quản lý thời gian tại một số doanh nghiệp việt nam - Pdf 24

MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
“Thời gian” là một trong những thứ quan trọng nhất mà con người có. Khi
thời gian đã trôi đi thì không bao giờ quay trở lại. Có thể nói thời gian là điều
kiện quan trọng để mỗi người tồn tại. Đối với từng người, thời gian là sự sống, là
tiền, là tri thức. Những công trình, phát minh vĩ đại ra đời cũng cần thời gian. Giá
trị của thời gian thậm chí còn quý hơn vàng. Chúng ta có thể kiếm tiền nhưng
không thể mua được thời gian.
Tuy nhiên, tất cả mọi người, ai cũng chỉ có một lượng thời gian hạn định:
24 giờ mỗi ngày, 168 giờ 1 tuần và 8.736 giờ một năm. Dù là người giàu có hay
nắm giữ quyền lực trong tay thì quỹ thời gian của họ cũng không thể tăng lên.
Cách duy nhất để làm “tăng” thời gian một cách tương đối là quản lý và sử dụng
cẩn thận lượng thời gian mà mình có. Hạn chế thời gian lãng phí đồng nghĩa với
bạn có thể dành nhiều thời gian hơn vào những mục tiêu quan trọng của bản thân
và nâng cao hiệu quả công việc. Quản lý thời gian là chìa khóa để thành công,
cho phép bạn kiểm soát cuộc sống thay vì thụ động, bị cuốn trôi. Bạn thực hiện
nhiều hơn, bạn đưa ra quyết định tốt hơn, bạn làm việc hiệu quả hơn, và tất nhiên,
bạn thành công hơn. Chúng ta không thể tạo ra thời gian nhiều hơn, nhưng chúng
ta hoàn toàn có thể sử dụng nó tốt hơn.
Ai cũng hiểu thời gian là có hạn, nhưng không phải ai cũng tận dụng tốt
quỹ thời gian của mình cũng như biết quản lý thời gian một cách khoa học. Nhu
cầu được nghỉ ngơi, giải trí của con người là chính đáng. Tuy nhiên, nhiều người
không có đủ thời gian cho những nhu cầu đó. Nhiều người luôn phải rượt đuổi,
không hiểu tại sao mình đã rất cố gắng mà không nhận được kết quả như mong
muốn? Tại sao sự cố gắng không mang thành công đến với họ? Cái gì đã “chiếm
mất” thời gian của chúng ta? Nguyên nhân chính là họ chưa biết cách quản lý thời
gian cho hiệu quả, và đôi khi là họ không biết mình đã lãng phí thời gian như thế
nào. Vậy phải làm thế nào để quản lý tốt nguồn tài nguyên quý giá này?
Với mỗi doanh nghiệp, quản lý thời gian cũng hết sức quan trọng. Karl
Marx (1818-1883) đã từng nói: “Thời gian không bao giờ trở lại, để thời gian
trôi đi một cách trống rỗng chính là tự sát từ từ. Suy cho cùng toàn bộ nền kinh tế

việc.Từ đó làm giảm hiệu quả công việc mà họ thực hiện. Theo báo cáo Năng
suất của APO năm 2010, xét về năng suất lao động thì Việt Nam chỉ đạt mức
2.072 USD/người lao động, thấp nhất trong số 10 nước châu Á được so sánh gồm
Thái Lan, Ấn Độ, Malaysia, Philippines, Singapore, Trung Quốc, Hàn Quốc, Nhật
Bản, Indonesia và Việt Nam. Tổng cục Thống kê cho biết, năng suất lao động
Việt Nam đang thấp hơn nhiều so với các nước trong khu vực và châu Á. Cụ thể
là, năng suất lao động của lao động Việt Nam hiện thấp hơn Indonesia 10 lần,
Malaysia 20 lần, Thái Lan 30 lần, Nhật Bản tới 135 lần. Những nhà đầu tư của
các nước khác nhìn vào đó, đã có rất nhiều ý kiến phản ánh sự thiếu chuyên
nghiệp của người lao động Việt Nam. Điều này làm mất đi hình ảnh và giá trị của
con người Việt nói chung và người lao động trong các doanh nghiệp nói riêng.
Nền kinh tế Việt Nam vẫn trong thời kì khôi phục sau suy thoái. Các doanh
nghiệp đòi hỏi phải nỗ lực trỗi dậy. Khi mà cạnh tranh các nguồn lực khác đã
bước vào giai đoạn bão hòa thì quản lý thời gian chính là một trong những chìa
khóa cho sự phát triển mạnh mẽ hơn của các doanh nghiệp. Chính vì vậy, nhóm
tác giả chọn đề tài “Quản lý thời gian tại một số doanh nghiệp Việt Nam” làm
đề tài nghiên cứu khoa học. Đề tài sẽ đề cập đến công tác quản lý thời gian của
các lao động gián tiếp trong một số doanh nghiệp Việt Nam.
2. Mục đích nghiên cứu
- Mục đích nghiên cứu chung: Thông qua tìm hiểu các nhân tố ảnh hưởng đến
quản lý thời gian của lao động gián tiếp trong doanh nghiệp; đưa ra đề xuất cho
người quản lý doanh nghiệp nhằm nâng cao hiệu quả quản lý thời gian người lao
động.
- Mục tiêu nghiên cứu cụ thể:
• Hệ thống hóa lý thuyết về quản lý thời gian, vai trò của quản lý thời gian
• Tổng quan các công trình đã nghiên cứu về quản lý thời gian
• Phân tích các nhân tố ảnh hưởng tới quản lý thời gian tại một số doanh
nghiệp Việt Nam
• Đưa ra được các đề xuất nhằm nâng cao hiệu quả quản lý thời gian tại một
số doanh nghiệp Việt Nam

 Nghiên cứu chính thức
Sử dụng phương pháp định lượng với kĩ thuật điều tra thông qua phiếu
khảo sát
c. Phương pháp xử lí số liệu
• Sử dụng phần mềm SPSS 16.0 để phân tích dữ liệu và kiểm định thang đo.
• Phương pháp tổng hợp, phân tích, so sánh, đánh giá, phương pháp chuyên
gia,…
5. Kết cấu đề tài
Ngoài phần mở đầu, kết luận, mục lục, danh mục bảng biểu, danh mục tài
liệu tham khảo, phụ lục thì nội dung của đề tài được kết cấu gồm 04 chương:
• Chương 1: Tổng quan các công trình nghiên cứu về quản lý thời gian
• Chương 2: Thực trạng quản lý thời gian tại một số doanh nghiệp Việt
Nam
• Chương 3: Phương pháp và kết quả nghiên cứu quản lý thời gian tại
một số doanh nghiệp Việt nam
• Chương 4: Một số đề xuất nhằm nâng cao hiệu quả quản lý thời gian
tại một số doanh nghiệp Việt Nam
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU VỀ
QUẢN LÝ THỜI GIAN
1.1 Tổng quan về thời gian và quản lý thời gian
1.1.1. Khái niệm thời gian
“Thời gian” là một khái niệm đã xuất hiện từ rất lâu trong lịch sử phát triển
loài người. Tuy nhiên, cho đến nay vẫn chưa có bất kì định nghĩa nào về thời gian
được xem là hoàn chỉnh và thể hiện được một cách toàn diện nhiều góc độ tiếp
cận khác nhau. Có người cho rằng thời gian là hữu hình, cụ thể và cân đong được
qua các đại lượng thời gian như: năm, tháng, tuần, ngày, giờ, phút, giây. Tuy
nhiên, nếu quan niệm như vậy thì không hẳn chính xác. Nó chỉ phù hợp khi dùng
để đo đạc, quy đổi một lượng thời gian cụ thể nào đó. Quan niệm thời gian này đã
không nêu lên được vai trò cũng như giá trị của thời gian. Ngạn ngữ có câu: “thời
gian là vàng”. Ngay từ xưa, cha ông chúng ta đã nhận thức được tầm quan trọng

nhiều quan niệm khác nhau liên quan đến định nghĩa và vai trò của “quản lý thời
gian”. Theo Harris (2008), quản lý thời gian là “quá trình khéo léo áp dụng thời
gian để hoàn thành và làm hoàn hảo một hoạt động cụ thể trong khoảng thời
gian bị hạn chế”. Theo Hansen (2011): “quản lý thời gian không phải là hoạt
động để tạo ra nhiều thời gian hơn mà là việc sử dụng tốt nhất thời gian mà
chúng ta có”. Như vậy, cả Harris và Hansen đều cho rằng, quản lý thời gian có
nghĩa là trong một lượng thời gian hạn định đó, chúng ta phải làm thế nào để sử
dụng và phân bổ thời gian vào các hoạt động một cách tối ưu nhất. Kristan (2010)
lại cho rằng “quản lý thời gian là một việc cần phải bỏ ra nhiều công sức, phải
thực hiện một cách cẩn thận, có ý thức và có mục đích; không được chùn bước
khi gặp khó khăn mà phải đối mặt với nó”. Tiếp cận ở góc độ này, Kristan đã
nhấn mạnh vào nỗ lực, sự cố gắng để có thể quản lý thời gian một cách hiệu quả
nhất. Hoạt động quản lý thời gian không đơn giản chút nào. Nhận thức được ý
nghĩa của công tác quản lý thời gian, vạch ra được một kế hoạch sử dụng thời
gian tối ưu đã khó; làm theo đúng với kế hoạch, quản lý các hoạt động trong tầm
kiểm soát và giới hạn thời gian đã vạch ra càng khó khăn hơn. Tác giả Forsyth
(2010) lại cho rằng: “quản lý thời gian không chỉ quan tâm đến việc đóng gói các
hoạt động với các khoản thời gian có sẵn, mặc dù điều này là một phần của quản
lý thời gian, mà còn phải đảm bảo rằng mục tiêu được đáp ứng’’. Do đó, quản lý
thời gian không chỉ là đưa ra một khoảng thời gian bất kỳ cho một công việc mà
còn phải dựa vào tính chất công việc để “giao” cho nó một khoảng thời gian hợp
lý. Bên cạnh đó, trong khoảng thời gian đã định, kèm theo các yêu cầu công việc,
phải nỗ lực hoàn thành nhiệm vụ, đạt được mục tiêu đúng thời gian, chứ không
phải làm đại khái, hết thời gian thì có thể bỏ dở. Nhận định của Forsyth phải
chăng cũng giúp chúng ta nhận thức rằng không nên cứng nhắc, gắn kết một
khoảng thời gian với một công việc, mà có thể linh hoạt, đưa ra một khoảng thời
gian cho một nhóm công việc để việc phân bổ thời gian linh động hơn, giải quyết
được những vấn đề phát sinh thêm. Nói tóm lại, có thể hiểu "Quản lý thời gian là
hành động hoặc quá trình lập kế hoạch và thực hiện kiểm soát có ý thức số lượng
thời gian dành cho các hoạt động cụ thể, đặc biệt là nâng cao kết quả, hiệu quả

quan, lập kế hoạch và kỷ luật sẽ làm cho họ ít khẩn cấp và dễ dàng hơn trong
việc xử lý các công việc”. Bổ sung thêm một lợi ích mà hoạt động quản lý thời
gian mang lại, Seaward (2011) cho rằng: “Quản lý thời gian có rất nhiều lợi ích,
thay vì rượt đuổi mọi thứ trong trạng thái điên cuồng, bạn cảm thấy chủ động
hơn trong thực hiện công việc và có thời gian để thưởng thức thú vui của cuộc
sống”. Nhiều tác giả khác cũng phản ánh lợi ích của quản lý thời gian như:
- Giúp chúng ta đạt được mức năng suất cao hơn (Green & Skinner,
2005), Alexander &Dobson, 2008)): tức là trong cùng một khoảng thời
gian, chúng ta có thể làm được nhiều công việc hơn, hoàn thành nhiều
mục tiêu hơn. Trong một doanh nghiệp, thời gian được coi là một trong
những nguồn lực quý giá. Công tác quản lý thời gian sẽ giúp doanh
nghiệp phát huy được sức mạnh, có thể trở thành lợi thế so sánh trong
thời đại hiện nay. Đặc biệt là đối với các doanh nghiệp hoạt động theo
nguyên tắc Just-in-time (JIT). Tăng năng suất mỗi cá nhân trong một tổ
chức, sẽ góp phần thúc đẩy sức sản xuất của cả tổ chức đó.
- Có nhiều năng lượng hơn để hoàn thành nhiệm vụ (Limoncelli (2006),
Becker & Mustric (2008), Christie (2009)): đối với bản thân mỗi con
người, quản lý thời gian vừa tránh những áp lực về thời gian, tránh được
sự dàn trải thời gian vào các công việc không cần thiết; từ đó, con người
sử dụng năng lượng của mình một cách tập trung hơn vào những vấn đề
quan trọng, cần thiết.
- Giảm bớt các căng thẳng (Bhugra and Howes (2007), Brott (2008),
Christie (2009)): Đã có ý kiến cho rằng: thời gian quản lý con người
chứ không phải con người quản lý thời gian. Thực tế cho thấy rằng, với
một lượng thời gian có hạn và với những công việc, nhiệm vụ cần giải
quyết, con người bị chi phối, phải tìm cách phân chia thời gian cho các
công việc và phải chạy theo những thứ đã vạch ra. Quả thực, con người
không thể tạo ra thêm nhiều thời gian hơn cho mình, nhưng chính việc
quản lý thời gian, tức là biết phân bổ và sử dụng hợp lý, con người sẽ
giảm bớt những lo âu, căng thẳng, thậm chí là khủng hoảng thời gian.

hoàn thành trong ngày, hoặc các công việc chưa cần được thực hiện trước
và không kịp thời gian cho các công việc thật sự cần làm. Lịch công tác
cũng như danh mục các công việc cần làm, tuy nhiên, nó gắn một khoảng
thời gian cho một công việc cụ thể, sắp xếp các công việc đó theo một thứ
tự nhất định. Rõ ràng, thế hệ thứ hai này có tính ưu việt hơn. Nó giúp con
người lập ra được một kế hoạch cụ thể, có giới hạn thực hiện rõ ràng. Việc
sắp xếp các công việc cũng sẽ hạn chế con người sa đà vào làm một việc
mà quên đi việc thực hiện những nhiệm vụ còn lại. Nhưng phương pháp
này cũng còn một số hạn chế, đặc biệt là việc con người sắp xếp tất cả các
công việc lên lịch có thể ảnh hưởng tới tính khả thi của việc thực hiện.
- Thế hệ thứ ba: giống với thế hệ thứ 2, tuy nhiên, các công việc trong lịch
công tác phải thông qua một sự lựa chọn, ưu tiên các nhiệm vụ quan trọng.
Và lịch công việc được xây dựng trên cơ sở mục đích dài hạn. Mặc dù có
nhiều ưu điểm hơn hai thế hệ trước, cả 3 thế hệ vẫn chi hỗ trợ việc quản lý
công việc và thời gian, nhưng lại chưa đề cập đến mối quan hệ và kết quả
cuối cùng của các công việc
Hiện nay, bên cạnh các phương pháp quản lý thời gian, cũng có nhiều mô
hình, nguyên tắc có thể áp dụng trong việc nâng cao hiệu quả của hoạt động quản
lý này:
(1): Ma trận Esenhower trong việc xác định thứ tự công việc ưu tiên:
Hình 1.1: Ma trận Esenhower
Nguồn: Theo blog.joemanna.com
Đây là ma trận được chia thành 4 ô, dựa trên 2 tiêu chí là mức độ khẩn cấp
(Urgency) và mức độ quan trọng (Importance). Trên thực tế, mô hình này đã được
áp dụng khá phổ biến.Tuy nhiên, việc phân chia các công việc vào các ô cho phù
hợp, khoa học thì không ít người còn cảm thấy khó khăn. Do đó, cần dựa trên
thực tiễn từng công việc, yêu cầu nhiệm vụ cụ thể thì mới có thể sắp xếp phù hợp
nhất. Trong ma trận có 4 ô tương ứng với 4 nhóm công việc: QUAN TRỌNG và
KHẨN CẤP, QUAN TRỌNG nhưng KHÔNG KHẨN CẤP, ÍT QUAN TRỌNG
nhưng KHẨN CẤP, ÍT QUAN TRỌNG và KHÔNG KHẨN CẤP. Đối với mỗi

dụng để thực hiện các công việc có liên quan đến nhiệm vụ, công việc của mình
thì ít hơn rất nhiều. Ngược lại, nhiều công ty ở châu Âu, người lãnh đạo sẽ cho
phép các nhân viên của mình tự do sử dụng cafe, nghỉ ngơi, giải trí, chỉ cần họ
hoàn thành các công việc đúng tiến độ, hiệu quả. Từ nguyên tắc Paretto, rõ ràng,
trong hoạt động quản lý thời gian, không nhất thiết phải quản lý một cách cưỡng
bức, ép buộc mà để cho mỗi người tự quản lý thời gian của họ theo một chừng
mực, điều chỉnh của công ty thì có thể mang lại hiệu quả tốt hơn.
1.1.5. Các nhân tố ảnh hưởng đến hoạt động quản lý thời gian
Rõ ràng, công tác quản lý thời gian cũng như các phương pháp quản lý thời
gian đã được nghiên cứu và áp dụng rộng rãi. Tuy nhiên, có nhiều người không
hiểu vì sao mình luôn rơi vào tình trạng thiếu hụt thời gian.Có cả những người
cảm thấy mình luôn nỗ lực, cố gắng để hoàn thành công việc nhưng không đáp
ứng được yêu cầu thời gian. Để có thể tìm ra được các đề xuất cụ thể, trước hết, ta
phải tìm ra được những nhân tố nào tác động đến hoạt động quản lý thời gian.Rất
nhiều nghiên cứu đi trước đã trình bày, phân tích các nhân tố, hoạt động có ảnh
hưởng đến công tác quản lý thời gian với những cách tiếp cận khác nhau. Có
những nghiên cứu chỉ ra được những hoạt động thường gây lãng phí thời gian:
không biết nói “không”, điện thoại quá lâu, tiếp khách quá nhiều, văn phòng bừa
bộn, trì hoãn công việc, giao tiếp kém, Nghiên cứu khác thì định lượng một số
hoạt động giải trí cụ thể làm tiêu tốn thời gian trong giờ làm việc: 73% số người
nghiên cứu thừa nhận họ dùng nhiều thời gian cho các hoạt động không liên quan
đến công việc, trong đó: 48% sử dụng internet vào việc riêng, 33% dành thời gian
tán gẫu với động nghiệp, 30%dành thời gian cho các việc làm thêm khác, 19%
dành cho thời gian nói chuyện qua điện thoại, 15% nghỉ giải lao hoặc ăn trưa quá
lâu. Nhiều nghiên cứu khác được thực hiện đã chỉ ra được các nhân tố ảnh hưởng
đến hoạt động quản lý thời gian của đối tượng là sinh viên, với các nhân tố được
nêu ra như: không có mục tiêu và thứ tự ưu tiên, không lập kế hoạch công việc,
các cuộc gặp gỡ không cần thiết, sử dụng điện thoại, internet, Tuy nhiên, hầu
hết các nghiên cứu trên đều thể hiện các nhân tố tác động ở mức độ các hoạt động
cụ thể. Nếu xét đến việc phản ánh các nhân tố một cách tổng quát đến hoạt động

mình, David Fontana đã xây dựng công thức:
Quản lý thời gian tốt = Động cơ đúng + tâm trạng đúng + kỹ năng chính xác
Đặc biệt, trong số các nghiên cứu về quản lý thời gian, nhóm tác giả quan
tâm đến bài nghiên cứu: “Các nhân tố ảnh hưởng đến hành vi quản lý thời gian
của các nhà quản trị doanh nghiệp nhỏ” của tác giả Peter McNamara. Thực tế,
như chúng ta đã biết, hầu hết các doanh nghiệp Việt Nam là các doanh nghiệp vừa
và nhỏ.Vì vậy, bài nghiên cứu của Peter McNamara có mối quan hệ rất gần với
bài nghiên cứu mà nhóm sẽ thực hiện. Đây là nghiên cứu không chỉ nhằm khám
phá những yếu tố ảnh hưởng hành vi quản lý thời gian của các doanh nghiệp nhỏ,
nó cũng cố gắng để nghiên cứu các điều kiện cho phép quản lý thời gian để được
thực hành. Ông Peter McNamara đã đưa ra mô hình như sau:
- Nhân tố con người: Peter McNamara đã tổng hợp từ nhiều nghiên cứu khác
để chỉ ra một số nhân tố thuộc về con người có tác động đến hoạt động
quản lý thời gian như: tính đúng giờ, làm nhiều việc một lúc, việc lập kế
hoạch, tính kiên nhẫn. Theo đó, những nhà quản trị cấp cao hơn trong cơ
cấu tổ chức thì cũng cần kiểm soát hoạt động quản lý thời gian tốt hơn. Bên
cạnh đó, khi sử dụng công cụ hồ sơ tâm lý, tác giả chỉ ra tồn tại một mối
quan hệ giữa điểm “J” và tính có kế hoạch, trật tự của cuộc sống con người.
Theo quy luật lợi ích giảm dần, con người thích thú với việc nhận được
phần thưởng nhỏ sớm hơn là việc chờ đợi để nhận được phần thưởng lớn
hơn sau đó. Vì vậy, con người có xu hướng làm nhiều việc cùng một lúc
(Souitaris và Maestro (2010)). Ngoài ra, kinh nghiệm và tuổi tác của con
người cũng ảnh hưởng đến hiệu quả quản lý thời gian. Pansiri và Temtime
(2010) đã cho thấy rằng nhà quản lý có kinh nghiệm xem vấn đề hoàn toàn
khác với các nhà quản lý có ít kinh nghiệm.
- Sự cân bằng cuộc sống - công việc: tháng 4 năm 2009, Thượng viện Úc đã
chính thức thông qua “tiêu chuẩn tối thiểu của sự cân bằng cuộc sống và
công việc”. Đối với các nhà quản trị của các doanh nghiệp nhỏ, sự cân
bằng này có thể còn giá trị hơn giấc mơ biến thành hiện thực. Theo báo cáo
của Spinks (2004), các nhà quản trị, đặc biệt là các nhà quản trị của các

quản trị và doanh nghiệp của họ. Nó bao gồm sự cạnh tranh của ngành, nhu
cầu khách hàng và khả năng đặt giá của các nhà cung ứng (Nankervis,
Compton and Baird (2008)).
- Công nghệ thông tin: sự bao phủ rộng rãi của công nghệ cho thấy rằng mức
độ áp dụng máy tính và một loạt các thiết bị thông tin liên lạc khác tại các
doanh nghiệp là rất lớn. Những thiết bị này giúp hoàn thành công việc một
cách tốt hơn. Việc sử dụng internet là một phần của các doanh nghiệp kinh
doanh. Nghiên cứu này chỉ ra rằng (mặc dù thực tế ngược lại): việc sử dụng
internet sẽ cải thiện cuộc sống làm việc của nhà quản trị và đặc biệt liên
quan đến quản lý thời gian của họ. Email và lịch phần mềm của Microsoft
cũng được thiết kế như một công cụ quản lý thời gian. Sự phụ thuộc ngày
càng lớn khi điện thoại di động và các thông tin liên lạc khác thúc giục ý
thức của nhân viên và tăng cường độ lao động.
Với mỗi góc độ tiếp cận khác nhau, các nhân tố được đưa ra cũng khác
nhau.Nghiên cứu của David Fontana chỉ tập trung vào yếu tố cá nhân trong quản
lý thời gian. Tuy nhiên, trong một doanh nghiệp _một môi trường mang tính chất
cộng đồng, tập thể thì hiệu quả quản lý thời gian của doanh nghiệp không chỉ phụ
thuộc vào mỗi người. Do đó, đề tài sẽ sử dụng nghiên cứu này để phân tích các
nhân tố cụ thể thuộc về nhân tố con người trong bài nghiên cứu của nhóm. Với
kết quả nghiên cứu của Robonson, nhóm tác giả nhận thấy đây là cách tiếp cận
hay và mang tính chất khái quái. Vì vậy, hướng tiếp cận đề tài của nhóm cũng
giống với nghiên cứu của Robonson: Đi từ các nhân tố lớn, trong mỗi nhân tố chỉ
rõ được các nhân tố nhỏ hơn tác động đến hiệu quả quản lý thời gian. Nhóm tác
giả đặc biệt quan tâm tới nghiên cứu của Peter McNamara. Phạm vi của đề tài mà
Peter McNamara nghiên cứu là trong các doanh nghiệp vừa và nhỏ rất phù hợp
với đặc điểm của doanh nghiệp Việt Nam (Hầu hết là các doanh nghiệp vừa và
nhỏ). Các nhân tố mà Peter McNamara đưa ra sẽ chính là các nhân tố cơ sở mà
nhóm tác giả đưa ra trong bài nghiên cứu của mình.Tuy nhiên, đối với mỗi nhóm
đối tượng khác nhau thì hoạt động quản lý thời gian sẽ phụ thuộc vào các nhân tố
khác nhau.Mức độ tác động của mỗi nhân tố lên mỗi đối tượng cũng khác nhau.

quan tâm. Như đã nói ở trên, con người Việt Nam có khả năng thích ứng cao và
nhanh nhẹn.Tuy nhiên, hiệu quả làm việc của các doanh nghiệp Việt Nam rất
thấp. Người lao động thường làm việc trong khoảng thời gian 8 tiếng đồng hồ,
nhưng so với các nước khác như Mỹ, Nhật thì số lượng công việc hoặc năng suất
lao động mà người lao động Việt Nam hoàn thành là ít hơn rất nhiều lần. Trong
khi đó, nhiều công ty ở Mỹ thực hiện kiểm soát nhân viên của mình mà không
cần quá gò bó. Họ chỉ quan tâm đến khối lượng công việc mà người lao động đã
làm được. Tại Việt Nam, việc các nhân viên “chỉnh đốn đội hình” khi nghe tiếng
bước chân hoặc giọng sếp là rất phổ biến.Trong công tác quản lý thời gian, điều
quan trọng nhất là tự quản lý. Nhưng khi được hỏi về làm việc riêng trong thời
gian làm việc, có hơn 80% cho biết thường thỉnh thoảng làm việc riêng nếu việc
đó quan trọng. Đặc biệt, trong số những người thường làm việc riêng trong giờ
làm việc, nữ giới chiếm một tỷ lệ nhiều hơn so với nam giới thuộc nhóm nhân
viên - cán bộ - công chức.
Hình 2.1: Tỷ lệ làm việc riêng trong công sở
Nguồn: Theo www.vinaresearch.net
Theo một cuộc khảo sát của website salary đã có được những con số thống
kê đáng kinh ngạc: khi thực hiện khảo sát 2500 nhân viên văn phòng trong mọi
ngành nghề từ tháng 7 đến tháng 8 năm 2008, kết quả ghi nhận cũng tương tự:
73% số người tham gia trả lời câu hỏi đã thừa nhận rằng họ đã tốn nhiều thời gian
cho những hoạt động không liên quan đến công việc của mình tại công ty. Đây là
một sự lãng phí giá trị vô hình rất lớn về con người trong các tổ chức. Ngoại trừ
công nhân sản xuất, hầu hết các nhân viên văn phòng đều được trả lương theo giờ
làm việc. Một ngày có mặt ở công ty 8 tiếng đồng hồ thì sẽ nhận được lương. Do
đó, trong quá trình làm việc, người lao động muốn sử dụng quãng thời gian đó
như thế nào rất khó để quản lý và đánh giá. Theo nghiên cứu: 48% sử dụng
internet vào việc riêng, 33% dành thời gian tán gẫu với đồng nghiệp, 30% dành
thời gian cho các việc làm thêm khác, 19% dành thời gian cho nói chuyện qua
điện thoại, 15% nghĩ giải lao hoặc ăn trưa quá lâu.
Ngoài ra, không ít người lao động đi muộn về sớm. Vào tháng 7-2012,


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status