BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NỘI VỤ
…………/………… …………/…………
HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA
NGUYỄN THỊ NHƯ Ý
HOÀN THIỆN CƠ CHẾ ĐỊNH GIÁ TIÊU THỤ
NƯỚC SẠCH TẠI CÔNG TY TNHH NN MTV XÂY
DỰNG VÀ CẤP NƯỚC THỪA THIÊN HUẾ
LUẬN VĂN THẠC SĨ TÀI CHÍNH - NGÂN HÀNG
THỪA THIÊN HUẾ - NĂM 2014
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NỘI VỤ
…………/………… …………/…………
HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA
NGUYỄN THỊ NHƯ Ý
HOÀN THIỆN CƠ CHẾ ĐỊNH GIÁ TIÊU THỤ
NƯỚC SẠCH TẠI CÔNG TY TNHH NN MTV
XÂY DỰNG VÀ CẤP NƯỚC THỪA THIÊN HUẾ
LUẬN VĂN THẠC SĨ TÀI CHÍNH - NGÂN HÀNG
CHUYÊN NGÀNH: TÀI CHÍNH - NGÂN HÀNG
MÃ SỐ: 60 34 02 01
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS. NGUYỄN HOÀNG QUY
THỪA THIÊN HUẾ - NĂM 2014
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận văn này do tôi thực hiện. Những số liệu điều tra,
những kết quả từ những tác giả khác mà tôi sử dụng trong luận văn đều được
trích dẫn rõ ràng, cụ thể. Luận văn chưa từng được công bố trong bất kỳ công
trình nghiên cứu khoa học nào.
MỤC LỤC 5
PHỤ LỤC 112 7
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN 9
DANH MỤC CÁC BẢNG 10
PHẦN MỞ ĐẦU 1
1. Tính cấp thiết của đề tài 1
2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài 2
3. Mục đích nghiên cứu của đề tài: Luận văn nhằm giải quyết những vấn đề
sau: 3
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3
5. Phương pháp nghiên cứu 3
6. Những đóng góp của luận văn 4
7. Kết cấu của luận văn 4
Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CƠ CHẾ ĐỊNH GIÁ 5
TIÊU THỤ NƯỚC SẠCH TRONG DOANH NGHIỆP 5
1.1. Lý luận chung về cơ chế định giá sản phẩm trong doanh nghiệp 5
1.1.1. Lý luận chung về cơ chế và cơ chế giá: 5
1.1.2. Lý luận chung về giá bán sản phẩm 8
1.1.3. Tầm quan trọng của công tác định giá bán sản phẩm trong
doanh nghiệp 9
1.1.4. Những nhân tố ảnh hưởng tới việc định giá sản phẩm 9
1.1.4.1. Giá cả và khối lượng sản phẩm cung cầu trên thị trường 10
1.1.4.2. Sức mua của tiền tệ: 14
1.1.4.3. Giá cả và các hình thái thị trường 14
1.1.4.4. Vai trò quản lý giá cả của nhà nước 16
1.1.4.5. Các yếu tố khác 17
1.1.5. Các yếu tố cấu thành giá sản phẩm 17
1.1.5.1. Các yếu tố cấu thành tổng chi phí 17
1.1.5.2. Các yếu tố cấu thành lợi nhuận mục tiêu 18
1.1.6. Các chính sách định giá sản phẩm trong kinh doanh 18
2.2.3. Các nhân tố tác động tới phương pháp định giá tiêu thụ nước
sạch năm 2013 48
2.2.3.1. Chi phí vật tư trực tiếp 49
2.2.3.2. Chi phí nhân công trực tiếp 55
2.2.3.3. Chi phí sản xuất chung 58
2.2.3.4. Chi phí quản lý doanh nghiệp 62
2.2.3.5. Chi phí bán hàng 63
2.2.3.6. Chi phí lãi định mức 64
2.2.4. Phương pháp định giá tiêu thụ nước sạch năm 2013 65
2.2.4.1. Giá thành 1m3 nước sạch 65
2.2.4.2. Giá tiêu thụ nước sạch bình quân 68
2.2.5. Đánh giá tác động mức điều chỉnh giá nước đối với khả năng
chi trả của hộ gia đình 72
2.2.6. Đánh giá cơ chế định giá tiêu thụ nước sạch tại Công ty 74
2.2.6.1. Ưu điểm 74
2.2.6.2. Những tồn tại cần khắc phục 77
Chương 3: GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN CƠ CHẾ 79
ĐỊNH GIÁ TIÊU THỤ NƯỚC SẠCH TẠI CÔNG TY 79
TRÁCH NHIỆM HỮU HẠN NHÀ NƯỚC MỘT THÀNH VIÊN 79
XÂY DỰNG VÀ CẤP NƯỚC THỪA THIÊN HUẾ 79
3.1. Mục tiêu, phương hướng hoàn thiện cơ chế định giá nước sạch tại
Công ty 79
3.1.1. Sự cần thiết phải hoàn thiện cơ chế định giá nước sạch 79
3.1.2. Mục tiêu chiến lược của Công ty đến năm 2020 81
3.1.2.1. Dự báo nhu cầu sử dụng nước 81
3.1.2.2. Mục tiêu chung 83
3.1.2.3. Mục tiêu cụ thể 84
3.1.3. Mục tiêu, phương hướng hoàn thiện cơ chế định giá nước sạch
86
3.2. Các giải pháp hoàn thiện cơ chế định giá tiêu thụ nước sạch tại Công
NRW : tỷ lệ nước không doanh thu
PTN : Phí thoát nước
QLDN : Quản lý doanh nghiệp
QLPX : Quản lý phân xưởng
SH : Sinh hoạt
SX : Sản xuất
SXKD : Sản xuất kinh doanh
TNHH NN MTV : Trách nhiệm hữu hạn nhà nước một thành viên
TSCĐ : Tài sản cố định
TT. Huế : Thừa Thiên Huế
TTTT : Thất thoát thất thu
UBND : Ủy ban nhân dân
VAT : Thuế giá trị gia tăng (Value Added Tax)
VNĐ : Việt Nam Đồng
XDCB : Xây dựng cơ bản
DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 2.1. Tổng hợp kết quả hoạt động SXKD Công ty giai đoạn 2009-2013 35
Bảng 2.2: Tổng hợp kết quả hoạt động SXKD Công ty 6 tháng đầu năm 2014 38
Bảng 2.3: Sản lượng nước tiêu thụ theo từng đối tượng 6 tháng đầu năm 2014 40
Bảng 2.4: Cơ cấu giá nước từ ngày 01/03/2009 44
Bảng 2.5: Cơ cấu giá nước từ ngày 01/06/2011 46
Bảng 2.6: Tổng chi phí sản xuất, kinh doanh nước sạch 49
Bảng 2.7: Bảng tính giá thành 1m3 nước sạch năm 2013 66
Bảng 2.8: Bảng giá tiêu thụ 1m3 nước sạch bình quân năm 2013 68
Bảng 2.9: Hệ số tính giá theo từng mục đích sử dụng 70
Bảng 2.10: Giá bán 1m3 nước sạch cho từng đối tượng sử dụng năm 2013 72
Bảng 2.11: Đánh giá tác động mức điều chỉnh giá nước năm 2013 73
Bảng 3.1: Tổng hợp nhu cầu dùng nước của các khu công nghiệp 82
Bảng 3.2: Dự báo tổng công suất nhu cầu cấp nước và công suất cấp nước 83
dự kiến đến năm 2015, 2020 83
dư luận quan tâm. Đặc biệt, trong bối cảnh nhiều khó khăn hiện nay, việc tăng
giá sẽ chất thêm gánh nặng chi tiêu lên vai người lao động, người làm công
hưởng lương, người nghèo. Thực tế, câu chuyện giá xăng tăng nhiều - giảm ít,
chuyện giá điện "nhấp nhổm", lại thêm nước sạch kêu lỗ, toàn những mặt hàng
không thể không dùng, khiến dư luận nhiều phen "nổi sóng". Thậm chí, có ý
kiến phản biện rằng, tỷ lệ thất thoát của ngành nước giảm chậm, vẫn ở mức cao
hơn 25%, không thể đổ hết lên đầu người tiêu dùng và rằng trước khi tăng giá,
đơn vị cung cấp dịch vụ phải khắc phục tình trạng thất thoát, nâng chất lượng
dịch vụ cấp nước…
Công ty Trách nhiệm hữu hạn Nhà nước một thành viên (TNHH NN
MTV) Xây dựng và Cấp nước Thừa Thiên Huế là đơn vị sản xuất và kinh doanh
nước sạch phục vụ cho dân dụng và công nghiệp. Với bề dày lịch sử hơn 100
năm xây dựng và phát triển, Công ty đã xây dựng được một mạng lưới cấp nước
an toàn bao phủ gần 65% dân số toàn tỉnh. Vào tháng 03 năm 2013 Ủy ban Nhân
dân tỉnh Thừa Thiên Huế đã phê duyệt phương án giá nước sạch và giá nước
sạch sinh hoạt trên địa bàn tỉnh. Đây là một điều kiện thuận lợi để Công ty hoàn
thiện hơn công tác cấp nước sạch phục vụ cho tỉnh nhà.
Xuất phát từ thực tiễn trên, tôi đã chọn đề tài “Hoàn thiện cơ chế định
giá tiêu thụ nước sạch tại Công ty TNHH NN MTV Xây dựng và Cấp nước
Thừa Thiên Huế”.
2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Qua tìm hiểu, tác giả tìm thấy một số luận văn viết về đề tài xác định giá
tiêu thụ nước sạch như sau:
Luận văn: “Tổ chức hạch toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản
phẩm xây lắp tại Công ty cổ phần đầu tư xây dựng và kinh doanh nước sạch
Vinaconex” của Nguyễn Thị Dung, năm 2005.
2
Luận văn: “Thực trạng hệ thống cấp nước của công ty TNHH một thành
viên cấp nước Nghệ An và giải pháp hoàn thiện hệ thống cấp nước đô thị của
công ty trên địa bàn thành phố Vinh đến năm 2015”, của Lê Thị Ngọc, năm 2009.
6. Những đóng góp của luận văn
- Về lý luận: Vận dụng các quyết định, nghị định, thông tư của Chính Phủ,
Bộ Xây dựng, Bộ Tài Chính, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn để làm
rõ các nguyên tắc xác định giá tiêu thụ nước sạch tại Công ty TNHH NN MTV
Xây dựng và Cấp nước Thừa Thiên Huế.
- Về thực tiễn: Đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện cơ chế xác định
giá tiêu thụ nước sạch tại Công ty TNHH NN MTV Xây dựng và Cấp nước
Thừa Thiên Huế.
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, phụ lục, danh mục tài liệu tham khảo, luận văn
bao gồm 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận về cơ chế định giá tiêu thụ nước sạch trong
Doanh nghiệp.
Chương 2: Thực trạng cơ chế định giá tiêu thụ nước sạch tại Công ty
Trách nhiệm hữu hạn Nhà nước Một thành viên Xây dựng và Cấp nước
Thừa Thiên Huế.
Chương 3: Giải pháp hoàn thiện cơ chế định giá tiêu thụ nước sạch tại
Công ty Trách nhiệm hữu hạn Nhà nước Một thành viên Xây dựng và Cấp
nước Thừa Thiên Huế.
4
Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CƠ CHẾ ĐỊNH GIÁ
TIÊU THỤ NƯỚC SẠCH TRONG DOANH NGHIỆP
1.1. Lý luận chung về cơ chế định giá sản phẩm trong doanh nghiệp
1.1.1. Lý luận chung về cơ chế và cơ chế giá:
a) Lý luận chung về cơ chế:
Không rõ từ “cơ chế” bắt đầu được dùng ở nước ta tự bao giờ, nhưng có
thể khẳng định rằng nó được dùng trước tiên và từ lâu trong ngành y. Các thầy
thuốc thường nói đến cơ chế gây bệnh và cơ chế tác dụng của thuốc. Và khi
người ta đã nhận biết được những cơ chế ấy, có nghĩa là đã giải thích được bệnh
và phương pháp chữa bệnh có cơ sở khoa học. Nếu chưa nhận biết được thì việc
quá trình thực hiện chức năng và nhiệm vụ của tổ chức; nguyên tắc vận hành của
cơ chế và nội dung hoạt động của nó.
Từ "cơ chế" được dùng rộng rãi trong lĩnh vực quản lý từ khoảng cuối
những năm 1970, khi chúng ta bắt đầu chú ý nghiên cứu về quản lý và cải tiến
quản lý kinh tế, với nghĩa như là những qui định về quản lý. Cách hiểu đơn giản
này dẫn tới cách hiểu tách rời cơ chế với con người như nêu trên. Điều đáng lưu
ý là cả cách dùng trong ngành y, cả định nghĩa trong từ điển, đều cho thấy “cơ
chế” được dùng với hàm ý chỉ hiện tượng ở trạng thái động chứ không phải ở
trạng thái tĩnh. Cho nên hiểu cơ chế chỉ là các qui định quản lý là hiểu theo trạng
thái tĩnh, chưa thấu triệt hết tính chất động của hiện tượng.
Cần nhấn mạnh rằng cơ chế phải và chỉ có thể vận hành theo những cách
thức định sẵn, trong đó mỗi chi tiết phải đóng được vai trò của mình. Chỉ cần
một chi tiết hư mòn hay kém chất lượng, sự vận hành của cơ chế sẽ lập tức trục
trặc. Cho nên cơ chế tự nó có khả năng phát hiện và đòi hỏi loại trừ những chi
tiết, ở đây là những con người không phù hợp với nó. Con người nằm trong cơ
chế, tham gia vào sự vận hành của cơ chế, bị cơ chế điều khiển, chứ không nằm
6
ngoài cơ chế và điều khiển cơ chế. Quan hệ giữa cơ chế với con người là quan hệ
giữa cục bộ với toàn bộ. Cho nên nó không chỉ bao gồm những qui định về cách
thức vận hành, mà còn bao gồm cả con người hoạt động theo những cách thức đã
được định sẵn trong thiết kế cơ chế. Và chính những hành động của tất cả chi tiết
con người như thế tạo nên cơ chế như là một bộ máy quản lý đang vận hành.
Vậy, ai làm ra cơ chế điều hành và quản lý đó? Quốc hội làm luật, trong
đó có các đạo luật về tổ chức hoạt động của Quốc hội, của các cơ quan của Quốc
hội, của Chính phủ Chính phủ ra các nghị định về cơ cấu, tổ chức và hoạt động
của các bộ, ngành. Bộ trưởng ra các văn bản, quy chế điều hành, quản lý công
công việc của bộ và các cơ quan trực thuộc. Các bộ, ngành ra các thông tư liên
ngành quy định cơ chế phối hợp giữa các bộ, ngành đó. Như vậy, có hai điều rõ
ràng và không thể phủ nhận được, đó là: thứ nhất, các bộ, ngành, trong đó không
thể vắng bóng vai trò của người đứng đầu, hoặc trực tiếp soạn thảo các cơ chế
ích kinh tế, là tiêu chuẩn để các doanh nghiệp lựa chọn mức hàng kinh doanh.
Hiện nay trên thị trường, ngoài cạnh tranh bằng giá cả, có các loại cạnh
tranh khác tiên tiến hơn như cạnh tranh bằng chất lượng, bằng dịch vụ nhưng giá
cả vẫn có một vai trò quan trọng. Hàng hoá sẽ không tiêu thụ được nếu như
không được người tiêu dùng chấp nhận. Người tiêu dùng luôn quan tâm đến giá
cả hàng hoá và coi đó là một tiêu chuẩn chỉ dẫn về chất lượng và các chỉ tiêu
khác của hàng hoá, do vậy xác định một chính sách giá đúng về vai trò sống còn
đối với bất kỳ một doanh nghiệp nào.
Trong thực tế, cạnh tranh bằng chiến lược sử dụng giá cả là biện pháp
cạnh tranh nghèo nàn nhất, vì khi gặp phải đối thủ có tiềm lực lớn, cạnh tranh
bằng giá cả sẽ không phát huy tác dụng. Trong nhiều trường hợp, sự cạnh tranh
này chỉ dẫn tới việc giảm bớt lợi nhuận của những người bán và đem lại lợi ích
cho phía người mua. Tuy nhiên cạnh tranh bằng giá cả có thể áp dụng thành
8
công và có ưu thế trong xâm nhập vào thị trường mới. Đối với thị trường Việt
Nam, thu nhập của dân cư chưa cao, yêu cầu về chất lượng và chủng loại lại thấp
nên cạnh tranh bằng chiến lược giá cả vẫn được coi là vũ khí lợi hại.
1.1.3. Tầm quan trọng của công tác định giá bán sản phẩm
trong doanh nghiệp
Định giá sản phẩm là vấn đề cực kỳ quan trọng có ảnh hưởng trực tiếp đến
khả năng tiêu thụ sản phẩm, đến lợi nhuận do đó ảnh hưởng đến sự tồn tại và
phát triển nói chung và sự sống còn của doanh nghiệp nói riêng. Vì thế, trong
quá trình sản xuất kinh doanh, không thể định giá một cách chủ quan, tuỳ tiện
và càng không được xuất phát từ lòng mong muốn. Giá cả là một phạm trù kinh
tế tổng hợp, tồn tại một cách khách quan cùng với sự ra đi và phát triển của sản
xuất hàng hoá. Đồng thời giá cả cũng phản ánh mối quan hệ kinh tế giữa người
bán và người mua, nhà sản xuất với thị trường và xã hội.
Trong thực tế cuộc sống cho thấy, mỗi người chúng ta đã có lúc là người
bán và có lúc là người mua, xuất phát từ lợi ích kinh tế của mình khi là người
bán ta luôn muốn bán với giá cao, nhưng ở vị trí của người mua ta chỉ muốn mua
dẫn tới tăng giá.
Chi phí cho một đơn vị sản phẩm cho biết “cận dưới” của giá, tức là mức
giá thấp nhất mà doanh nghiệp có thể bán. Còn cầu của thị trường cho biết mức
“cận trên” của giá, tức là mức giá cao nhất mà doanh nghiệp có thể bán (giá
trần). Nếu nâng giá bán lên cao hơn giá trần sẽ dẫn đến cầu giảm. Giá trần là
mức giá cao nhất mà công ty có thể đặt. Nếu công ty đặt giá cao hơn giá trần thì
cầu sẽ giảm xuống.
Khi quyết định tăng giá thì người làm Marketing cần phải xác định được độ
co dãn của cầu theo giá. Độ co dãn của cầu theo giá được tính bằng tỷ số giữa
phầm trăm biến động về cầu với phần trăm biến động về giá. Trong trường hợp
10
hàm cầu khả vi, hệ số co dãn được tính theo công thức sau:
D
dQ
dP
E
=
, trong đó
Q là hàm cầu, P là biến số giá cả.
Hệ số co dãn cho biết mức độ nhạy cảm của người mua khi giá biến động.
Đối với các sản phẩm có độ co dãn E
D
của cầu theo giá nhỏ (cầu không co dãn)
thì khi tăng giá sẽ dẫn đến tăng doanh thu. Ngược lại, khi E
D
lớn (cầu co dãn) thì
khi tăng giá sẽ dẫn đến giảm doanh thu.
Giá có tác dụng là vũ khí cạnh tranh thu hút khách hàng khi cầu co dãn, vì
khi đó doanh nghiệp chỉ cần giảm giá một ít, nhưng kéo theo cầu về sản phẩm sẽ
tăng lên nhiều hơn. Như vậy, trong trường hợp này, giảm giá thì có lợi cho
ứng.
• Khách hàng ưa thích giá rẻ.
Một số nhà nghiên cứu khẳng định rằng, không phải giá cả là yếu tố chi
phối khách hàng khi mua sản phẩm. Nhiều khách hàng ưa thích mua hàng tại các
cửa hàng truyền thống có nhiều chủng loại hàng hóa, dịch vụ tiện ích, chính sách
hoàn trả tiện lợi. Hình thức thanh toán tiện lợi cũng làm cho khách hàng cảm
thấy giá không cao. Một cửa hàng sang trọng với dịch vụ chăm sóc khách hàng
tốt làm cho khách hàng cảm thấy “đắt xắt ra miếng”.
Cung sản phẩm là khối lượng sản phẩm có thể cung ứng trên thị trường.
Bao gồm, khối lượng sản phẩm đang lưu thông trên thị trường, khối lượng sản
phẩm sẵn sàng tung ra thị trường. Mức cung sản phẩm phụ thuộc vào cơ cấu và
khối lượng sản phẩm được sản xuất trong nước, cơ cấu và khối lượng hàng hóa
nhập khẩu, quỹ hàng hóa dự phòng và quỹ hàng hóa tiêu dùng ngoài thị trường.
Khi nghiên cứu mức cung sản phẩm, phải đặc biệt chú ý đến sản lượng sản
xuất của các nhà cạnh tranh, trong đó phải nghiên cứu kỹ về đặc điểm sản phẩm,
bao bì, quy cách, cách thức vận chuyển, phân phối sản phẩm của đối thủ. Ngoài
12
ra, phải xem xét cả khả năng sản xuất của các dự án đầu tư mới về loại sản phẩm
mà doanh nghiệp sẽ tung ra, cũng như tình hình sản xuất và giá cả của những sản
phẩm có thể thay thế hiện đang lưu hành trên thị trường.
Cầu sản phẩm là nhu cầu có khả năng thanh toán của người tiêu dùng trong
thời kỳ nhất định ở từng khu vực. Tuy nhiên trong thực tế, mức cầu về sản phẩm
còn phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố. Trước hết họ có muốn mua sản phẩm đó
không? Sau đó là sản phẩm đó có hợp với thị hiếu của họ hay không? Và quan
trọng nhất là họ có đủ tiền để mua hay không? Ngoài ra, còn phải tính đến khả
năng họ mua được bao nhiêu thì không mua nữa.
Để dự báo mức cầu về một sản phẩm phải nghiên cứu kỹ các vấn đề sau:
Sản phẩm thuộc nhu cầu cứng hay mềm (nhu cầu cứng là nhu cầu không
thể thiếu đối với người tiêu dùng, nhu cầu mềm là loại nhu cầu có thì tốt, không
có cũng không sao). Nhu cầu của người tiêu dùng đối với sản phẩm đó tăng hay
trực tiếp giữa tiền và hàng hóa. Sức mua của tiền không chỉ phụ thuộc vào giá trị
thực tế cơ sở của nó và giá trị danh nghĩa mà còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố như
cung cầu tiền tệ và các yếu tố khác.
Trên thị trường giá cả của hàng hóa trực tiếp phụ thuộc vào sức mua của
tiền. Quan hệ giữa giá cả và sức mua của tiền là quan hệ tỷ lệ nghịch, sức mua
của tiền giảm thì giá cả tăng và ngược lại sức mua của tiền tăng thì giá cả giảm.
Quan hệ giữa giá cả và giá trị thực tế của tiền là quan hệ gián tiếp, giá trị thực tế
của tiền phản ánh lên giá cả thông qua sức mua, do đó, sự tăng lên hay giảm
xuống của giá trị tiền tệ thực tế và danh nghĩa chỉ tạo ra xu hướng giảm xuống
hay tăng lên của giá cả mà thôi.
1.1.4.3. Giá cả và các hình thái thị trường
Giá cả luôn gắn với những thị trường cụ thể. Vì vậy, khi định giá sản
phẩm phải nghiên cứu, tìm hiểu thị trường và cơ chế hoạt động của nó.
14
Theo nghĩa đen, thị trường là nơi mua, bán hàng hóa. Theo nghĩa rộng, thị
trường là một quá trình, trong đó người mua và người bán tác động qua lại lẫn
nhau để định giá cả và lượng hàng hóa.
Thị trường được hình thành trên cơ sở của sự phối hợp giữa người tiêu
dùng với người sản xuất kinh doanh, thông qua hệ thống giá cả. Trên thị trường
cái gì cũng có giá. Song mức giá cụ thể của từng sản phẩm hàng hóa là bao
nhiêu, lại được quyết định bởi nhiều nhân tố, trong đó mức độ cạnh tranh trên thị
trường là một nhân tố hết sức quan trọng. Bởi vậy, khi định giá sản phẩm của
mình để tung ra thị trường, các doanh nghiệp phải hiểu rõ bản chất của thị trường
mà doanh nghiệp sẽ bán sản phẩm của mình. Trên thị trường có ba mối quan hệ.
Một là, quan hệ giữa người bán và người mua, hai là, quan hệ giữa người bán với
nhau, ba là, quan hệ giữa người mua với nhau. Tùy từng trạng thái của mối quan
hệ mà có các dạng thị trường khác nhau, và cũng tùy từng dạng thị trường mà
doanh nghiệp tham gia có đối sách về giá cả khác nhau. Trên thực tế có ba dạng
thị trường phổ biến, đó là thị trường cạnh tranh hoàn hảo, thị trường cạnh tranh
độc quyền và thị trường độc quyền.