ĐẶT VẤN ĐỀ
Hội chứng ống cổ tay (còn gọi là hội chứng đường hầm cổ tay - Carpal
Tunnel Syndrome) là một hội chứng chèn ép dây thần kinh ngoại vi hay gặp
nhất. Trong hội chứng này, dây thần kinh giữa bị chèn ép trong đường hầm
(ống) cổ tay. Có nhiều nguyên nhân gây bệnh, trong đó có thể kể: do công việc
(cử động cổ tay nhiều, chấn động rung do dụng cụ cầm tay gây nên), do bệnh
lý viêm - thấp khớp của khớp cổ tay, do thoát vị bao hoạt dịch khớp cổ tay,
viêm - xơ húa cỏc dây chằng vùng cổ tay. Hội chứng này cũng hay gặp trong
các chứng viêm đa dây thần kinh do tiểu đường, nhiễm độc rượu mạn tính,
bệnh thận… Đây là một hội chứng đơn giản, dễ chẩn đoán và dễ điều trị.
Nhưng cách đây vài năm, tại Việt nam hội chứng này còn rất ít được các bác sĩ
phát hiện và chẩn đoán đúng. Cho tới vài năm gần đây, với việc triển khai hoạt
động thường qui của phương pháp chẩn đoán điện (Electrodiagnosis), mà ta
thường gọi là phương pháp điện cơ, thì mới có nhiều bệnh nhân được chẩn
đoán đúng và điều trị có hiệu quả. Điều đó cũng phù hợp với y văn, vì theo các
tác giả lớn trên thế giới thì cho đến nay chẩn đoán điện vẫn là phương pháp cận
lâm sàng duy nhất cho phép ta chẩn đoán sớm và lượng hóa những tổn thương
của dây thần kinh giữa trong loại bệnh lý này. Tôi xin trình bày những nghiên
cứu của mình về các thông số của chẩn đoán điện trong hội chứng ống cổ tay,
từ đó mô tả mối liên quan giữa thăm dò điện sinh lý với chẩn đoán lâm sàng.
Xuất phát từ thực tế trên và với mong muốn góp phần vào nghiên cứu
bệnh lý Hội chứng ống cổ tay, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài:
“ Nhận xét lâm sàng và thăm dò điện sinh lý trên bệnh nhân có hội chứng
ống cổ tay (thần kinh giữa) tại khoa Tâm Thần kinh Viện Lão Khoa từ 4/2011
đến 7/2011”.
1
Mục tiêu:
1. Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng, biểu hiện điện sinh lý trên bệnh nhân
có hội chứng ống cổ tay.
2. Mô tả mối liên quan giữa chẩn đoán lâm sàng và thăm dò điện sinh lý
của bệnh nhân có hội chứng ống cổ tay.
vỏch xung quanh là bờ của các xương cổ tay. Chớnh vỡ nằm trong một cấu
trúc không co giãn được nên khi có sự tăng thể tích của cỏc gõn gấp bị viêm
(hay các tư thế gấp duỗi cổ tay quá mức và thường xuyên) thì sẽ tạo ra một
lực chèn ép lờn cỏc mạch máu nuôi nhỏ đi sỏt bờn dây thần kinh, gây ra tình
trạng thiểu dưỡng. Lúc này sẽ xuất hiện triệu chứng tê bàn tay vỡ cỏc sợi thần
kinh cảm giác bị ảnh hưởng trước. Sau đó cỏc nhỏnh vận động sẽ bị tác động
tạo ra sự yếu hay liệt cơ mà nó chi phối. Với thần kinh giữa thỡ gõy teo cơ mụ
cỏi do yếu liệt cơ đối ngón, cơ gấp ngón cái ngắn. Người bệnh cầm nắm đồ
vật trong lòng bàn tay bị yếu, dễ rớt là vì thế. Nếu tình trạng chèn ép kéo dài
sẽ làm tổn thương thần kinh không hồi phục.
Với hội chứng ống cổ tay sau chấn thương, nguyên nhân có thể là sự hẹp
lòng ống cổ tay do gãy lệch xương, như gãy đầu dưới xương quay, trật khớp
như trật xương bán nguyệt ra trước. Thể tích và chu vi ống cổ tay nhỏ lại
khiến thần kinh giữa bị chèn ép.
1.4. NGUYÊN NHÂN VÀ CÁC YẾU TỐ THÚC ĐẨY GÂY HỘI
CHỨNG ỐNG CỔ TAY:
- Bất thường giải phẫu: cỏc gân gấp bất thường, ống cổ tay nhỏ bẩm
sinh, những nang hạch, bướu mỡ, nơi bám tận của các cơ giun, huyết khối
động mạch.
- Nhiễm trùng: bệnh Lyme, nhiễm Mycobacterium, nhiễm trùng khớp.
4
- Các bệnh viêm: bệnh mô liên kết, Gout hoặc giả gout, viêm bao gân
gấp không đặc hiệu (nguyên nhân thường gặp nhất của hội chứng ống cổ tay),
viêm khớp dạng thấp.
- Bệnh chuyển hóa: Acromegaly, Amyloidosis, tiểu đường, nhược
giáp.
- Tăng thể tích: suy tim xung huyết, phù, béo phì, mang thai.
1.5. LÂM SÀNG CỦA HỘI CHỨNG ỐNG CỔ TAY:
* Triệu chứng cơ năng:
Bệnh nhân thường đau, dị cảm, tê cứng ở ba ngón rưỡi do thần kinh giữa
vùng da và cơ mà nó chi phối. Người ta dùng dòng điện cường độ nhỏ kích
thích và đo thời gian đáp ứng về cảm giác hoặc vận động ở vùng thần kinh
giữa chi phối. Phương pháp này cũn giỳp ta biết được khả năng phục hồi diễn
tiến như thế nào sau thời gian phẫu thuật, và tiên lượng trước được tổn thương
có thể xảy ra ở chi khác khi chưa có biểu hiện lâm sàng.
Ở Việt nam, từ những năm cuối của thập niên 90, chúng ta đã áp dụng chẩn
đoán hội chứng ống cổ tay bằng phương pháp điện và cho kết quả khá tốt.
Ngoài ra, hiện nay người ta đã và đang nghiên cứu siêu âm với đầu dò
phẳng tần số cao 7-13-MHz có khả năng chẩn đoán khá chính xác hội chứng
ống cổ tay . Siêu âm là một kỹ thuật đơn giản có thể giúp đánh giá thần kinh
giữa và các thành phần trong ống cổ tay. Giải phẫu thần kinh giữa và đường
kính của nó được thấy khỏ rừ trờn siêu âm. Những bất thường của thần kinh
giữa, như phù nề, biến dạng, to ra của thần kinh giữa ở ngang ống cổ tay đều
có thể đo được.
6
1.7. CHẨN ĐOÁN HỘI CHỨNG ỐNG CỔ TAY:
Tiêu chuẩn chẩn đoán: theo đề nghị của Viện quốc gia Hoa Kỳ về
sức khỏe và an toàn nghề nghiệp (National Institute of Occupational
Safety and Health) để chẩn đoán hội chứng ống cổ tay phải có hai hoặc
nhiều hơn những tiêu chuẩn sau đây (một hoặc nhiều hơn một triệu
chứng cơ năng và một hoặc nhiều hơn một triệu chứng thực thể):
* Triệu chứng cơ năng: gồm những triệu chứng về cảm giác vùng da do
thần kinh giữa chi phối ở bàn tay: dị cảm, giảm cảm giác, đau, tê cứng.
* Triệu chứng thực thể gồm: dấu hiệu Tinel dương tính, nghiệm pháp
Phalen dương tính, giảm hoặc mất cảm giác châm chích vùng da thần kinh
giữa chi phối, hoặc test dẫn truyền thần kinh cho thấy có sự rối loạn chức
năng thần kinh giữa vùng ống cổ tay.
1.8. ĐIỆN SINH LÝ TRONG CHẨN ĐOÁN BỆNH THẦN KINH
NGOẠI VI:
1. Khái niệm về điện thế màng tế bào thần kinh và dẫn truyền xung
sự chênh lệch nồng độ ion dương trong và ngoài màng càng tăng lên.
+ Trong tế bào, còn nhiều ion mang điện tích âm (phosphate,
sunlfat…) và nhiều phân tử protein tích điện õm khụng qua được màng để ra
ngoài nờn chỳng ở lại bên trong góp phần làm cho điện tích phía trong màng
âm hơn so với ngoài màng.
+ Sự khuyếch tỏn cỏc ion Na
+
và K
+
: Ở điều kiện bình thường các ion
này có khả năng thấm qua màng tế bào với số lượng rất ít (gọi là sự “rũ rỉ”
ion qua màng). Khi nghỉ tính thấm của màng với ion K
+
cao gấp 100 lần so
với ion Na
+
đi từ ngoài vào trong màng. Lý do này gây ra sự thiếu hụt ion
dương ở trong màng so với ở ngoài màng.
1.2. Điện thế hoạt động
- Định nghĩa: Điện thế hoạt động là những thay đổi điện thế nhanh, đột
ngột từ điện thế âm lúc nghỉ sang điện thế dương rồi cũng rất nhanh quay trở
về điện thế âm mỗi khi màng bị kích thích và các xung động thần kinh được
dẫn truyền bằng điện thế hoạt động này.
8
- Các giai đoạn của điện thế hoạt động:
+ Giai đoạn khử cực:
Khi các thụ thể của màng tế bào tiếp nhận chất dẫn truyền thần kinh
đặc hiệu có tác dụng kích thích, kênh Na
+
mở ra, Na
+
chậm và kéo dài vài miligiõy nờn vào cuối giai đoạn
tái cực cú lỳc mặt trong màng cũn õm nhiều hơn lúc bình thường (điện thế
màng lúc này khoảng -100mV). Đó là hiện tượng ưu phân cực dài từ 50
miligiõy đến vài giây. Nếu điện thế màng tăng rất từ từ trong nhiều miligiõy,
khi cổng hoạt hoá bắt đầu mở thì cổng khử hoạt cũng bắt đầu đóng, do đó
9
không có dòng Na
+
tạo điện thế hoạt động (sự thích nghi của màng tế bào thần
kinh). Lúc này điện thế màng cần có một ngưỡng kích thích cao hơn, thậm chí
lên đến trị số dương mới tạo được điện thế hoạt động.
1.3. Dẫn truyền xung trên sợi trục
Sự lan truyền điện thế hoạt động thực chất là tạo nên một mạch điện tại
chỗ, giữa vùng đang khử cực và phần màng ở vùng tiếp giáp: Điện tích dương
của ion Na
+
trong sợi trục sẽ đi dọc theo sợi trục làm phát sinh điện thế hoạt
động ở vùng tiếp giáp. Làn song lan truyền đó gọi là xung thần kinh.
Một khi điện thế hoạt động đwocj tạo ra ở một điểm trên màng tế bào
thần kinh, quá trình khử cực sẽ lan toả toàn bộ màng theo quy luật “tất cả
hoặc khụng”. Điện thế hoạt động xuất hiện tại một điểm của sợi trục sẽ lan
toả theo hai phía. Dòng điện trong tế bào chạy từ vùng hoạt động (nơi tích
điện dương) đến vùng không hoạt động bên cạnh (nơi tích điện âm). Phía bên
ngoài tế bào, xuất hiện một dòng điện chạy ngược chiều từ vùng không hoạt
động đến vùng hoạt động. Hiện tượng này làm những vùng không hoạt động
ở hai phía của vùng hoạt động bị khử cực làm xuất hiện dòng điện chạy theo
hai hướng. Tuy nhiên về mặt sinh lý, thực tế xung chỉ dẫn truyền theo chiều
thuận.
Đối với những sợi không có myelin điện thế hoạt động được lan truyền
tinh tế một tế bào thần kinh chỉ chi phối vaif sợi cơ, lâu mỏi hơn. Hoạt động
phóng lực của các đơn vị vận động lớn cần co cơ mạnh hơn, cũn cỏc đơn vị
vận động nhỏ (do tế bào thần kinh nhỏ chi phối) chỉ cần co cơ tối thiểu.
Các thông số của điện thế đơn vị vận động được mô tả là biên độ (chiều
cao của sóng từ vài microvolt đến vài milivolt), thời gian (khoảng cách giữa
lúc khởi đầu và kết thúc song khoảng 3 – 10 miligiõy), số pha (tối đa là ba
11
pha nhưng không quá 5%). Các điện thế đơn vị vận động thường ổn định biên
độ, tần số, thời khoảng và hình dạng song. Dựa trên sự thay đổi về biên độ,
thời khoảng, tần số và hình dạng nói trên của ỏcc song này mà người ta có thể
chẩn đoán các tổn thương khác nhau.
2.2. Các yếu tố đóng vai trò quyết định chức năng của đơn vị vận
động:
- Số lượng sợi cơ do một tế bào thần kinh vận động chi phối (chỉ số chi
phối thần kinh).
- Số lượng sợi cơ đi qua một diện cắt (mật độ sợi cơ).
- Tốc độ dẫn truyền thần kinh của tế bào thần kinh.
- Sự toàn vẹn của dẫn truyền thần kinh – cơ.
2.3. Nguyên lý của máy ghi điện cơ và điện cực
* Nguyên lý:
Máy ghi điện cơ thường dùng trong lâm sàng gồm các điện cực, bộ
phận khuyếch đại, dao động kế (màn hình), loa và bộ phận ghi. Khi co cơ, các
hoạt động điện xuất hiện có thể ghi được nhờ điện cực bề mặt và điện cực
kim.
Các tín hiệu điện sinh lý sẽ được khuyếch đại hàng triệu lần và chuyển
thành hỡnh cỏc dạng súng điện thế xuất hiện trên màn hình dao động kế,
đồng thời chuyển thành các tín hiệu âm thanh nghe qua loa giúp cho phân tích
kết quả bằng cả hình ảnh và âm thanh. Gần đây, nhờ sự phát triển của công
nghệ kỹ thuật số, các máy ghi âm điện cơ cũng hiện đại hơn giúp cho việc
phân tích kết quả cũng nhanh chóng và có độ chính xác cao hơn.
cực kim đồng tâm được cắm vào cơ, bản chất là ghi điện thế ngoài tế bào.
Cỏc phúng lực của đơn vị vận động ở gần điện cực (thường trong vòng bán
kính khoảng 1milimet sẽ thể hiện trên màn hình của máy ghi điện cơ dưới
dạng một súng (thường từ hai đến ba pha do xung đến gần, tiếp xúc và rời đi)
13
đồng thời phát ra âm thanh được khuyếch đại qua hệ thống loa của máy gọi là
điện thế đơn vị vận động, bản chất là tổng của hiệu điện thế hoạt động của các
sợi cơ riêng rẽ.
14
CHƯƠNG 2
ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1. ĐỊA ĐIỂM VÀ THỜI GIAN NGHIÊN CỨU
Địa điểm: Tại khoa Tâm Thần Kinh Viện Lão Khoa Quốc Gia.
Thời gian: Từ tháng 4 năm 2011 đến tháng 7 năm 2011
2.2. ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU
2.2.1. Đối tượng:
Tất cả bệnh nhân được chẩn đoán là Hội chứng ống cổ tay vào khám và
làm xét nghiệm Điện cơ đồ tại Viện Lão Khoa trong thời gian từ tháng 4 năm
2011 đến tháng 7 năm 2011.
2.2.2. Tiêu chuẩn lựa chọn bệnh nhân.
- Bệnh nhân được chẩn đoán là Hội chứng ống cổ tay.
- Được làm xét nghiệm điện cơ.
2.3. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.3.1. Thiết kế nghiên cứu
- Nghiên cứu mô tả cắt ngang.
2.3.2. Cỡ mẫu nghiên cứu
- Thu nhận toàn bộ bệnh nhân được chẩn đoán Hội chứng ống cổ tay
vào khám và điều trị tại khoa Tâm thần kinh Viện Lão Khoa từ tháng 4 năm
2011 đến tháng 7 năm 2011.
- Cỡ mẫu.
- Nếu một thông số thu được vượt quá khoảng này thì chắc chắn là
bệnh lý (99,7%).
2.3.4. Kỹ thuật thu thập số liệu
Thu thập số liệu theo mẫu bệnh án nghiên cứu thống nhất thông qua:
16
- Khám và hỏi bệnh trực tiếp bệnh nhân.
- Làm xét nghiệm điện cơ.
2.3.5. Công cụ thu thập số liệu
Thiết kế bệnh án để thu thập các số liệu:
2.3.5.1. Đặc điểm lâm sàng :
* Đặc điểm chung :
- Tuổi, giới.
- Tiền sử bản thân : ( nguyên nhân và yếu tố nguy cơ).
+ Cỏc gân gấp bất thường, ống cổ tay nhỏ bẩm sinh.
+ Bệnh Gout, viêm khớp dạng thấp, viêm bao gân gấp không đặc hiệu.
+ Bệnh đái tháo đường, nhược giáp.
+ Suy tim, phù, béo phì.
* Đặc điểm lâm sàng :
- Cách khởi phát : Đột ngột, cấp tính hay từ từ.
- Kiểu khởi phát.
- Các triệu chứng lâm sàng :
+ Đau ở cỏc ngún do thần kinh giữa chi phối: Dữ dội hay âm ỉ, khu trú
hay lan tỏa lên cẳng tay, khuỷu hoặc vai.
+ Dị cảm ở cỏc ngún do thần kinh giữa chi phối: có hay không.
+ Tê cứng ở cỏc ngún do thần kinh giữa chi phối: sớm hay muộn,
thường xuất hiện khi nào, có tăng hay giảm không, mức độ.
+ Cầm nắm yếu dần hoặc bị run tay, viết khó, dễ làm rớt đồ vật: có hay
không, sớm hay muộn.
+ Dấu hiệu Tinel: dương tính hay âm tính.
+ Nghiệm pháp Phalen: dương tính hay âm tính.
- Phân bố theo tuổi, giới.
Bảng 1.
Tuổi
Nam Nữ
Số bệnh
nhân
Tỷ lệ
Số bệnh
nhân
Tỷ lệ
<35
>=35
Tổng số
Nhận xét:
- Tiền sử bản thân : ( nguyên nhân và yếu tố nguy cơ).
Bảng 2.
Nguyên nhân và yếu tố nguy cơ
Số bệnh
nhân
Tỷ lệ%
Các gân gấp bất thường, ống cổ tay nhỏ bẩm sinh
Bệnh Gout, viêm khớp dạng thấp, viêm bao gân gấp
không đặc hiệu
Bệnh đái tháo đường, nhược giáp
Suy tim, phù, béo phì
Tổng số
* Đặc điểm lâm sàng :
- Các triệu chứng lâm sàng :
19
Bảng 3.
20
lâm sàng (+)
Chẩn đoán
lâm sàng (-)
Tổng số
Nhận xét:
CHƯƠNG 4
DỰ KIẾN BÀN LUẬN
4.1. Đặc điểm chung:
- Phân bố bệnh nhân theo tuổi và giới.
- Nguyên nhân và yếu tố nguy cơ.
4.2. Đặc điểm lâm sàng của hội chứng ống cổ tay:
21
- Đau ở cỏc ngún do thần kinh giữa chi phối.
- Dị cảm ở cỏc ngún do thần kinh giữa chi phối.
- Tê cứng ở cỏc ngún do thần kinh giữa chi phối.
- Cầm nắm yếu dần hoặc bị run tay, viết khó, dễ làm rớt đồ vật.
- Dấu hiệu Tinel dương tính.
- Nghiệm pháp Phalen dương tính.
- Cảm giác châm chích vùng da do thần kinh giữa chi phối giảm hoặc
mất.
4.3. Đặc điểm điện sinh lý của hội chứng ống cổ tay:
- Thời gian tiềm cảm giác ngoại vi của dây thần kinh giữa.
- Thời gian tiềm vận động ngoại vi của dây thần kinh giữa.
4.4. Mối liên quan giữa chẩn đoán lâm sàng và điện sinh lý của hội chứng
ống cổ tay.
22
DỰ KIẾN KẾT LUẬN
1. Đặc điểm lâm sàng, biểu hiện điện sinh lý trên bệnh nhân có hội
chứng ống cổ tay.
sinh lý trong bệnh viêm đa rễ và dây thần kinh mãn tính ”, Tạp chí thông
tin Y dươc .Bộ Y tế.(4) : tr.26 – 9
8. Nguyễn Trọng Hưng (2007). “Nghiờn cứu biểu hiện thần kinh ngoại vi
ở người trưởng thành suy thận mãn tính giai đoạn cuối ”. Luận án tiến sỹ
Y học. Đại học Y Hà Nội.
9. Hồ Hữu Lương (2005), “Bệnh thần kinh ngoại vi do đỏi tháo đường.
Trong : Bệnh thần kinh ngoại vi ”, Nhà xuất bản Y học, tr. 248 – 269.
10. Vũ Anh Nhị (1996) “Nghiờn cứu bệnh lý thần kinh ngoại biên do đái
tháo đường bằng phương pháp chẩn đoán điện”. Luận án phó tiến sỹ Y
học, Đại học Y dược TP Hồ Chí Minh.
1. 11.Bựi Thiện Sự (1998). “ Phương pháp chẩn đoán điện cơ ”, Nhà xuất
bản Y học, tr.87 – 9, 102 – 4.
11. Hồ Hữu Lương (1993), “ Chẩn đoán điện thần kinh và cơ. Trong : Lâm
sàng thần kinh ”, Nhà xuất bản Y học hà nội, tr.485 - 506.
PHỤ LỤC
Bệnh án nghiên cứu
I. HÀNH CHÍNH:
- Họ và tên:
- Tuổi Giới
- Nghề nghiệp
- Địa chỉ liên lạc
- Ngày khám bệnh
II. HỘI CHỨNG ỐNG CỔ TAY:
- Chẩn đoán xác định
- Tuổi mắc bệnh
- Bệnh lần thứ
- Tiến triển bệnh
- Xét nghiệm công thức máu
- Xét nghiệm sinh húa mỏu
- Xét nghiệm điện cơ