ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
o0o LÊ THỊ NGỌC ĐIỆP CÁC ĐƠN VỊ NGÔN NGỮ TRONG SÁCH GIÁO KHOA
MÔN TIẾNG VIỆT BẬC TIỂU HỌC Ở VIỆT NAM
(SO SÁNH VỚI SÁCH GIÁO KHOA MÔN TIẾNG ANH
CÙNG BẬC Ở SINGAPORE) LUẬN ÁN TIẾN SĨ NGỮ VĂN
Chun ngành: Ngơn ngữ học so sánh đối chiếu
Mã số: 62.22.01.10 Tập thể hướng dẫn khoa học:
1. TS. Đỗ Thị Bích Lài
2. TS. Huỳnh Thị Hồng Hạnh
Phản biện độc lập:
1. GS.TS. Lê Quang Thiêm
2. TS. Huỳnh Cơng Tín
Phản biện 1: GS.TS. Nguyễn Văn Hiệp
Phản biện 2: PGS.TS. Trịnh Sâm
QUY ƯỚC TRÌNH BÀY 1. Tài liệu trích dẫn được ghi theo số thứ tự tương ứng của nó trong phần danh mục
Tài liệu tham khảo và được đặt trong dấu ngoặc vuông ngay sau phần có liên
quan, sau dấu phẩy là số trang, ví dụ [17, tr.7]. Nếu đoạn trích dẫn nằm ở hai
trang liên tục thì giữa hai số trang sẽ có dấu gạch ngang, ví dụ: [17, tr.26 - 27].
Thông tin đầy đủ về tài liệu trích dẫn được ghi trong mục Tài liệu tham khảo đặt
cuối luận án (trước phần Danh mục công trình của tác giả).
2. Các trích dẫn trực tiếp được đặt trong dấu ngoặc kép. Các khái niệm, những ví dụ
minh họa trích từ SGK và một số chi tiết cần nhấn mạnh được in nghiêng. Phần
dịch sang tiếng Việt những trích dẫn và ví dụ bằng tiếng nước ngoài được đặt
trong dấu ngoặc ( ).
3. Trong luận án có một số từ ngữ được lặp lại nhiều lần, chúng tôi viết tắt theo quy
ước sau:
3.1. Trong các chương nội dung:
- SGK : sách giáo khoa
- TV : Tiếng Việt
-TV1: sách Tiếng Việt lớp 1
- T : tập
- tr. : trang
- 1A: quyển 1A
Ví dụ: + TV1 T1, tr.19 (sách Tiếng Việt lớp 1, tập 1, trang 19)
+ English 1A, tr.14 (sách English, quyển 1A, trang 14)
3.2. Trong phần tài liệu tham khảo:
- NXB: Nhà xuất bản
- ĐH: Đại học
- KHXH: Khoa học xã hội
- SP: Sư phạm
- GD: Giáo dục
MỞ ĐẦU………………………………………………………………… Trang 1
0.1. Lí do chọn đề tài 1
0.2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu…………………………………………… 3
0.3. Lịch sử vấn đề 4
0.4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 12
0.5. Phương pháp nghiên cứu và nguồn ngữ liệu 14
0.6.Ý nghĩa khoa học và thực tiễn 17
0.7. Bố cục của luận án 17
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ THỤ ĐẮC NGÔN NGỮ VÀ NGÔN NGỮ
TRONG SGK BẬC TIỂU HỌC 19
1.1. Thụ đắc ngôn ngữ trong giáo dục ngôn ngữ 19
1.1.1. Vấn đề ngôn ngữ SGK và thụ đắc ngôn ngữ 19
1.1.1.1. Một số quan điểm về thụ đắc ngôn ngữ 19
1.1.1.2. Vai trò của ngôn ngữ SGK trong thụ đắc ngôn ngữ 22
1.1.1.3. Những nhân tố tác động đến thụ đắc ngôn ngữ 24
1.1.2. Về một số khái niệm liên quan đến thụ đắc ngôn ngữ 26
1.1.3. Tâm lí học, giáo dục học, ngữ dụng học và ngữ nghĩa học liên quan
đến thụ đắc ngôn ngữ 28
1.1.3.1. Tâm lí học 28
1.1.3.2. Giáo dục học 29
1.1.3.3. Ngữ dụng học và ngôn ngữ trong SGK 30
1.1.3.4. Ngữ nghĩa học và ngôn ngữ trong SGK 33
1.1.4. Nhận xét 34
1.2. Về các khái niệm liên quan đến đơn vị ngôn ngữ 35
1.2.1. Cơ sở lí thuyết về các đơn vị ngôn ngữ 35
1.2.2. Những đơn vị ngôn ngữ ở bậc ngữ âm trong SGK 36
-v-
2.2.1.2. Việc phân tích từ ngữ trong SGK 75
2.2.2. Mô tả và phân tích từ ngữ trong SGK 77
2.2.2.1. Từ ngữ xét về cấu tạo 77
2.2.2.2. Từ ngữ xét theo nguồn gốc 88
2.2.2.3. Từ ngữ xét theo phạm vi sử dụng 94
2.2.2.4. Ngữ cố định 98
2.3. Tiểu kết 102
CHƯƠNG 3: CÁC ĐƠN VỊ NGỮ, CÂU VÀ VĂN BẢN TRONG SGK
MÔN TIẾNG VIỆT BẬC TIỂU HỌC 104
3.1. Ngữ trong SGK môn Tiếng Việt tiểu học 105
3.1.1. Yêu cầu thụ đắc đơn vị ngữ trong SGK 105
3.1.2. Mô tả và nhận xét đơn vị ngữ trong SGK 105
3.1.2.1. Về động ngữ ……………………………… …105
3.1.2.2. Về danh ngữ ……………………………… …107
3.1.2.3. Về tính ngữ ……………………………… …108
3.2. Câu trong SGK môn Tiếng Việt tiểu học 109
3.2.1. Về yêu cầu thụ đắc đơn vị câu trong SGK 109
3.2.2. Mô tả và nhận xét các loại câu xét theo góc độ cấu tạo 111
3.2.2.1. Về câu đơn không có trạng ngữ 112
3.2.2.2. Về câu đơn có trạng ngữ 115
3.2.2.3. Về câu ghép đẳng lập 117
3.2.2.4. Về câu ghép chính phụ 118
3.2.2.5. Về câu đặc biệt 119
3.2.3. Mô tả và nhận xét các loại câu xét theo mục đích phát ngôn 120
3.2.3.1. Về câu tường thuật ……………………………………………….121
3.2.3.2. Về câu nghi vấn………………………………………………… 123
3.2.3.3. Về câu cảm thán ………………………………………………….125
3.2.3.4. Về câu mệnh lệnh…………………………………………………126
4.2. So sánh việc sử dụng các đơn vị ngôn ngữ trong SGK…………………….165
4.2.1. Nhận xét chung 165
-viii-
4.2.2. Nhận xét về việc sử dụng hệ thống âm vị…………………………… 165
4.2.3. Nhận xét về việc sử dụng các đơn vị từ……………………………… 166
4.2.4. Nhận xét về việc sử dụng đơn vị ngữ……………………………… 168
4.2.5. Nhận xét về việc sử dụng đơn vị câu.……………………………… 168
4.2.6. Nhận xét về việc sử dụng văn bản….……………………………… 169
4.3. Một số ý kiến có tính chất trao đổi về việc chỉnh lí, biên soạn SGK ………171
4.3.1. Về hệ thống âm vị…………………………….……………………… 171
4.3.2. Về từ…………………………………….…………………………… 171
4.3.3. Về câu……………………………………………………………… 173
4.3.4. Về văn bản………………………….……………………………… 174
4.4. Tiểu kết 175
KẾT LUẬN 177
TÀI LIỆU THAM KHẢO 184
DANH MỤC CÔNG TRÌNH CỦA TÁC GIẢ 196
-1-
MỞ ĐẦU
0.1. LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Để chuẩn bị nguồn nhân lực đáp ứng sự phát triển của kinh tế công nghiệp,
kinh tế tri thức và xu thế toàn cầu hóa mạnh mẽ trong những năm đầu thế kỉ XXI, từ
đầu những năm 90 của thế kỉ XX đến nay, nhiều quốc gia đã rà soát và đổi mới
chương trình giáo dục theo bốn trụ cột của giáo dục thế kỉ XXI do UNESCO đề
xướng là: học để biết, học để làm, học để cùng chung sống, học để tự khẳng định
mình.
có công trình nào nghiên cứu một cách có hệ thống và toàn diện vấn đề ngôn ngữ để
từ đó có những kiến nghị về việc chỉnh lí, biên soạn mới SGK hay khẳng định tính
khoa học, tính hiện đại về ngôn ngữ của bộ sách hiện hành. Vì vậy, luận án của
chúng tôi đi sâu vào phân tích các đơn vị ngôn ngữ được sử dụng trong SGK môn
Tiếng Việt bậc tiểu học (viết tắt là SGK Tiếng Việt) để có nhận xét cụ thể về tính
hợp lí, tính khoa học, tính dân tộc và tính quốc tế của bộ sách này. Đồng thời, thông
qua việc khảo sát các văn bản trong SGK, chúng tôi so sánh với nội dung SGK của
một nước khác trong khu vực là Singapore để tìm hiểu về tính tiên tiến, hiện đại,
tính ổn định, thống nhất và kế thừa được thể hiện trong bộ SGK Tiếng Việt ở mức
độ nào nhằm đảm bảo đúng mục tiêu giáo dục tiểu học và phù hợp với lứa tuổi của
học sinh.
Ở Việt Nam, ngôn ngữ được dùng trong giao tiếp xã hội và trong SGK là
tiếng Việt. Tại Singapore có bốn ngôn ngữ chính là tiếng Hoa, tiếng Tamil, tiếng
Melayu và tiếng Anh. Trong số đó, tiếng Anh là ngôn ngữ phổ thông được dạy ở
trường học. SGK bậc tiểu học ở nước này chủ yếu được viết bằng tiếng Anh. Chúng
tôi chọn SGK Singapore vì hiện nay quốc gia này được xem là một trong những
trung tâm của nền giáo dục tiên tiến. Hệ thống trường công lập tại đây nổi tiếng về
chất lượng giảng dạy và học tập. Mặt khác, tuy Việt Nam và Singapore là hai quốc
gia có lịch sử và nền văn hoá khác nhau nhưng vẫn có một số nét tương đồng về vị
trí địa lí, về sản xuất kinh tế. Hệ thống giáo dục phổ thông của Singapore cũng bắt
đầu từ cấp tiểu học. Các môn học ở bậc học này tại Singapore không khác nhiều so
với các môn học ở bậc tiểu học tại Việt Nam.
-3-
Trong phạm vi chuyên ngành Ngôn ngữ học so sánh - đối chiếu, chúng tôi
chọn đề tài nghiên cứu cho luận án của mình là: “Các đơn vị ngôn ngữ trong sách
giáo khoa môn Tiếng Việt bậc tiểu học ở Việt Nam (so sánh với sách giáo khoa
môn Tiếng Anh cùng bậc ở Singapore)”. Trước hết, chúng tôi hướng đến cái nhìn
tổng thể về tính hợp lí, tính khoa học, tính dân tộc và tính quốc tế trong việc sử
dụng tiếng Việt của bộ SGK hiện hành; sau đó đối chiếu với SGK Tiếng Anh của
những điểm tương đồng và khác biệt giữa chúng; làm căn cứ để chúng tôi đưa ra
nhận xét về tính chất, mức độ sử dụng các đơn vị ngôn ngữ trong bộ SGK dành cho
lứa tuổi tiểu học ở hai nước khác nhau. Qua đó, chúng ta sẽ thấy được những nét
phổ quát trong vấn đề biên soạn SGK cũng như những nét đặc thù có tính dân tộc -
văn hoá của mỗi quốc gia.
3/ Trên cơ sở của hai nhiệm vụ này, luận án bước đầu đưa ra một số trao đổi
có tính đề xuất về việc biên soạn, chỉnh lí SGK môn Tiếng Việt bậc tiểu học trong
giai đoạn mới về nội dung ngôn ngữ.
Tuy nhiên, xuất phát từ ý muốn có được một cái nhìn bao quát, nên luận án
chấp nhận cách miêu tả rộng, từ âm vị đến văn bản; dù biết rằng cách tiếp cận như
vậy thật khó lòng có được những đề xuất thật sâu sắc như ý nguyện của chúng tôi.
0.3. LỊCH SỬ VẤN ĐỀ
Từ khi chương trình tiểu học hiện hành còn đang trong thời gian thử
nghiệm (từ năm 1998 đến năm 2001) và triển khai thực hiện đại trà (bắt đầu từ lớp 1)
trong phạm vi cả nước từ năm 2002 đến nay đã có nhiều hội thảo khoa học ở cấp
quốc gia và cấp tỉnh/thành phố. Ở những hội thảo này, người ta đã họp bàn về nội
dung chương trình SGK bậc tiểu học nói chung và SGK Tiếng Việt tiểu học nói
riêng. Đã có rất nhiều bài viết cũng như nhiều công trình nghiên cứu về vấn đề này
được đăng tải trên các tạp chí Ngôn ngữ, Ngôn ngữ và Đời sống, Giáo dục, Giáo
dục Tiểu học, Thế giới trong ta,… Chung quy lại, có những vấn đề như sau được
triển khai nghiên cứu:
-5-
0.3.1. Ý kiến về đặc điểm ngôn ngữ SGK Tiếng Việt tiểu học
Vấn đề dạy tiếng Việt ở bậc tiểu học là một trong những nội dung chính, có tính
thời sự cấp bách hàng đầu ở nước ta hiện nay. Vấn đề đặt ra là làm sao để cung cấp
cho học sinh tiểu học những tri thức và kĩ năng tốt nhất, phù hợp với góc nhìn của
ngôn ngữ học hiện đại, nhằm đáp ứng được mục tiêu giáo dục của môn Tiếng Việt.
Có thể nói đó là vấn đề mà nhiều nhà ngôn ngữ học, nhiều nhà quản lí giáo dục hết
trong trường tiểu học như thế nào cũng đã được đề cập đến. Theo Diệp Quang Ban
[2, tr.64], việc đưa ngữ pháp vào trường học, nhất là bậc tiểu học cần lựa chọn theo
lối phối hợp giữa ngữ pháp miêu tả và ngữ pháp quy định để một mặt vẫn tiếp thu
được các hiện tượng ngôn ngữ mới tích cực, mặt khác tránh được sự tùy tiện trong
cách dùng tiếng nói của học sinh. Cách đặt vấn đề như thế của Diệp Quang Ban, có
lẽ muốn nhấn mạnh đến việc cần lựa chọn các đơn vị ngữ pháp phù hợp với tâm lí
lứa tuổi trong SGK bậc tiểu học.
- Xét về cấu trúc chương trình SGK, Hoàng Hòa Bình [59, tr.34] cho rằng
cần có chương trình thích hợp để tích hợp dạy tiếng với dạy vần, trong đó kiến thức
ngôn ngữ học phải phù hợp với lứa tuổi học sinh tiểu học. Cách đặt vấn đề của tác
giả này cũng giống như Diệp Quang Ban, nhấn mạnh đến tâm lí lứa tuổi khi nhìn
nhận ở bình diện tiếng và vần.
Như vậy, những ý kiến nêu trên đều có chung một hướng nhìn trong việc
biên soạn SGK, tạo điều kiện để học sinh tiếp cận với ngôn ngữ một cách tích cực,
phù hợp với lứa tuổi. Theo cách nhìn đó, ngôn ngữ SGK nói chung và tiếng Việt nói
riêng phải chuẩn mực, được kiểm soát về thời lượng sao cho phù hợp với tâm lí lứa
tuổi tiểu học.
0.3.2. Ý kiến về nội dung chương trình SGK Tiếng Việt bậc tiểu học
Nội dung chương trình SGK Tiếng Việt bậc tiểu học sẽ là một biện pháp
quan trọng để hướng tới việc cung cấp ngôn ngữ phù hợp với lứa tuổi tiểu học. Vì
thế, nó luôn là vấn đề được mọi người quan tâm, bởi đây là bậc học đầu tiên của
chương trình giáo dục phổ thông ở nước ta. Qua các hội thảo và nghiên cứu, chúng
tôi thấy có những vấn đề như sau:
-7-
- Với chủ đề “Cần một nội dung mới cho SGK Tiếng Việt” [58, tr.57], các
thành viên thuộc tiểu ban Tiếng Việt trong nhà trường của Hội Ngôn ngữ học Thành
phố Hồ Chí Minh đã phân tích những mặt hạn chế của những lần thay đổi SGK. Họ
đã đưa ra một số ví dụ về “tình trạng bất lực của SGK đối với việc dạy kĩ năng sử
dụng tiếng Việt cho học sinh và nguyên nhân chủ yếu của tình trạng này”. Các
đến “những khiếm khuyết” của “SGK Tiếng Việt 1” là ở chỗ nào? Những mô tả của
chúng tôi ở chương tiếp theo của luận án hi vọng sẽ góp thêm nội dung trả lời cho
câu hỏi này.
+ Trong bài “Một vài suy nghĩ về phương diện ngữ văn của SGK Tiếng Việt 1,
tập 1” của Nguyễn Thị Hai [46, tr.26], khi đề cập đến sự phân bố các từ ngữ trong
sách Tiếng Việt lớp 1 tập 1, tác giả đã nhận xét: “Về tính đại chúng, quảng bá, các
soạn giả có chú ý. Xem qua cách phân bố các từ ngữ trong cuốn sách, chúng ta hiểu
các tác giả có quan tâm đến đối tượng phục vụ. Đó không chỉ là học sinh thành thị,
nông thôn, đồng bằng, mà cả học sinh miền núi, miền biển; cả học sinh là người
miền Bắc, miền Nam. Song, sự phân bố các từ ngữ phục vụ cho mục đích ấy chưa
thật sự hợp lí. Từ ngữ chỉ các sự vật, các hoạt động thuộc vùng biển quá ít, chỉ có 5
từ ngữ; còn phục vụ cho các đối tượng là người miền Nam, được 10 từ ngữ. Thêm
vào đó, trong sách không hề có một từ ngữ nào chỉ sự vật tiêu biểu hay địa danh tiêu
biểu của miền Trung”. Với nhận xét như thế, tác giả đã chỉ ra sự chưa hợp lí về cách
phân bố các từ ngữ trong sách Tiếng Việt lớp 1 tập 1; đối với các tập sách khác thì
vấn đề này chưa được tác giả đề cập đến.
+ Đi vào chi tiết SGK Tiếng Việt tiểu học, tác giả Lưu Thị Lan [72, tr.4] đã
đề cập đến phép liên kết nối và phép liên kết từ vựng trong các văn bản tập đọc văn
xuôi, sách Tiếng Việt lớp 4, 5 chương trình mới. Nội dung của luận văn tập trung
chủ yếu vào việc xác định các phương tiện nối, phương tiện liên kết từ vựng, các
quan hệ ngữ nghĩa giữa các phương tiện liên kết, đồng thời hệ thống hóa các
phương tiện liên kết được khảo sát thông qua các bài tập đọc văn xuôi trong SGK
Tiếng Việt lớp 4, lớp 5 và khai thác khả năng biểu cảm của chúng, không đi sâu vào
nghiên cứu đơn vị từ vựng và câu trong SGK. Như vậy, đối với tác giả, điều cần
-9-
được quan tâm là những phương thức liên kết ngôn ngữ khi tổ chức nội dung
chương trình của SGK bậc tiểu học.
+ Với đề tài “Khảo sát mạch lạc theo quan hệ thời gian và không gian trong
các bài đọc SGK Tiếng Việt tiểu học”, tác giả Nguyễn Thị Phượng đã phân tích hiện
ngữ. Ở tiểu mục này, chúng tôi xin nêu ra những ghi nhận của các nhà nghiên cứu
về điểm mới của chương trình SGK Tiếng Việt tiểu học hiện hành so với chương
trình SGK Tiếng Việt tiểu học trước đây. Bên cạnh những quan điểm về cấu trúc và
nội dung chương trình SGK Tiếng Việt tiểu học, chúng tôi còn nhận thấy có nhiều ý
kiến khác nhau về những điểm mới của bộ sách hiện đang được sử dụng:
- Nhận định về “Hướng thay đổi của môn Tiếng Việt trong chương trình Tiểu
học mới”, Ngô Thị Minh đã so sánh chương trình Tiếng Việt cũ (chương trình 165
tuần) và chương trình Tiếng Việt mới, để từ đó đưa ra những ưu điểm mà chương
trình SGK lớp 2, 3 mới đã thể hiện được. Theo tác giả này, “…Chương trình tiểu
học mới chủ trương dạy và học tiếng Việt không nặng về lí thuyết mà thiên về thực
hành rèn luyện các kĩ năng sử dụng ngôn ngữ. Đây là một hướng đi đúng, phù hợp
với thực tế…” [83, tr.57]. Nhận xét của Ngô Thị Minh, tuy chưa đi vào chi tiết,
nhưng cũng phần nào nói lên ưu điểm của chương trình đang được thực hiện.
- Tác giả Trần Xuân Quang đã nhận xét về ưu điểm của SGK Tiếng Việt lớp
3: “SGK Tiếng Việt lớp 3 mới đã tuân thủ và cụ thể hóa được mục tiêu, nội dung,
phương pháp giáo dục, phương pháp dạy học đối với môn Tiếng Việt theo quy định
của chương trình tiểu học do Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành. Nội dung phương
pháp dạy học thể hiện trong SGK phù hợp với đặc điểm tâm lí lứa tuổi của học sinh
tiểu học, góp phần nâng cao chất lượng và hiệu quả đào tạo; khắc phục cơ bản
những thiếu sót, hạn chế của SGK Tiếng Việt lớp 3 chương trình cũ.” [99, tr.10]
- Trong bài viết “Việc dạy học ngữ pháp tiếng Việt cho học sinh tiểu học -
nhìn từ SGK” [66, tr.54], tác giả Nguyễn Thị Ly Kha nhận xét: “Chương trình và
SGK không chỉ chú trọng việc hình thành và rèn luyện kĩ năng đọc – viết mà còn
chú trọng rèn kĩ năng nghe – nói. Có thể nói đây là bộ sách Tiếng Việt tiểu học đầu
tiên chú trọng tới cả 4 kĩ năng đọc, viết, nghe, nói”. Chúng tôi đồng ý với nhận xét
-11-
của tác giả khi cho rằng tính hành dụng là một nguyên tắc được quán triệt trong
từng đơn vị kiến thức, từng bài học và suốt cả bộ sách. Đó là cách thể hiện mới của
bộ SGK Tiếng Việt hiện hành.
Như vậy, tổng hợp nội dung của các bài viết và các công trình nghiên cứu đã
nêu ở trên, chúng tôi nhận thấy chưa có công trình nào tiến hành khảo sát một cách
có hệ thống về các đơn vị ngôn ngữ trong bộ SGK môn Tiếng Việt tiểu học ở Việt
Nam. Chúng tôi cũng chưa thấy có một nghiên cứu nào so sánh với SGK môn
Tiếng Anh ở Singapore. Vì thế, luận án của chúng tôi sẽ là công trình nghiên cứu
đầu tiên về vấn đề này. Điều này mang lại nhiều khó khăn cho chúng tôi trong quá
trình thực hiện đề tài vì không có được sự kế thừa trực tiếp từ những nhà nghiên
cứu đi trước, nhưng đồng thời đó cũng là một sự thôi thúc mạnh mẽ để chúng tôi
hoàn thành nhiệm vụ nghiên cứu của mình.
0.4. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU
Với những lí do đã được trình bày trên đây, luận án của chúng tôi sẽ đi vào
hướng nghiên cứu các đơn vị ngôn ngữ được sử dụng trong bộ SGK môn Tiếng
Việt bậc tiểu học ở Việt Nam và SGK môn Tiếng Anh cùng bậc ở Singapore. Luận
án sẽ mô tả đặc điểm sử dụng những đơn vị ngôn ngữ sau:
1/ ÂM VỊ
2/ TỪ và NGỮ CỐ ĐỊNH
3/ CÂU và VĂN BẢN
Ở mỗi đơn vị này, chúng tôi sẽ khảo sát các góc độ, các khía cạnh cụ thể của
chúng. Qua việc khảo sát, luận án sẽ chỉ ra tính chất và đặc điểm ngôn ngữ của
tiếng Việt được sử dụng trong SGK Tiếng Việt tiểu học. Từ đó, luận án cũng sẽ nêu
lên những nhận xét của mình về tình trạng sử dụng ngôn ngữ trong SGK Tiếng Việt
tiểu học hiện đang được sử dụng.
Như vậy, hệ thống âm vị của tiếng Việt là đơn vị đầu tiên được chúng tôi
khảo sát. Tuy nhiên, do đặc thù của tiếng Việt, âm vị bao giờ cũng làm thành những
đối hệ gắn chặt với cấu trúc âm tiết nên khi khảo sát đơn vị ngôn ngữ này, chúng tôi
đồng thời khảo sát đặc điểm của âm tiết chứa nó. Có thể nói đây là một đặc điểm
-13-
đặc thù trong nghiên cứu ngữ âm của tiếng Việt nói chung và đơn vị ngữ âm của
SGK Tiếng Việt nói riêng.
trọng. Nó chứa đựng hầu hết các ngữ liệu, làm cơ sở để học sinh học các phân môn
khác của chương trình Tiếng Việt. Do đó, trong luận án, chúng tôi chỉ khảo sát các
đơn vị ngôn ngữ được sử dụng trong những bài tập đọc ở SGK Tiếng Việt từ lớp 1
đến lớp 5, mà không khảo sát SGK của các môn học khác. Như vậy, phạm vi khảo
sát tiếng Việt mà chúng tôi thực hiện trong luận án này là tiếng Việt của những bài
tập đọc ở SGK Tiếng Việt từ lớp 1 đến lớp 5.
Song song với bộ SGK môn Tiếng Việt tiểu học, chúng tôi sẽ sử dụng bộ
SGK môn Tiếng Anh “ My Pals are here! English” của Singapore làm cứ liệu khảo
sát để so sánh đối chiếu với SGK Tiếng Việt của Việt Nam. Trong phần khảo sát từ,
ngữ và câu của SGK Tiếng Anh, chúng tôi cũng chỉ tập trung vào các đơn vị ngôn
ngữ tương ứng đã nêu trên đây. Về thành ngữ trong tiếng Anh, trong khuôn khổ của
luận án, chúng tôi chỉ giới hạn việc nghiên cứu ở các thành ngữ miêu tả ẩn dụ và
thành ngữ so sánh, tạm thời không xét đến các loại thành ngữ khác.
0.5. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU VÀ NGUỒN NGỮ LIỆU
0.5.1. Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện đề tài này, chúng tôi sử dụng các phương pháp và thủ pháp
nghiên cứu sau:
0.5.1.1. Phương pháp miêu tả và phân tích
Phương pháp này được sử dụng để miêu tả, phân tích các đơn vị ngôn ngữ cụ
thể cũng như về việc sử dụng các đơn vị ngôn ngữ trong hai bộ SGK môn Tiếng
Việt và SGK môn Tiếng Anh tiểu học của Việt Nam và Singapore. Đây là phương
pháp làm việc chính của luận án. Dựa vào những miêu tả và phân tích ở nhiều góc
độ khác nhau, chúng tôi sẽ đưa ra một số nhận định, kiến nghị bước đầu về các vấn
đề liên quan được nêu trong luận án.
0.5.1.2. Phương pháp so sánh đối chiếu
Phương pháp này được dùng để so sánh, đối chiếu các đơn vị ngôn ngữ được
sử dụng trong SGK bậc tiểu học ở Việt Nam và Singapore. Từ sự so sánh đối chiếu
ấy, luận án sẽ đưa ra những điểm tương đồng và khác biệt về các đơn vị ngôn ngữ
-15-
0.5.2.1. Sách giáo khoa môn Tiếng Việt bậc tiểu học ở Việt Nam
- Tiếng Việt lớp 1, tập 1-2. (NXB Giáo dục,TP.HCM, 2002)
- Tiếng Việt lớp 2, tập 1-2 (NXB Giáo dục,TP.HCM, 2003)
- Tiếng Việt lớp 3, tập 1-2 (NXB Giáo dục,TP.HCM, 2004)
- Tiếng Việt lớp 4, tập 1-2 (NXB Giáo dục,TP.HCM, 2005)
- Tiếng Việt lớp 5, tập 1-2 (NXB Giáo dục,TP.HCM, 2006)
Như vậy, ngôn ngữ mà chúng tôi khảo sát là tiếng Việt của những bài tập
đọc ở những tập SGK này. Tuy được xuất bản ở Thành phố Hồ Chí Minh, bộ sách
vẫn được Bộ Giáo dục và Đào tạo công nhận là bộ sách chuẩn của chương trình
giáo dục tiểu học và được triển khai tại các trường tiểu học trên toàn quốc.
0.5.2.2. Sách giáo khoa môn Tiếng Anh bậc tiểu học ở Singapore
- My Pals are here! English 1A, (NXB Federal, 2001)
- My Pals are here! English 1B, (NXB Marshall Cavendish Education, 2001)
- My Pals are here! English 2A, 2B, (NXB MPH Education, 2001)
- My Pals are here! English 3A, 3B, 4A, 4B (NXB Marshall Cavendish
Education, 2003)
- My Pals are here! English 5A, 5B (NXB Marshall Cavendish Education,
2004)
- My Pals are here! English 6A, 6B (NXB Federal, 2005)
0.5.2.3. Phiếu khảo sát giáo viên và học sinh
Ngoài những ngữ liệu trên văn bản trong SGK, chúng tôi cũng đã thực hiện
việc khảo sát thực tế để tìm hiểu về việc sử dụng từ ngữ địa phương trong SGK môn
Tiếng Việt, tìm hiểu thực tế giảng dạy của giáo viên và sự lĩnh hội, vận dụng từ ngữ
địa phương của học sinh thông qua 200 giáo viên và 1000 học sinh tiểu học tại các
tỉnh và thành phố: tỉnh Bắc Kạn (trường Nguyễn Thị Minh Khai, trường Đức Xuân),
tỉnh Quảng Nam (các trường: Nguyễn Hiền, Phan Thanh, Nguyễn Văn Trỗi), thành
phố Vĩnh Long (các trường: Trần Đại Nghĩa, Thiềng Đức, Nguyễn Du, Hùng
Vương) và Thành phố Hồ Chí Minh (các trường: Nguyễn Bỉnh Khiêm, Đông Hưng
Thuận 1, Hiệp Thành). Như vậy, để có những thông tin thực tế, chúng tôi đã tiến