Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
NGUYỄN THỊ THANH HUYỀN
Đánh giá hiện trạng môi trường khu vực
công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên
phân đạm và hoá chất hà bắc
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC NÔNG NGHIỆP
Thái Nguyên – 2011
1
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
Mở đầu
1. Tính cấp thiết của đề tài
Trong công cuộc Công nghiệp hóa - Hiện đại hoá đất nước Việt Nam đã
đạt được những thành tựu to lớn về kinh tế, xoá đói giảm nghèo. Tuy nhiên kéo
theo đó là sự xuống cấp nghiêm trọng của môi trường gây tác hại tới sức khoẻ
của con người. Các hoạt động của con người đã đưa vào môi trường các chất
thải và chất độc hại. Môi trường nước, môi trường không khí, môi trường đất
đang bị suy thoái trầm trọng gây ảnh hưởng sâu sắc tới sinh vật và con người.
Bắc Giang là tỉnh trung du miền núi phía Bắc nằm trên trục đường xuyên
Á và hành lang kinh tế Nam Ninh - Lạng Sơn - Hà Nội - Hải Phòng - Quảng
Ninh, có nhiều tiềm năng phát triển kinh tế. Hòa cùng công cuộc Công nghiệp
hóa – hiện đại hóa của cả nước Đảng bộ và nhân dân tỉnh Bắc Giang đã đạt được
những thành tựu to lớn. Tuy nhiên song song với quá trình phát triển vượt bậc
về kinh tế là những tác động to lớn tới môi trường. Minh chứng rõ nhất cho điều
này là chất lượng ngày một đi xuống của dòng sông Thương, đoạn chảy qua
Thành phố Bắc Giang.
Công ty TNHH MTV Phân đạm và Hóa chất Hà Bắc, là một thành viên
trực thuộc Tổng Công ty Hóa chất Việt Nam. Trụ sở công ty tại phường Thọ
Xương, thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang. Sản phẩm chính của Công ty là
phân đạm Urê, ngoài ra Công ty còn sản suất thêm các sản phẩm phụ khác như:
viên Phân đạm và Hoá chất Hà Bắc.
- Tìm hiểu và đề xuất các công nghệ xử lý thích hợp, các cơ chế quản lý,
kiểm soát ô nhiễm môi trường trong việc sản xuất phân bón và hóa chất cho
Công ty Trách nhiệm hữu hạn một thành viên Phân đạm và Hoá chất Hà Bắc.
4. Ý nghĩa của đề tài
- Củng cố các kỹ năng về quan trắc và phân tích môi trường.
- Thực hiện thành thục các bước lấy mẫu, bảo quản, phân tích trong
phòng thí nghiệm.
- Nhận xét, phân tích, tổng hợp và xử lý các số liệu thu được để đánh giá
hiện trạng ô nhiễm môi trường nước, đất và không khí tại Công ty Trách nhiệm
hữu hạn một thành viên Phân đạm và Hoá chất Hà Bắc.
- Các số liệu được thu thập, phân tích, tổng hợp tương đối chính xác có
thể được sử dụng làm căn cứ để đánh giá hiện trạng ô nhiễm tại Công ty Trách
nhiệm hữu hạn một thành viên Phân đạm và Hoá chất Hà Bắc và đưa ra một số
giải pháp để bảo vệ môi trường trong thời gian tới.
3
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn Chương 1
Tổng quan các vấn đề nghiên cứu
1.1. Cơ sở lý luận về môi trường
- Khái niệm về môi trường: Theo luật bảo vệ môi trường 2005 của nước
CHXHCN Việt Nam: “Môi trường bao gồm các yếu tố tự nhiên và vật chất nhân
tạo, quan hệ mật thiết với nhau, bao quanh con người, có ảnh hưởng tới đời sống
sản xuất, sự tồn tại, phát triển của con người ” (Luật Bảo vệ môi trường Việt
phân hoá học (còn gọi là phân khoáng) và các loại phân khác. Trong các loại
phân thì phân hoá học có chứa nồng độ các chất khoáng cao hơn cả. Từ ngày có
kỹ nghệ phân hoá học ra đời, năng suất cây trồng trên thế giới cũng như ở nước
ta ngày càng được tăng lên rõ rệt. Ví dụ chỉ tính từ năm 1960 đến 1997, năng
suất và sản lượng lúa trên thế giới đã thay đổi theo tỷ lệ thuận với số lượng phân
hoá học đã được sử dụng (NPK, trung, vi lượng ) bón cho lúa. Trong những thập
kỷ cuối thế kỷ 20 (từ 1960-1997), diện tích trồng lúa toàn thế giới chỉ tăng có
23,6% nhưng năng suất lúa đã tăng 108% và sản lượng lúa tăng lên 164,4%,
tương ứng với mức sử dụng phân hoá học tăng lên là 242%. Nhờ vậy đã góp
phần vào việc ổn định lương thực trên thế giới (Tổ chức Nông lương của Liên
Hiệp Quốc, 2010)[20].
* Tình hình sản xuất phân bón
Năm 2008, sản lượng urê toàn cầu tăng 1,7% so với 2007, trong khi đó
sản lượng phân lân và phân kali giảm 7,5% và 2,8% tương ứng do nhu cầu nhập
khẩu giảm.
Bước sang năm 2009, ngành sản xuất phân bón thế giới đứng trước điều
kiện thị trường trì trệ, doanh số yếu, triển vọng sản xuất và thương mại không
mấy sáng sủa. Tuy nhiên, những động lực chính cho sự tăng trưởng nhu cầu
phân bón vẫn còn nguyên vẹn. Cuộc khủng hoảng lương thực toàn cầu vẫn chưa
được giải quyết. Dự trữ lương thực thực phẩm và nông sản hàng hóa giảm
xuống mức thấp so với nhiều năm. Vì vậy, nhu cầu phân bón sẽ hồi phục, tuy
tốc độ hồi phục phụ thuộc vào nhiều yếu tố.
Trong thời gian 2000 - 2007, ngành sản xuất phân bón thế giới đã tăng tốc
độ sản xuất để đáp ứng nhu cầu. Tỷ lệ vận hành công suất đã đạt đến đỉnh cao
vào năm 2007 khi các nhà sản xuất vận hành với 97% công suất danh định ở cả
ba chất dinh dưỡng chính. Nhưng sự suy thoái của nhu cầu thị trường từ cuối
năm 2008 đã buộc tỷ lệ vận hành công suất trong sản xuất phân bón giảm trở về
mức của năm 2000.
Trong những năm qua, ngành sản xuất phân bón trên thế giới đã đầu tư
nhiều để phát triển các nhà máy mới. Nhưng đầu tư mở rộng công suất phân
nước sử dụng phân khoáng nhiều nhất.
Tuy nhiên lượng phân chủ yếu bón nhiều cho đồng cỏ, rau và hoa để thu
sản lượng chất xanh cao. Việt Nam được coi là nước sử dụng nhiều phân khoáng
trong số các nước ở Đông Nam Á, số liệu tham khảo năm 1999 như sau: - Việt
Nam: bình quân 241,82 kg NPK/ha - Malaysia: bình quân 192,60 - Thái Lan:
bình quân 95,83 - Philippin: bình quân 65,62 - Indonesia: bình quân 63,0 -
Myanma: bình quân 14,93 - Lào: bình quân 4,50 - Campuchia: bình quân 1,49
Theo số liệu ghi nhận được ở trên cho thấy Campuchia, Lào và Myanma sử
dụng phân khoáng ít nhất, đặc biệt là Campuchia. Có thể đó là thị trường xuất
6
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
khẩu phân bón của Việt Nam khá thuận lợi, nếu Việt Nam góp phần nâng cao
kiến thức sử dụng phân bón cho họ có kết quả.
Dự kiến nhu cầu sử dụng phân bón trên thế giới từ năm 2008 – 2012 được
thể hiện ở bảng 2.1.
Bảng 1. Tốc độ tăng trưởng tiêu thụ phân bón trung bình hàng năm trên
thế giới từ năm 2008 - 2012
STT
Khu vực
N
P
2
O
5
K
2
O
7
Nam Á
3,3%
4,9%
5,9%
8
Đông Á
2,8%
1,9%
3,2%
9
Châu Âu
0,4%
-0.2%
-0.1%
10
Trung Âu
2,6%
1,5%
1,8%
11
Tây Âu
-0.3%
-1,0%
-0,7%
12
Đông Châu Âu và Trung Á
5,7%
6,1%
3,5%
79
4
VSV
20
7
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
5
Trung lượng – Vi lượng
60
6
Khác
160
(Nguồn: Bộ NN&PTNT, 2009)
Hầu hết các loại phân bón đơn nhập khẩu hoặc do các doanh nghiệp công
nghiệp trong nước sản xuất đều đảm bảo đúng chất lượng. Trong khi đó chất
lượng các loại phân bón N – P – K, hữu cơ sinh học, hữu cơ khoáng lại đang là
vấn đề nổi cộm gây nhức nhối cho người tiêu dùng và trong một chừng mực nào
đó ảnh hưởng rất lớn đến môi trường nông nghiệp nói chung và sản xuất kinh
doanh nói riêng.
Về chất lượng phân bón qua các đợt kiểm tra của các chi cục tiêu chuẩn
đo lường chất lượng cho thấy chất lượng phân bón trên thị trường rất đáng lo
ngại.
Bảng 3. Tình hình phân phức hợp trên thị trường
Cơ sở kiểm định
Số mẫu
kiểm tra
Số mẫu
không đạt
8
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
+ Bón phân không cân đối nặng về sử dụng phân đạm (bảng 2. 4)
+ Chât lượng phân bón không đảm bảo, các loại phân bón N – P – K, hữu cơ
vi sinh, hữu cơ khoáng do các cơ sở nhỏ lẻ sản xuất trôi nỏi trên thị trường, chất
lượng không đảm bảo đang là nỗi áp lực cho chính nông dân và môi trường đất.
Bảng 4. Lượng phân bón vô cơ sử dụng ở Việt Nam qua các năm
Năm
N
P
2
O
5
K
2
O
NPK
N+ P
2
O
5
+ K
2
O
1985
342,3
91,0
35,9
179,7
2425,2
(Nguồn: Cục Trồng trọt, Bộ NN & PTNT, 2008)
Theo tính toán của Bộ NN & PTNT ở Việt Nam, năm 2008 hiệu suất sử
dụng phân đạm mới chỉ đạt tử 30 – 45 %, phân lân từ 40 – 45 %, kali từ 40 – 50
%, tùy theo chất đất, giống cây trồng, thời vụ, phương pháp bón, loại phân
bón… Như vậy còn khoảng 55 – 70% lượng đạm tương đương khoảng 1,8 triệu
tấn ure, 55 – 60% lượng lân tương đương 2 triệu tấn supe lân, 50 – 60% lượng
kali tương đương 340 nghìn tấn kali clorua được bón vào đất nhưng cây trồng
chưa sử dụng.
Tính từ năm 1985 đến nay diện tích gjeo trồng ở nước ta chỉ tăng 57,7%
nhưng lượng phân bón hóa học sử dụng tăng 517%. Trong vòng 25 năm qua
tổng các yếu tố dinh dưỡng đa lượng N+ P
2
O
5
+ K
2
O năm 2007 đạt 2,4 triệu tấn,
tăng gấp hơn 5 lần lượng sử dụng năm 1985.
Xét về mặt kinh tế hàng năm có khoảng 2/3 lượng phân bón cây trồng
không sử dụng được, đồng nghĩa với việc 2/3 lượng tiền người nông dân bỏ ra
mua phân bón bị lãng phí, với tổng thất thoát lên khoảng 30 ngìn tỷ đồng theo
giá phân bón năm 2008 (Bộ NN & PTNT, 2008).
Xét về mặt môi trường ngoại trừ một phần chất dinh dưỡng trong phân
bón được keo đất giữ lại là nguồn dinh dưỡng dự trữ cho mùa sau, hàng năm
một lượng lớn phân bón bị rửa trôi hoặc bay hơi đã làm xấu đi môi trường sản
xuất nông nghiệp và môi trường sống; đó cũng là tác nhân gây ô nhiễm môi
trường đất, nước và không khí.
9
) có thể thay đổi từ 0 – 4 mg/l; đôi khi có
thể tới 1 mg/l (bảng 2.5).
Bảng 5. Liều lượng bón phân đạm và sự tích lũy NO
3
-
trong nước ngầm và nước mặt
Liều lượng
bón phân đạm
N - NO
3
-
trong nước ngầm (mg/l)
N - NO
3
-
trong nước bề mặt (mg/l)
129
170
35
52
50
24
12,71
18,84
9,50
8,47
8,16
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
Nitrat không phải vấn đề mới, cách đây hang trăm năm, người ta đã ghi
nhận nồng độ cao của nó trong các giếng nước ăn. Nhưng điều phát hiện mới
nhất là NO
3
-
có lien quan tơi sức khỏe cộng đồng và biểu hiện qua hai loại bệnh:
- Methaemoglobinaemia: hội chứng trẻ xanh ở trẻ sơ sinh.
- Ung thư dạ dày ở người lớn.
Thực ra NO
3
-
không độc, nhưng khi nó bị khử thành nitrit (NO
2
-
) trong cơ
thể thì nó trở nên rất độc.
Methaemoglobinaemia: hội chứng trẻ xanh thường xảy ra khi đứa trẻ dưới
10 tuổi. Các vi khuẩn trong dạ dày khử nitrat thành nitrit và xâm nhập vào máu,
nó phản ứng với heamoglobin chứa Fe
2+
là phân tử có chức năng vận chuyển
oxy đi khắp cơ thể. Một ion Fe
3+
có rất ít năng lực vận chuyển oxy trong máu do
đó gây nên sự tắc nghẽn hóa học. Trẻ sơ sinh thường rất nhạy bén với căn bệnh
này, bởi vì heamoglobin bào thai có ái lực với NO
2
-
3
-
trong nước. Mối liên quan này được giải thích là NO
2
-
sinh
ra từ NO
3
-
, phản ứng với một loại amin thứ sinh xuất hiện khi phân hủy mỡ hoặc
protein ở bên trong dạ dày và tạo ra hợp chất N – nitroso (là hợp chất gây ung thư).
Vì tính chất nguy hiểm của NO
3
-
đối với sức khỏe cộng đồng nên châu Âu
qui định mức chuẩn cho nước uống là 11,3g N/m
3
(tương đương với 50g N/m
3
),
giá trị tối ưu là không quá 5,6g N/m
3
(tương đương với 2,5g N/m
3
).
1.3.2. Ảnh hưởng của phân bón hoá học đến môi trường nước
Ảnh hưởng rõ nét nhất của việc sử dụng phân bón hóa học tới môi trường
nước đó chính là hiện tượng phú dưỡng và suy giảm chất lượng các nguồn nước.
Phú dưỡng là hiện tượng gia tăng hàm lượng nitơ và phospho trong lượng
nước nhập vào các thủy vực, gây sự tăng trưởng của các thực vật bậc thấp (rong,
+ 122H
2
O + 16HNO
3
+ H
3
PO
4
Từ phản ứng này cứ 1 phân tử thực vật phù du đã sử dụng 276 nguyên tử
oxy để tiến hành phản ứng phân hủy và giải phóng một lượng đáng kể axit và
CO
2
vào nguồn nước làm giảm pH của nước, nước bị nhiễm bản và có mùi hôi
thối, cá chết hàng loạt.
Nguyên nhân của hiện tượng phú dưỡng là các nguồn thải có chứa N và P.
Người ta chia ra:
- Nguồn điểm: Các nguồn thải từ hệ thống cống rãnh trong các khu thị
trấn, thành phố, các khu công nghiệp. Nguồn thải này phụ thuộc rất nhiều vào
mứ sống của nhân dân và chuẩn mực vệ sinh trong khu vực. Ngoài ra phospho
lại được sử dụng rất nhiều trong phân bón và trong bột giặt.
- Nguồn diện hay phân tán: Khu vực này rất rộng lớn bao gồm các khu vực
sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp và các vùng chảy tràn từ khu đô thị. Cụ thể là:
+ Vùng canh tác: Phân bón, xói mòn.
+ Khu chăn thải: Phân súc vật và các sản phẩm thối rữa, xói mòn.
+ Các khu vực sản xuất sữa và các sản xuất sữa.
+ Nước thải dân dụng trong khu vực.
Việc sử dụng phân đạm và phân lân trong nông nghiệp xúc tiến quá trình
phú dưỡng trong các hồ chứa ở Thụy Sĩ, Thụy Điển, Bắc Mỹ và rất nhiều nước
ở Châu Âu. Ngày nay, rất nhiều các vùng cửa song và các vịnh đã bị nhiễm nặng
nhất mà nông nghiệp, lâm nghiệp tác động vào khí quyển là các chất thải CO,
NO, CH
4
, NH
3
. Riêng khí mêtan, hàng năm trên thế giới thải khoảng 250 triệu
tấn, trong đó các hoạt động nông, lâm nghiệp chiếm 40 – 46%. Hệ quả của
lượng khí CH
4
là tạo ra hiệu ứng nhà kính. Các khí thải NO, CO là tác nhân làm
suy giảm tầng ozôn vì khi bay hơi vào tầng này chúng thực hiện các quá trình:
CO + O
3
CO
2
+ O
2
NO + O
3
NO
2
+ O
2
CH
4
+ O
3
CO
2
- Phía Đông giáp khu đất hoang, khu dân cư nông thôn nằm xen giữa
tường vây phía Bắc nhà máy và đồi Bứa thuộc xã Xuân Hương – huyện Lạng
Giang, tỉnh Bắc Giang.
- Phía Tây giáp khu dân cư phi nông nghiệp nằm xen giữa tường vây phía
Tây nhà máy với đê sông Thương.
- Phía Bắc giáp các đồi Giác, đồi Rừng, đồi A xit thuộc xã Xuân Hương –
huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang.
14
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
Hình 1. Vị trí địa lý của Công ty TNHH MTV Phân đạm và Hóa chất Hà Bắc
- Địa hình, địa chất
Theo kết quả khoan thăm dò địa chất trong khu vực công ty, địa tầng
được phân chia thành các lớp đặc trưng như sau:
+ Lớp 1: 1a, 1b: Là lớp đất phủ, đất trồng trọt, lớp đất bùn ao có chiều dày
thay đổi từ 0,20 ÷ 0,60 m, lớp này có Ro rất yếu.
+ Lớp 3: Lớp sét màu đỏ, đoạn dưới màu vàng, trạng thái cứng, chiều dày
Mực nước trung bình các tháng trong năm và mực nước trung bình của từng
năm của sông Thương tại trạm Phủ Lạng Thương từ năm 1998 đến năm 2008 là:
15
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
Mực nước trung bình của tháng có trị số lớn nhất là 538cm (tháng
7/2011), trị số nhỏ nhất là 48cm (tháng 12/2008)
Mực nước trung bình của năm có trị số lớn nhất là 212cm (năm 2001) trị
số trung bình lớn nhất là 131cm (năm 2007).
Mùa mưa ở lưu vực sông Thương thường bắt đầu từ tháng 5 và kết thúc
vào tháng 9 ở thượng lưu hay tháng mười ở trung lưu và hạ lưu. Lượng mưa
trong các tháng mùa mưa chiếm khoảng 65 -85 % tổng lượng mưa năm.
1.4.2. Cơ cấu tổ chức, hiện trạng sản xuất của Công ty TNHH một thành viên
Phân đạm và Hóa chất Hà Bắc
1.4.2.1. Cơ cấu tổ chức của Công ty
Trong quá trình phát triển của Công ty, cơ cấu quản lý tổ chức luôn được
điều chỉnh phù hợp với yêu cầu theo từng giai đoạn phát triển chung của đất
nước. Hiện nay cơ cấu tổ chức quản lý của công ty được tổ chức theo mô hình
trực tuyến, chức năng với cấp quản lý cao nhất là Giám đốc, giúp việc cho Giám
đốc là các phó Giám đốc có nhiệm vụ giúp Giám đốc điều hành hoạt động sản
xuất kinh doanh trên các lĩnh vực do Giám đốc yêu cầu. Tóm lại: Các đơn vị cấp
dưới chỉ nhận một mệnh lệnh duy nhất là Giám đốc.
1.4.2.2. Các lĩnh vực kinh doanh của công ty
Hiện nay, các sản phẩm chính của Công ty từ năm 2000 đến năm 2009
bao gồm 5 loại như sau:
Urê;
Amoniac lỏng;
CO
2
lỏng
tấn
100.521
96.112
102.577
110.444
111.608
114.416
112.682
3
CO
2
tấn
5.111
7.061
9.918
14.386
29.008
27.041
28.064
16
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
lỏng
4
Điện
MWh
Kết quả phân tích
TCVN
5945-
2005
(cột A)
M1
M2
M 3
M 4
M 5
1
Nhiệt độ
o
C
25,1
29,9
28,5
31,9
29,1
40
2
pH
-
9,12
8,86
8,25
8,86
8,11
6-9
5
mg/l
19
22
23
26
36
20
7
COD
mg/l
42
49
49
49
41
50
8
SO
4
2-
mg/l
91
106
88
108
99
-
0,65
0,68
-
12
Florua
mg/l
0,02
0,02
0,01
0,02
0,02
5
13
Chì
mg/l
0,02
0,02
0,02
0,01
0,01
0,1
17
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
14
Asen
mg/l
<0,001
<0,001
0,07
18
Sắt
mg/l
0,52
0,56
0,48
0,62
0,73
1
( Nguồn: Trung tâm Kỹ thuật Môi trường và Công nghiệp Hóa chất)[7]
Ghi chú:
TCVN 5945-2005: Nước thải công nghiệp – Giá trị giới hạn các thông số
và nồng độ các chất ô nhiễm trong nước thải công nghiệp.
M1: Mẫu nước công nghệ làm lạnh 1 lần
M2: Mẫu nước tại phân xưởng tạo khí
M3: Mẫu nước thải phân xưởng Urê
M4: Mẫu nước thải phân xưởng nhiệt điện
M5: Mẫu nước tại kênh 420 ra sông Thương
Nhận xét:
Qua kết quả phân tích có thể nhận thấy mẫu nước tại 4 phân xưởng và
kênh 420 thì các chỉ tiêu về pH, Chất rắn lơ lửng, BOD
5
, Xianua đều vượt tiêu
chuẩn cho phép (TCCP). Cụ thể:
- Chỉ tiêu về độ pH: chỉ có nước thải của công nghệ làm lạnh lần 1 vượt
TCCP 1,013 lần, các mẫu nước thải khác mặc dù chưa vượt nhưng đã sấp sỉ với
ngưỡng cho phép.
- Chỉ tiêu về chất rắn lơ lửng: mẫu nước công nghệ làm lạnh vượt 3,96
lần, tại phân xưởng tạo khí vượt 3,86 lần, tại phân xưởng Urê vượt 2,24 lần,
3
)
Tiếng ồn
(dBA)
NO
2
SO
2
CO
NH
3
Bụi
1
Khu vực tạo khí
0,21
0,19
0,59
0,29
0,22
83,9
2
Khu vực bãi than nguyên liệu
0,17
0,24
0,51
0,28
0,58
0,22
0,18
86,4
7
Khu vực tinh chế khí
0,18
0,18
0,45
0,19
0,19
80,3
8
Khu văn phòng nhà máy
0,09
0,23
0,41
0,20
0,11
58,6
9
Khu vực trạm xử lý nước
0,03
0,25
0,22
0,16
0,11
60,3
TCVN 5937 - 2005
0,2
0,35
2
vượt 1,25 lần, nồng độ bụi vượt
2,1 lần, độ ồn vượt 1,024 lần so với TCCP.
- Tại khu vực tháp tạo hạt urê NO
2
vượt 1,25 lần, nồng độ bụi vượt 1,8
lần, độ ồn vượt 1,112 lần so với TCCP.
- Tại phân xưởng nén khí NO
2
vượt 1,15 lần, tiếng ồn vượt 1,02471 lần so
với TCCP.
- Tại khu vực tạo khí và khu vực tinh chế khí tiếng ồn vượt TCCP lần lượt
là 1,12 lần và 1,07 lần.
- Tại khu vực bãi than nguyên liệu nồng độ bụi vượt 1,93 lần so với TCCP.
- Điều kiện tự nhiên phường Thọ Xương thành phố Bắc Giang tỉnh Bắc Giang
(nơi tọa lạc của Công ty).
- Vị trí địa lý và hiện trạng sản xuất phân bón và hoá chất của Công ty TNHH
MTV Phân đạm và Hóa chất Hà Bắc.
- Đánh giá chung về hiện trạng môi trường của Công ty TNHH MTV Phân đạm
và Hóa chất Hà Bắc
+ Hiện trạng môi trường nước
+ Hiện trạng môi trường không khí
21
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
+ Hiện trạng môi trường đất
+ Ảnh hưởng do hoạt động sản xuất Công ty TNHH MTV Phân đạm và
Hóa chất Hà Bắc tới sức khỏe cộng đồng.
- Đề xuất các biện pháp bảo vệ môi trường trên địa bàn.
2.4. Phương pháp nghiên cứu
2.4.1. Phương pháp thu thập tài liệu, số liệu thứ cấp
Thu thập những tài liệu về điều kiện tự nhiên của tỉnh Bắc Giang, báo cáo
tình hình thực hiện nhiệm vụ kinh tế xã hội năm 2011 của tỉnh Bắc Giang, chất
lượng môi trường khu vực công ty TNHH MTV Phân đạm và Hoá chất Hà Bắc
các năm trước, sơ đồ quy trình sản xuất, tình hình sản xuất của nhà máy phân
đạm và Hóa chất Hà Bắc…
Các tài liệu này được thu thập từ: UBND tỉnh Bắc Giang, Trung tâm quan
trắc tài nguyên và môi trường Bắc Giang, Chi cục bảo vệ môi trường Bắc
Giang…
2.4.2. Phương pháp tổng hợp và so sánh
Tổng hợp các tài liệu, số liệu thu thập, điều tra, phân tích được để lựa
chọn ra những số liệu cần thiết phục vụ cho đề tài.
So sánh những số liệu phân tích được với các Qui chuẩn Việt Nam.
NM – 1: Mẫu nước sông Thương cách cửa xả 500 m về phía thượng lưu
NM – 2: Mẫu nước sông Thương cách cửa xả 500 m về phía hạ lưu
- Tiến hành lấy mẫu vào ngày 12/2010, 8/3/2011 và 13/6/2011 và mỗi loại lấy 2
mẫu. Riêng mẫu nước ngầm tiến hành lấy mẫu vào tháng 12/2010 và 13/6/2011.
* Phương pháp phân tích nước: Mẫu được lấy, xử lý và đem về phòng thí
nghiệm phân tích
2.4.4.2.Phương pháp lấy và phân tích mẫu đất
* Phương pháp lấy mẫu đất:
- Lấy mẫu đất gồm hai bước:
+ Tiếp cận điểm lấy mẫu
+ Tiến hành lấy mẫu đất
23
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
- Loại mẫu: mẫu đất được lấy là mẫu xáo trộn (mẫu lấy từ đất, không cần bất
kỳ nỗ lực bảo trì cấu trúc đất nào). Mẫu xáo trộn được lấy bằng cách khoan
hoặc đào.
Đối với đề tài lấy mẫu đơn, trực tiếp đất tại 2 điểm là cạnh cống thải và
khuôn viên của Công ty. Mẫu được lấy vào tháng 12/2011, ngày 8/3/2011 và
ngày 13/6/2011, tại mỗi điểm lấy 2 mẫu.
Đ – 1: mẫu đất lấy tại khu vực cạnh cống thải
Đ – 2: mẫu đất lấy tại khu vực khuôn viên của Công ty
* Phương pháp phân tích đất: Mẫu được lấy, xử lý và đem về phòng thí
nghiệm phân tích
Bảng 9. Phương pháp phân tích một số thông số về môi trường đất
TT
Thông số
Phương pháp phân tích, lấy mẫu
1