ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
NGUYỄN ĐỨC THỊNH
ĐÁNH GIÁ ẢNH HƯỞNG CỦA XÃ HỘI ĐẾN CÔNG
TÁC QUẢN LÝ RỪNG TẠI CÔNG TY TRÁCH NHIỆM
HỮU HẠN MỘT THÀNH VIÊN LÂM NGHIỆP BẢO
YÊN, TỈNH LÀO CAI
Chuyên ngành: Lâm học
Mã số: 60 62 02 01
LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC LÂM NGHIỆP
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS. Võ Đại Hải
Thái Nguyên, năm 2013
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan rằng, số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này là
trung thực, đầy đủ, rõ nguồn gốc và chưa được sử dụng để bảo vệ một học vị nào.
Các thông tin, tài liệu tham khảo sử dụng trong luận văn này đều đã được ghi rõ
nguồn gốc. Mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện cho luận văn này đã được cảm ơn.
Tôi xin chịu trách nhiệm trước Hội đồng bảo vệ luận văn, trước phòng quản lý
sau đại học và nhà trường về các thông tin, số liệu trong đề tài.
Thái Nguyên, ngày tháng năm 2013
Người viết cam đoan
Nguyễn Đức Thịnh
LỜI CÁM ƠN
Luận văn này được hoàn thành tại Trường Đại học Nông lâm Thái Nguyên
theo chương trình đào tạo Cao học chuyên ngành Lâm học khoá 19 (2011 - 2013).
Trong quá trình học tập và hoàn thành luận văn, tác giả đã nhận được sự quan tâm,
tận tình giúp đỡ của các thầy, cô giáo; các cán bộ công nhân viên Trường Đại học
Nông lâm Thái Nguyên, nhân dịp này tác giả xin chân thành cám ơn về sự giúp đỡ đó.
Trước hết, tác giả xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành tới PGS TS. Võ Đại Hải
- người hướng dẫn khoa học, đã dành nhiều thời gian hướng dẫn, tận tình giúp đỡ,
ổ ấ đề ứ
ế ớ
Ở ệ
ậ à đ
ổ ự ứ
Đề ệ ự
!" Đề ệ ế ộ ự ứ
# !" Đ ềđề ệ ự ế ộ ự
ứ $
Chương 2 NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 27
% ộ ứ &
' ươ ứ
( để ứ à ế ậ
' ) ươ ướ ả ế ấ đề
' ươ ứ ụ ể*
+ , " ổ ợ ố ệ đ ậ ụ ụđề à
Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 35
-- + % (./0 Đ ạ độ ả ấ à ạ
12)$
(-- 12)à à ơ ấ ổ ứ ủ $
) à ừ
3 + %ạ độ ả ấ
-- ,45 ả ả ệ ừ *
--+ -" 5 12ả ấ à ế ộ đ đị à
)
1 + % ơ ấ ử ụ đấ
--+ 2 " 5 12)ả ấ ệ đị à $
--+ % ) ử ụ à ừ $
ồ ố đầ ư$
$'6, ạ ế ộ$
2 BHXH Bảo hiểm xã hội
3 BHYT Bảo hiểm y tế
4 CBCNV Cán bộ công nhân viên
5 CCR Chứng chỉ rừng
6 ĐKTN, KT-XH Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội
7 ESIA Đánh giá tác động môi trường và xã hội
8 FAO Tổ chức nông lương thực thế giới
9 FSC Hội đồng quản trị rừng Quốc tế
10 GTZ
Chương trình lâm nghiệp VN - Cộng hoà liên bang
Đức
11 KHCN Khoa học công nghệ
12 KHHGĐ Kế hoạch hoá gia đình
13 KHKT Khoa học kỹ thuật
14 KNTS Khoanh nuôi tái sinh
15 NN & PTNT Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn
16 QLR Quản lý rừng
17 QLBVR Quản lý bảo vệ rừng
18 QLRBV Quản lý rừng bền vững
19 PCCCR Phòng cháy chữa cháy rừng
20 TNHH MTV LN Trách nhiệm hữu hạn một thành viên lâm nghiệp
21 SXKD Sản xuất kinh doanh
22 UBND Uỷ ban nhân dân
DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU
/ <. #, %12)33./ ả ạ đấ ạ ừ ả
8 ,4ả
/ <--%6+ $" 5 ả ố đị à ứ
/ 1 5 2)ả ơ ấ ổ ứ àđộ ũ ộ ủ &
/ < % : 2)33.ả ổ ợ ệ đấ ủ
DANH MỤC CÁC HÌNH
3-<' ) ươ ướ ả ế ấ đề*
3-<15 ướ ự ệ ứ
3-<= 5 )12)33.ơđồ ổ ứ ộ
/ 8ả 7
3-<1 + % " 12),6ơ ấ ử ụ đấ ủ
ệ $
3-<1 26 2ă ả
3-<( , ế ạ ồ đ ể$
3-$<A , ỗ à à ớ$
3-7< %6@àở ủ ườ $
3-&<1 B ơ ấ ậ ộ ậ ồ
@$
3-&5<1 B 2ơ ấ ậ ộ ậ
@ồ $$
3- <1 B 5-ơ ấ ậ ộ ậ
@ồ $$
3- 5<1 B 5-2ơ ấ ậ ộ
@ồ $$
3-<1 B ơ ấ ậ ộ ậ ấ ồ
@$7
3-5<1 B 2ơ ấ ậ ộ ậ ấ
@ồ $7
3-*<1@, , + à ồ ớ ộ ố ộ$&
3-<1 -".Aơ ấ ậ ộ đ $
3-<1 -".';ơ ấ ậ ộ đ $
3-<1 -" 3ơ ấ ậ ộ đ ượ à$
3-<1 -" 8ơ ấ ậ ộ đ ĩ 7*
3-$<1 -"8= ơ ấ ậ ộ đ ơ 7*
số 2089/QĐ-BNN-TCLN, ngày 30/8/2012 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông
thôn về việc công bố hiện trạng rừng toàn quốc năm 2011 thì đến hết 31/12/2011 diện
tích đất có rừng trên toàn quốc là 13.515.064 ha trong đó diện tích rừng tự nhiên là
10.285.383 ha, rừng trồng là 3.229.681 ha với độ che phủ là 39,7%. Để giữ được diện
tích rừng hiện có và phát triển thêm vốn rừng thì QLRBV là một yêu cầu rất cần thiết
ở nước ta.
Trong Chiến lược Phát triển Lâm nghiệp Việt Nam giai đoạn 2006 - 2020 ghi
rõ: Thiết lập, quản lý, bảo vệ và phát triển bền vững 3 loại rừng; đẩy mạnh xây dựng
thương hiệu và cấp chứng chỉ rừng cho các mặt hàng xuất khẩu; Nâng cấp năng lực
quản lý cho chủ rừng, xây dựng các tiêu chuẩn và cấp chứng chỉ rừng, mục tiêu đến
năm 2020 ít nhất 30% diện tích rừng sản xuất được cấp chứng chỉ rừng. Chương
trình Quản lý và phát triển bền vững - là một trong 5 chương trình trọng điểm quốc
gia về lâm nghiệp, có vai trò đặc biệt quan trọng trong việc lần đầu tiên xác định cho
đất nước một lâm phận ổn định 15,6 triệu ha, với 7,8 triệu ha rừng sản xuất, có 30%
được cấp chứng chỉ QLRBV, cung cấp 22,2 triệu m
3
gỗ/năm đạt kim ngạch xuất
khẩu 7,8 tỷ USD vào năm 2020.
QLRBV đòi hỏi phải đáp ứng bền vững trên cả 3 khía cạnh: kinh tế, xã hội
và môi trường, trong đó hiện nay ở Việt Nam yếu tố xã hội được đặc biệt quan tâm
vì nó gắn liền với đời sống của hàng chục triệu người dân miền núi, gắn với chủ
trương xóa đói giảm nghèo và chính sách đầu tư của Chính phủ.
Công ty TNHH một thành viên Lâm nghiệp Bảo Yên, tỉnh Lào Cai là doanh
nghiệp Nhà nước trực thuộc UBND tỉnh Lào Cai hoạt động trong lĩnh vực kinh
doanh lâm nghiệp xã hội. Trong tiến trình xây dựng mô hình kinh doanh lâm nghiệp
bền vững, theo các cách tiếp cận với chứng chỉ rừng FSC do Hội đồng quản trị rừng
thế giới cấp, với sự quan tâm, hỗ trợ của Chi cục Lâm nghiệp Lào Cai và Quỹ rừng
nhiệt đới - The Forest Trust, Công ty TNHH một thành viên Lâm nghiệp Bảo Yên
đã được lựa chọn thí điểm trong mục tiêu QLRBV, gắn kết kinh doanh có hiệu quả
- Đối tượng nghiên cứu chính của đề tài là các hoạt động sản xuất kinh doanh
của Công ty TNHH một thành viên Lâm nghiệp Bảo Yên, của người dân và mối
quan hệ qua lại về mặt xã hội giữa công ty với người dân địa phương.
- Phạm vi nghiên cứu của đề tài được giới hạn trong việc đánh giá những ảnh
hưởng về mặt xã hội của công ty đến người dân trên địa bàn 5 xã (Long Khánh,
Long Phúc, Yên Sơn, Thượng Hà, Vĩnh Yên); đối chiếu với các chỉ số, tiêu chí và
tiêu chuẩn về mặt xã hội (tiêu chuẩn 2, 3 và 4) trong Bộ tiêu chuẩn QLRBV của
Việt Nam (phiên bản 9C) để đề xuất một số giải pháp và các công việc ưu tiên
nhằm QLRBV và tiến tới cấp chứng chỉ rừng tại Công ty TNHH một thành viên
Lâm nghiệp Bảo Yên. Đề tài không đánh giá các tác động về kinh tế và môi trường
của các hoạt động sản xuất kinh doanh tại Công ty.
Chương 1
TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU
1.1. Tổng quan vấn đề nghiên cứu
1.1.1. Trên thế giới
1.1.1.1. Đánh giá tác động xã hội của các hoạt động sản xuất lâm nghiệp
Trước những năm 1990, thuật ngữ “đánh giá dự án” mới chỉ giới hạn ở đánh
giá hiệu quả bao gồm hiệu lực thực thi (efficiency) và hiệu quả (effectiveness). Từ
sau năm 1990 các hoạt động đánh giá được thực hiện đã bao gồm cả đánh giá tác
động (impact assessment), tức là xem xét các hoạt động của dự án đó có bền vững
sau khi dự án kết thúc không (John et al, 2000). Hiện nay, việc đánh giá tác động
được coi như bắt buộc đối với tất cả các hoạt động đánh giá, bao gồm tất cả các
thay đổi về sinh thái, văn hoá - xã hội, kinh tế, kỹ thuật, thể chế và chính sách đem
lại bởi các hoạt động của một chương trình, dự án.
Đánh giá tác động môi trường và xã hội (ESIA) đang ngày càng được tăng
cường và áp dụng ở nhiều ngành với mục tiêu nhằm đảm bảo cho các vấn đề môi
trường và xã hội được quan tâm thoả đáng trước khi đưa ra những lựa chọn đầu tư
quan trọng, là phương tiện phù hợp để hỗ trợ quá trình ra quyết định [5].
Đánh giá và giám sát tác động nhằm để trả lời câu hỏi: những thay đổi được
tự nhiên, kinh tế - xã hội và các nhu cầu của con người ở các quốc gia, vùng lãnh
thổ khác nhau dẫn đến sự đa dạng, phức tạp và những quan điểm khác nhau của
công tác quản lý sử dụng tài nguyên rừng bền vững ở mỗi quốc gia. Tuy nhiên,
điểm giống nhau cơ bản khi nói đến quản lý sử dụng đất đai, tài nguyên rừng bền vững
đều được thể hiện ở ba vấn đề: kinh tế, xã hội và môi trường. Cuối cùng người ta cũng
đã cố gắng đưa ra một định nghĩa về QLRBV nhằm diễn đạt bản chất của nó, đồng thời
để từ đó xây dựng nên những nguyên tắc cơ bản trong công tác QLRBV.
Khái niệm về QLRBV hình thành từ đầu thế kỷ XVIII, ban đầu chỉ chú trọng
đến khai thác, sử dụng gỗ được lâu dài, liên tục. Cùng với sự tiến bộ của khoa học,
kỹ thuật và phát triển kinh tế - xã hội, QLRBV đã chuyển từ quản lý kinh doanh gỗ
sang quản lý kinh doanh nhiều mặt tài nguyên rừng, quản lý hệ thống sinh thái rừng
và cuối cùng là QLRBV trên cơ sở các tiêu chuẩn, tiêu chí được xác lập chặt chẽ,
$
toàn diện về các lĩnh vực kinh tế, xã hội và môi trường. QLRBV là việc đóng góp
của công tác lâm nghiệp đối với sự phát triển, sự phát triển đó phải mang lại lợi ích
kinh tế, môi trường và xã hội, có thể cân bằng giữa nhu cầu hiện tại và tương lai.
Vào đầu thế kỷ 18, các Nhà lâm học Đức như Harting, GL [59], Heyer, F
[60],… đã đề xuất ra nguyên tắc sử dụng lâu bền đối với rừng thuần loài đều tuổi.
Vào thời điểm này các nhà khoa học người Pháp (Gournand, 1922) và người Thụy
Sỹ (H. Biolley) cũng đã đề ra phương pháp kiểm tra, điều chỉnh sản lượng đối với
rừng đồng tuổi khai thác chọn [58].
Hiện nay đã có nhiều tổ chức đưa ra khái niệm QLRBV như Tổ chức Gỗ
nhiệt đới (ITTO), Hiệp ước Helsinki, Ủy ban Quốc tế về môi trường và phát triển,
Các định nghĩa trên có cách diễn đạt khác nhau nhưng bao gồm hai vấn đề chính là
quản lý rừng ổn định bằng các biện pháp phù hợp nhằm đạt các mục tiêu đề ra và
đảm bảo sự bền vững về kinh tế, xã hội và môi trường (Nguyễn Ngọc Lung, 2007)
[31].
Vấn đề đặt ra với QLRBV là như thế nào? đó là công tác quản lý sử dụng đất
đai, tài nguyên rừng nhằm ngăn chặn tình trạng mất rừng do khai thác sử dụng quá
mức mà trong đó việc khai thác lợi dụng tài nguyên rừng không mâu thuẫn với việc
định và bền vững của rừng cần phải giải quyết vấn đề thị trường tiêu thụ sản phẩm
cho các khu rừng trồng kinh tế, trong đó cần có kế hoạch xây dựng và phát triển các
nhà máy chế biến lâm sản với các quy mô khác nhau trên cơ sở áp dụng các công cụ
chính sách đòn bẩy để thu hút các thành phần kinh tế tham gia vào phát triển rừng,
phương thức canh tác phải gắn với kiến thức bản địa và được người dân áp dụng.
Theo Thom R Waggener (2000) để phát triển trồng rừng theo hướng sản xuất
hàng hoá với hiệu quả kinh tế cao không chỉ đòi hỏi phải có sự đầu tư tập trung về
kinh tế và kỹ thuật mà còn phải nghiên cứu làm sáng tỏ hàng loạt vấn đề có liên
quan đến chính sách và thị trường. Chính vì vậy ở các nước phát triển như Mỹ,
Nhật, Canada, nghiên cứu về kinh tế lâm nghiệp ở cấp quốc gia hiện nay được tập
trung vào 2 vấn đề lớn là thị trường và khả năng cạnh tranh của sản phẩm.
Liu Jinlong (2004) [52] dựa trên việc phân tích và đánh giá thực tế đã đưa ra
một số công cụ chủ đạo khuyến khích tư nhân phát triển trồng rừng ở Trung Quốc là:
&
i) Rừng và đất rừng cần được tư nhân hoá.
ii) Ký hợp đồng hoặc cho tư nhân thuê đất lâm nghiệp của Nhà nước.
iii) Giảm thuế đánh vào các lâm sản.
iv) Đầu tư tài chính cho tư nhân trồng rừng.
v) Phát triển hợp tác giữa các công ty lâm nghiệp với người dân để phát triển
trồng rừng.
Những công cụ mà tác giả đề xuất tương đối toàn diện từ quan điểm chung
về quản lý lâm nghiệp, vấn đề đất đai, thuế,… cho tới mối quan hệ giữa các công ty
lâm nghiệp và người dân. Đây có thể nói là những đòn bẩy thúc đẩy tư nhân tham
gia trồng rừng ở Trung Quốc và là những định hướng cho các quốc gia khác, trong
đó có Việt Nam.
Các hình thức khuyến khích trồng rừng cũng được nhiều tác giả trên thế giới
quan tâm nghiên cứu như Narong Mahannop (2004) [53] ở Thái Lan, Ashadi and
Nina Mindawati (2004) [51] ở Indonesia, Cho thấy hiện nay ở các nước Đông Nam
Á, 3 vấn đề được xem là quan trọng, khuyến khích người dân tham gia trồng rừng là:
i) Quy định rõ ràng về quyền sử dụng đất.
Đông Dương được nhận chứng chỉ FSC vào ngày 29/02/2006 là hai khu rừng tự
nhiên ở Trung Lào [1].
1.1.2. Ở Việt Nam
1.1.2.1. Đánh giá tác động xã hội của các hoạt động sản xuất lâm nghiệp
QLRBV chỉ đạt được khi dung hoà được 3 yếu tố: kinh tế, môi trường và xã
hội. Trong một chừng mực nào đó, yếu tố xã hội chính là yếu tố quyết định, tác
động trực tiếp lên các yếu tố khác, đặc biệt ở nước ta khi cơ chế, chính sách về
QLRBV vẫn còn đang trong quá trình hoàn thiện.
Tiêu biểu là chương trình Lâm nghiệp Việt Nam - Cộng hòa Liên bang Đức
(2007), trong chương trình hoạt động đã tiến hành lập các báo cáo tư vấn đánh giá
tác động ở một số lâm trường tại Việt Nam [12], [13], [14], [15].
Trên thực tế rất nhiều lâm trường, các công ty lâm nghiệp hoạt động yếu kém
đối với các vấn đề xã hội, không giải quyết triệt để những bất đồng giữa lợi ích đơn
vị với lợi ích cộng đồng. Người dân sống tại khu vực rừng phải chịu ảnh hưởng bởi
những tác động tiêu cực trong khi các hoạt động quản lý rừng không thể mang lại
lợi ích và đảm bảo những nhu cầu tối thiểu của họ. Do vậy, việc tiến hành đánh giá
tác động xã hội nhằm giải quyết các vấn đề đặt ra của hoạt động quản lý rừng là vấn
đề cấp thiết trong giai đoạn hiện nay đối với mỗi lâm trường (Nguyễn Minh Hằng,
Vũ Năm, 2006)[22].
Ở Việt Nam, “đánh giá tác động” được quan tâm chú ý nhiều từ khi đổi mới,
đặc biệt trong các dự án phát triển; đánh giá dự án không chỉ được đánh giá qua các
tiêu chí phân tích tài chính mà nó còn bao gồm cả những tiêu chí đánh giá về hiệu
quả xã hội và môi trường. Tuy nhiên, trong bối cảnh chuyển đổi sang kinh tế thị
trường, đánh giá hiệu quả kinh tế thường được chú trọng hơn. Mặc dù vậy, môi
trường và xã hội cũng tác động không nhỏ đến quá trình sản xuất kinh doanh nhất là
trong kinh doanh lâm nghiệp, vì vậy giai đoạn hiện nay để QLRBV người ta tiến
hành đánh giá cả tác động về kinh tế, môi trường và xã hội.
Phạm Xuân Thịnh (2002) [47], Đàm Đình Hùng (2003) [26] đã đề cập đến một
số tác động của dự án về mặt kinh tế, xã hội và môi trường, đúc kết các kinh nghiệm,
1.1.2.2. Nghiên cứu về quản lý rừng bền vững
Theo Nguyễn Ngọc Lung (1998) [31], thì công tác quản lý sử dụng tài nguyên
rừng ở Việt Nam từ trước tới nay được chia thành 3 thời kỳ theo quá trình phát triển
của lịch sử cũng như quá trình phát triển kinh tế xã hội của đất nước như sau:
- Thời kỳ trước năm 1945: Toàn bộ rừng nước ta là rừng tự nhiên đã được
chia theo các chức năng để quản lý sử dụng:
Rừng chưa quản lý: Là những diện tích rừng ở những vùng núi hiểm trở, dân
cư thưa thớt. Nhà nước thực dân chưa có khả năng quản lý, người dân được
tự do sử dụng lâm sản, đốt nương làm rẫy. Việc khai thác lâm sản đang ở
mức tự cung tự cấp, lâm sản chưa trở thành hàng hóa.
Rừng mở để kinh doanh: Là những diện tích rừng ở vùng có dân cư và đường
giao thông thuận lợi cho vận chuyển lâm sản. Những diện tích này được chia
thành các đơn vị như khu, sau khu là các lô khai thác, việc khai thác được tiến
hành theo chu kỳ sản lượng.
Rừng cấm: Là những diện tích rừng sau khai thác, cần được bảo vệ để tái
sinh trong cả chu kỳ theo vòng quay điều chế.
Nhìn chung, trong thời kỳ trước 1945 tài nguyên rừng Việt Nam còn phong
phú, nhu cầu lâm sản nói chung của con người còn thấp, rừng bị khai thác lợi dụng
tự do. Mức độ tác động của con người vào rừng còn ít, tài nguyên rừng còn khá
phong phú, vấn đề QLRBV chưa được đặt ra (Nguyễn Ngọc Lung, 2007) [32].
- Thời kỳ từ năm 1946 - 1990: với sự ra đời của ngành Lâm nghiệp các hoạt
động của ngành đã trải qua nhiều giai đoạn khác nhau. Ngay sau hoà bình lập lại,
toàn bộ diện tích rừng và đất rừng ở miền Bắc được quy hoạch vào các lâm trường
quốc doanh. Nhiệm vụ chủ yếu là khai thác lâm sản để phục vụ cho nhu cầu phát
triển của các ngành kinh tế. Nhiệm vụ xây dựng và phát triển vốn rừng tuy có đặt ra
nhưng chưa được các đơn vị sản xuất kinh doanh lâm nghiệp quan tâm đúng mức.
Giai đoạn từ 1946 - 1960 công tác bảo vệ rừng chủ yếu là khoanh nuôi bảo
vệ, hướng dẫn nông dân miền núi sản xuất trên nương rẫy, ổn định công tác
định canh định cư, khôi phục kinh tế sau chiến tranh.
tiêu chuẩn QLRBV cho Việt Nam, đến nay đã hoàn thành phiên bản 9C. Những tiêu
chuẩn, tiêu chí này dựa trên cơ sở điều chỉnh, bổ sung những tiêu chuẩn, tiêu chí của
FSC quốc tế, có sử dụng nhiều ý kiến đóng góp của các nhà quản lý và các nhà khoa
học lâm nghiệp trong nước và quốc tế để đảm bảo những tiêu chuẩn quốc tế vừa phù
hợp với điều kiện Việt Nam và được ban giám đốc FSC quốc tế phê duyệt [48]. Do
những tiêu chuẩn và tiêu chí áp dụng chung trong toàn quốc, đồng thời phải phù hợp
với tiêu chuẩn, tiêu chí quốc tế nên việc áp dụng không thể phù hợp với mọi trường
hợp và mọi điều kiện của từng địa phương. Vì vậy, khi áp dụng các tiêu chuẩn, tiêu
chí cần có sự mềm dẻo trong một phạm vi nhất định nào đó, vừa được các tổ chức
chứng chỉ rừng quốc tế FSC và FSC quốc gia chấp nhận.
1.1.2.3. Các chính sách thu hút người dân tham gia vào công tác quản lý rừng
Từ sau khi đổi mới chiến lược phát triển lâm nghiệp Nhà nước đã ban hành
hàng loạt chính sách về đất đai, đầu tư, tín dụng,… đã có tác động mạnh tới phát
triển sản xuất lâm nghiệp ở Việt Nam.
- Chính phủ nước CHXHCN Việt Nam (1998), Quyết định 661/QĐ - TTg
ngày 29 tháng 07 năm 1998 về mục tiêu nhiệm vụ, chính sách và tổ chức thực hiện
dự án trồng mới 5 triệu ha rừng. [9]
- Nghị định 01/CP; 02/CP; 163/1999/NĐ-CP ngày 16/11/1999 về giao đất,
cho thuê đất lâm nghiệp cho tổ chức, hộ gia đình và các cá nhân sử dụng ổn định
lâu dài vào mục đích lâm nghiệp [10].
- Luật Bảo vệ và Phát triển rừng sửa đổi (2004).
- Chiến lược phát triển Lâm nghiệp giai đoạn 2006 – 2020 [3].
- Luật khuyến khích đầu tư trong nước, nghị định 43/1999/NĐ - CP, nghị
định 50/1999/NĐ-CP,
- Luật Đất đai sửa đổi năm 2003 bổ sung Luật Đất đai năm (1998, 2001).
- Nghị định số 99/2009/NĐ-CP ngày 02/11/2009 của Chính phủ về xử phạt vi
phạm hành chính trong lĩnh vực quản lý rừng, bảo vệ rừng và quản lý lâm sản [6].
- Nghị định 32/2006/NĐ-CP ngày 30/3/2006 [6] của Chính phủ về việc quản
lý thực vật rừng, động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm.
Nghiên cứu về kinh tế và chính sách phát triển trồng rừng kinh tế ở Việt
Nam trong thời gian gần đây cũng đã được quan tâm nhiều hơn, song cũng chỉ tập
trung vào một số vấn đề như: phân tích và đánh giá hiệu quả kinh tế của cây trồng,
sử dụng đất lâm nghiệp và một số nghiên cứu nhỏ về thị trường. Các công trình
quan trọng có thể kể đến là:
- Đỗ Doãn Triệu (1997) [44] đã nghiên cứu xây dựng một số luận cứ khoa
học và thực tiễn góp phần hoàn thiện các chính sách khuyến khích đầu tư nước
ngoài vào trồng rừng nguyên liệu công nghiệp.
- Võ Nguyên Huân (1997) [24] “Đánh giá hiệu quả giao đất giao rừng ở
Thanh Hoá”, nghiên cứu các loại hình chủ rừng sản xuất và khuyến nghị các giải
pháp chủ yếu nhằm phát huy nội lực của chủ rừng trong quản lý và sử dụng bền
vững. Kết quả nghiên cứu đã chỉ ra những khó khăn và hạn chế của chính sách giao
đất khoán rừng và đề xuất các khuyến nghị nhằm nâng cao hiệu quả giao đất lâm
nghiệp và khoán bảo vệ rừng.
- Vũ Long (2000) [30] “Đánh giá hiệu quả sử dụng đất sau khi giao và khoán
đất lâm nghiệp ở các tỉnh miền núi phía Bắc”;
- Đỗ Đình Sâm, Lê Quang Trung (2003) [40]. “Đánh giá hiệu quả trồng rừng
công nghiệp ở Việt Nam”. Viện Khoa học Lâm Nghiệp Việt Nam.
$
Phạm Xuân Phương (2003) [35] đã rà soát các chính sách liên quan đến rừng
như chính sách về đất đai, đầu tư tín dụng tuy nhiên cũng chỉ rõ các chủ trương,
chính sách là rất kịp thời, có ý nghĩa, nhưng trong quá trình triển khai thực hiện còn
gặp nhiều bất cập. Tác giả cũng định hướng hoàn thiện các chính sách để có quy
hoạch tổng thể cho vùng trồng rừng nguyên liệu, chủ rừng có thể vay vốn trồng
rừng đảm bảo có lợi nhuận, đảm bảo rừng được trồng với tập đoàn giống tốt.
Nguyễn Xuân Quát, Nguyễn Hồng Quân và Phạm Quang Minh, (2003) [36]
Cho thấy thực trạng trồng rừng nguyên liệu phục vụ công nghiệp chế biến gỗ và
lâm sản trong thời gian qua đã thu được một số kết quả đáng kể nhưng cũng còn
nhiều vấn đề cần giải quyết như: diện tích rừng trồng sản xuất hàng năm chỉ đạt
50% kế hoạch, các cơ sở chế biến còn ở xa vùng nguyên liệu, chính sách còn chưa
nguyên rừng bền vững tại khu vực rừng phòng hộ hồ Cấm Sơn, huyện Lục Ngạn,
tỉnh Bắc Giang [27].
- Nguyễn Tiến Thành (2007): Quy hoạch kinh doanh rừng theo tiêu chuẩn
QLRBV tại lâm trường Yên Sơn, huyện Yên Sơn, tỉnh Tuyên Quang [43].
- Phương án quản lý rừng của công ty TNHH một thành viên lâm nghiệp Bảo
Yên tỉnh Lào Cai [49]
Bên cạnh những nỗ lực của Chính phủ và Bộ NN&PTNT cũng đã có nhiều
tổ chức và dự án quốc tế hỗ trợ quá trình hướng tới QLRBV ở Việt Nam. Tiêu biểu
là Chương trình Hỗ trợ Quản lý và Sử dụng rừng bền vững (GTZ) với các hoạt
động: Lập bản đồ và phân vùng chức năng rừng trong môi trường quy hoạch quản
lý rừng tự nhiên của các lâm trường quốc doanh (tháng 11 năm 2006) với hoạt
động; Tổ chức hội thảo xây dựng kế hoạch và thực hiện QLRBV (tháng 5 năm
2007) [20]; Hướng dẫn xây dựng Phương án QLR tại các Lâm trường điểm [19].
Những nghiên cứu trên có ý nghĩa quan trọng trong việc góp phần hướng tới
QLRBV của các địa phương và thể hiện được sự cam kết của Việt Nam với cộng
đồng quốc tế trong vấn đề QLRBV. Tuy nhiên, đây mới chỉ là những nghiên cứu
mang tính chất về cơ sở lý luận chưa phân tích được các yếu tố ảnh hưởng đến quản
&