hoạt động dạy và học có mối quan hệ chặt chẽ với nhau, tồn tại song
song và phát triển trong cùng một
quá trình thống nhất, chúng bổ sung cho nhau, kết quả hoạt động của
học sinh không thể tách rời kết quả của hoạt động dạy của thầy và kết quả hoạt động dạy của thầy
không thể tách rời kết quả học tập của học sinh.

1.2.2.2. Quá trình dạy học:
* Khái niệm quá trình dạy học: có nhiều tác giả đưa ra các khái niệm về quá trình dạy học khác
nhau:
Theo tác giả Hà Thế Ngữ - Đặng Vũ Hoạt: “ Quá trình dạy học là một quá trình bộ phận, một
phương tiện để trau dồi học vấn, phát triển năng lực và giáo dục phẩm chất, nhân cách thông qua sự tác
động qua lại giữa người dạy và người học, nhằm truyền thụ và lĩnh hội một cách có hệ thống những tr
i
thức khoa học, những kỹ năng, kỹ xảo, nhận thức và thực hành”[34]


Cộng tác
HỌC
Lĩnh hội
Tự điều
khiển
Điều khiển
Truyền đạt
DẠY
KHÁI NIỆM KHOA HỌC Sơ đồ 1.3 Cấu trúc c
hức năng của quá trình dạy học [40]
* Bản chất của quá trình dạy học:
“Bản chất của quá trình dạy học là sự thống nhất biện chứng của dạy và học, nó được thực hiện
trong nhà trường bằng sự tương tác có tính chất cộng đồng và hợp tác giữa dạy và học, tuân theo lô gíc
khách quan của nội dung dạy học. Muốn dạy tốt thì giáo viên phải xuất phát từ khái niệm
khoa học,
xây dựng công nghệ dạy học, tổ chức tối ưu các hoạt động cộng tác của dạy và học, thực hiện các chức
năng kép của dạy cũng như của học, đồng thời đảm bảo liên hệ nghịch thường xuyên, bền vững”[40]
Dạy là công việc của giáo viên bao gồm các hoạt động tổ chức, thiết kế, chỉ đạo, điều khiển việc
lĩnh hội kiến thức, hì
nh thành hệ thống kỹ năng, kỹ xảo, hướng dẫn học sinh cách thức, phương pháp
tiếp thu, lĩnh hội kiến thức. Bản chất của việc dạy là quá trình tổ chức cho học sinh nhận thức, là quá
trình giúp học sinh chiếm lĩnh tri thức, hình thành và phát triển nhân cách.
Học là hoạt động học tập của học sinh nhằm thu nhận tri thức. Bản chất của hoạt động học là

ên và xã hội).
Mối liên hệ này được thể hiện bằng sơ đồ sau:

Mục tiêu dạy học

Môi trường
tự nhiên

Môi trường
xã hội
Phương pháp dạy học
Phương tiện dạy học
Lực lượng dạy học
Hình thức tổ chức dạy học
Kết quả dạy học

Sơ đồ 1.4: Mối quan hệ giữa các thành tố cấu trúc của quá trình dạy học [
6]

Sự tác động qua lại của các thành tố cấu trúc của quá trình dạy học, nhất là sự cộng tác tối ưu
giữa thầy và trò trong quá trình dạy học ở trên, ta có thể thấy r

- Giáo viên cần cố gắng tạo mọi cơ hội để sinh viên có thể sử dụng ngôn ngữ đang học một
cách có nghĩa thông qua các hoạt động cả lớp, nhóm tổ và các hoạt động khác. Cần hướng sinh viên
vào việc dùng thứ tiếng đang học làm phương tiện giao tiếp trên lớp học. Giao tiếp bằng tiếng nước
ngoài giữa giáo viên và sinh viên, giữa sinh viên và sinh viên là điều kiện quan trọng để nâng cao trình
độ tiếng Anh của sinh viên. Cũng nên sử dụng kết hợp tiếng Việt khi cần thiết.
- Giáo viên cần tạo
đều kiện cho sinh viên mở mang kiến thức, tiếp xúc với việc sử dụng ngoại ngữ dạy học một cách tự
nhiên. Cần tạo điều kiện để sinh viên có cơ hội diễn đạt ý kiến cá nhân của mình bằng ngoại ngữ.
1.2.4. Quản lý giảng dạy bộ môn tiếng Anh
* Q
uản lý nội dung chương trình
Quản lý giảng dạy bộ môn tiếng Anh cũng dựa trên cơ sở khoa học của lý luận quản lý và lý
luận dạy học nói chung. Song ở bộ môn tiếng Anh đặc biệt phải quản lý giảng viên và sinh viên thực
hiện tốt bốn kỹ năng: Nghe (Listening), Nói (Speaking), Đọc (Reading), Viết (Writing). Bốn kỹ năng
này phải được thực hiện trong QL chương trình giảng dạy, giáo trình, lên lớp, kiểm tra,v.v…

- Trong QL nội dung chương trình người QL cần chú ý nguyên tắc điều chỉnh nội dung là
thực hiện giảm tải (mối quan hệ giữa lượng tri thức và thời gian), tôn trọng tính hệ thống, đảm bảo sự
ổn định, đảm bảo sự nhất quán và không trùng lặp. Như vậy cần chỉ đạo sao cho người dạy thống nhất
được việc chọn lọc các tri thức thiết thực và đảm bảo tí
nh phổ thông (toàn diện) vừa đảm bảo được tính
thích ứng của nội dung (cái mà người học, cộng đồng và xã hội đang cần). Từ đó định ra được nội
dung nào phải biết, nội dung nào cần biết và nội dung nào có thể biết.
- Việc lựa chọn nội dung theo quan điểm chủ điểm và cần đảm bảo các nguyên tắc sau đây:
+ Ngữ cảnh hoá. Các chủ điểm với nội dung ngôn ngữ của chúng cần phải đư
ợc đặt trong
ngữ cảnh để sinh viên có thể thực hiện các hoạt động giao tiếp gần giống với đời sống thực.
+ Bảo đảm tính phù hợp. Các chủ điểm được lựa chọn đưa vào chương trình cần phải phù
hợp với mối quan tâm, kiến thức nền, sở thích cũng như năng lực thực hành tiếng của sinh viê
n. Các

học; kế hoạch dạy học của từng môn, khối lớp (thời lượng dạy của môn học, bài học, hình thức dạy
học, kiểm tra, đánh giá,..). Không giống với những môn học khác, môn tiếng Anh đòi hỏi GV phải rèn
luyện bốn kỹ năng cho SV và yêu cầu cần đạt được đối với các kỹ năng như sau:

+ Nghe (Listening): SV nghe hiểu được đại bộ phận nội dung thông tin, dữ kiện, phân biệt
được đúng sai, nghe được thông tin cần thiết, … thuộc nội dung của ngôn bản với vốn từ vựng được tái
tạo từ ngữ liệu đã học. GV phải có bước chuẩn bị cho SV trước khi nghe, trong khi nghe cần có những
câu hỏi gợi mở để định hướng cho SV, sau khi nghe có bài tập mở rộng như thảo luận xung quanh vấn
đề nghe đư
ợc, đóng vai thực hành lại những đoạn hội thoại chẳng hạn (Speaking), bình luận bằng
những bài viết (Writing),…
+ Nói (Speaking): yêu cầu SV phải diễn đạt được các nhu cầu giao tiếp về các lĩnh vực thuộc
đời sống hàng ngày, giao tiếp xã hội, thuật lại một sự việc, miêu tả,… từ đơn giản đến phức tạp. Để
người đối thoại hiểu được mình chính xác thì SV phải sử dụng đúng từ, ngữ pháp,…với nhiều “chiến
lược” giao tiếp thích hợp với hoàn cảnh và chủ điểm. GV cần lưu ý sửa cách phát âm (pronunciation),
cũng như các lỗi khác như thì (tenses), cấu trúc câu (structures) mà SV mắc phải khi nói.
+ Đọc (Reading): Có thể hiểu đư
ợc đại bộ phận thông tin, dữ kiện của các văn bản đến hiểu
đầy đủ các ý chính, ý phụ dưới nhiều dạng văn bản khác nhau,… GV phải hướng dẫn S
V cách đọc từ
đọc lướt lấy thông tin nhanh đến đọc tìm chi tiết…các cấu trúc ngữ pháp phức tạp, đoán ý qua ngữ
cảnh… GV lấy thông tin phản hồi từ SV như cho SV viết tóm tắt (Writing), hoặc thảo luận
(Speaking),…
+ Viết (Writing): Có thể viết để đáp ứng các nhu cầu giao tiếp thiết yếu về các vấn đề cá
nhân, xã hội. Có thể ghi chép, mô tả sự kiện, sự việc, miêu tả, tường thuật,… bằng văn phong phù hợp
và đúng ngữ ph
áp. GV hướng dẫn SV viết với những cấu trúc, hình thái, cú pháp từ đơn giản đến phức
tạp, lưu ý lối diễn đạt, khắc phục cách viết dịch từ tiếng mẹ đẻ.
Như vậy dạy tiếng Anh không chỉ dạy đơn lẻ một kỹ năng nào mà có sự liên kết các kỹ năng
với nhau. Vì vậy người QL cần chú ý đặc trưng nà

+ Các báo cáo của tổ chuyên môn về tình hình dạy trên lớp: thực hiện chương trình, nền nếp,
số tiết giảng dạy, điểm kiểm tra…
* Quản lý cơ sở vật chất, thiết bị dạy học
- Cơ sở vật chất và thiết bị dạy học đư
ợc hiểu là những phương tiện vật chất, kỹ thuật và sản
phẩm khoa học – công nghệ được huy động và sử dụng để đạt tới mục đích của hoạt động giáo dục
trong trường học.
- Cơ sở vật chất và thiết bị dạy học đóng vai một thành tố cơ bản trong cấu trúc của quá trình
giáo dục nói chung và quá trình dạy học nói riêng. Thành tố này có nội dung quan trọng như các thành
tố nội dung, chương trình, phương phá
p, hình thức tổ chức, lực lượng giáo dục và môi trường giáo dục,
… đồng thời có tác động tương hỗ đến các thành tố cấu trúc khác của quá trình giáo dục để đạt tới mục
đích giáo dục tổng thể (nhân cách người học).
- Cơ sở vật chất và thiết bị dạy học đóng vai một trong những điều kiện mang tính tất yếu để
các lực lượng giáo dục trong nhà
trường (trong đó chủ yếu là người dạy và người học) thực hiện các
nhiệm vụ và chức năng của họ.
- Ở góc độ lý luận quản lý thì cơ sở vật chất và thiết bị dạy học đóng vai là một phương tiện
thực hiện mục đích quản lý; cơ sở vật chất và thiết bị dạy học đóng vai một trong những trụ cột cơ bản
của quản l
ý để chủ thể quản lý dựa vào nó mà thực hiện các chức năng cơ bản của quản lý (kế hoạch
hoá, tổ chức chỉ đạo và kiểm tra); cơ sở vật chất và thiết bị dạy học đóng vai phương tiện để kết nối các

hoạt động trong nhà trường với nhau và kết nối các hoạt động của trường với các cơ quan hữu quan
ngoài trường.
- Cơ sở vật chất và thiết bị dạy học là một bộ phận không thể thiếu được để thực hiện nội
dung và các phương pháp dạy học. Bởi vì cơ sở vật chất và thiết bị dạy học đã tự thân chứa đựng một
phần nội dung giáo dục - dạy học và có tác dụng giúp cho người dạy, người học lựa chọn và cải tiến
các phương phá
p dạy học, thực hiện mục đích giáo dục - dạy học.

hực hiện đổi mới, chuẩn hoá và hiện đại hoá cơ sở vật chất và thiết bị dạy học và tìm
cách biến ý tưởng đó thành hiện thực.
+ Am hiểu mục tiêu, chương trình, nội dung, kế hoạch giáo dục - dạy học và biết chính xác
tính năng, tác dụng, nguyên tắc vận hành, tuổi thọ, cách phối hợp, … từng loại cơ sở vật chất, thiết bị

dạy học để tổ chức và điều hành các lực lượng giáo dục thực hiện được nội dung, chương trình và kế
hoạch đó nhằm đạt tới mục đích giáo dục; đồng thời chỉ ra được những biện pháp xây dựng, mua sắm.
trang bị, sử dụng, bảo quản và thanh lý, … cơ sở vật chất và thiết bị dạy học.
+ Biết tập trung mọi tiềm năng của nhà trường, của cộng đồng và xã hội vào việc tăng cường
cơ sở vật chất và thiết bị dạy học nhằm
nâng cao chất lượng và hiệu quả giáo dục.
+ Cập nhật được các tiến bộ khoa học kỹ thuật vào việc chế tạo, sử dụng cơ sở vật chất và
thiết bị dạy học nhằm đáp ứng kịp thời sự nghiệp phát triển giáo dục nói
chung và phát triển nhà
trường nói riêng.
* Quản lý cách kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của sinh viên.
Việc đánh giá kết quả học tập của SV không chỉ là cơ sở để phân loại SV mà còn có vai trò
quan trọng trong việc xác định chất lượng đào tạo, giúp việc điều chỉnh nội dung, chương trình,
phương pháp và hình thức tổ chức dạy học phù hợp hơn nhằm
làm cho việc đào tạo đảm bảo tính cập
nhật, đáp ứng được các yêu cầu ngày càng cao của nền sản xuất xã hội, nhất là trong giai đoạn công
nghiệp hoá, hiện đại hoá hiện nay. Việc kiểm tra, đánh giá tri thức, sự nhận thức của sinh viên không
chỉ nhằm mục đích kiểm tra kết quả lĩnh hội các kiến thức đơn thuần về nội dung mà còn kiểm tra các
kiến t
hức về phương pháp, vì quá trình học của SV là học phương pháp, học cách thức để tạo cho mình
có năng lực tiếp nhận nghề nghiệp trong tương lai.
Việc đánh giá kết quả học tập của SV có thể thông qua các đề bài thi, bài kiểm tra, tiểu
luận… Yêu cầu chung khi ra đề thi, đề kiểm tra, không nên đưa những dạng đề học thuộc lòng, mang
tính thụ động mà cần chú trọng những dạng đề phát triển tính tư duy,
tính độc lập, sáng tạo của SV


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status