tích hợp các câu hỏi có liên quan đến thực tiễn đời sống nhằm tăng hứng thú học tập cho học sinh trong dạy học sinh học phần sinh học vi sinh vật- sinh học 10 - Pdf 24

1
SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO THANH HOÁ
TRƯỜNG THPT YÊN ĐỊNH 3
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
TÍCH HỢP CÁC CÂU HỎI CÓ LIÊN QUAN ĐẾN THỰC TIỄN ĐỜI
SỐNG NHẰM TĂNG HỨNG THÚ HỌC TẬP CHO HỌC SINH
TRONG DẠY HỌC SINH HỌC
PHẦN “SINH HỌC VI SINH VẬT” SINH HỌC 10

Người thực hiện: Trịnh Bá Hưng
Chức vụ: Giáo viên
SKKN môn: Sinh học

THANH HOÁ NĂM 2013
MỤC LỤC
A. ĐẶT VẤN ĐỀ
MỤC LỤC 2
TÍCH HỢP CÁC CÂU HỎI CÓ LIÊN QUAN ĐẾN THỰC TIỄN ĐỜI SỐNG
NHẰM TĂNG HỨNG THÚ HỌC TẬP CHO HỌC SINH TRONG DẠY HỌC
SINH HỌC PHẦN “ SINH HỌC VI SINH VẬT” SINH HỌC 10
A. ĐẶT VẤN ĐỀ
1. Lí do chọn đề tài
Hiện nay, khoa học kĩ thuật có tốc độ phát triển cực kì nhanh chóng. Cứ
khoảng 4- 5 năm thì khối lượng tri thức lại tăng gấp đôi. Trong sự phát triển chung
đó thì Sinh học có gia tốc tăng lớn nhất. Sự gia tăng khối lượng tri thức, sự đổi mới
khoa học Sinh học tất yếu đòi hỏi sự đổi mới về phương pháp dạy học, đào tạo thế
hệ trẻ.
Trên đà phát triển đó, hiện nay ngành Giáo dục và Đào tạo đang tập trung vào
việc đổi mới phương pháp ở các cấp bậc học. Phong trào đổi mới phương pháp dạy
học đã và đang trở thành một phong trào nổi trội mà tất cả những người làm công
tác giáo dục hưởng ứng một cách tích cực. Bản thân tôi cũng là một trong những

3. Phương pháp nghiên cứu
- Nghiên cứu tài liệu.
- Qua các tiết thực nghiệm trên lớp
- Điều tra hiệu quả của phương pháp qua phiếu điều tra, qua chất lượng học tập của
học sinh.
4. Phạm vi đề tài
Đề tài nghiên cứu về vấn đề sử dụng kiến thức gắn với thực tế bộ môn để dạy
học Sinh học theo hướng dạy học tích cực trong phạm vi dạy học các bài dạy về
“Sinh học vi sinh vật” sinh học 10 ở trường THPT .
5. Nội dung đề tài
Đề tài nghiên cứu về vấn đề sử dụng thí nghiệm một cách tích cực khi dạy các
bài học về “Sinh học vi sinh vật” sinh học 10 ở trường THPT trên các mặt:
• Lý luận về phương pháp.
• Hệ thống bộ câu hỏi có liên quan đến thực tiễn đời sống được khai
thác nhằm tăng hứng thú học tập cho học sinh.
B. GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ
1.Cơ sở lí luận của đề tài
1.1 Vì sao cần tích hợp các câu hỏi liên quan đến thực tiễn đời sống trong giờ
dạy bài học về “Vi sinh vật”- sinh học 10.
Để đáp ứng được phương pháp “Dạy học sinh học gắn với thực tế bộ môn” theo
hướng dạy học tích cực” thì phải nói đến vị trí, vai trò của các ứng dụng sinh học
trong thực tiễn cuộc sống hàng ngày. Nếu các kiến thức thực tiễn được sử dụng
3
theo đúng mục đích sẽ là nguồn HS khai thác, tìm tòi phát hiện kiến thức, giúp phát
huy tính tích cực, chủ động sáng tạo, phát huy năng lực nhận thức và tư duy khoa
học sinh học.
Ứng dụng sinh học vào thực tế cuộc sống là một yếu tố đặc trưng trong hoạt
động dạy học, giữ vai trò cơ bản trong việc thực hiện các nhiệm vụ dạy học sinh
học ở trường phổ thông.
Đối với học sinh THPT các em chưa có nhiều định hướng nghề nghiệp cho tương

được gọi
là hô hấp sunphat. Quá trình hô hấp này tạo ra khí H
2
S, khí này kết hợp với Fe có
trong ao tạo ra Fes làm nước ao có màu đen.

Tuy nhiên để dạy theo cách tích hợp như trên, người giáo viên phải biết chọn
những vấn đề quan trọng, mấu chót nhất của chương trình để giảng dạy còn phần
4
kiến thức dễ hiểu nên hướng dẫn học sinh về nhà đọc SGK hoặc các tài liệu tham
khảo. Ngoài ra giáo viên phải chọn lựa các hiện tượng thực tiễn phù hợp với nội
dung bài mới tăng hứng thú, say mê học tập, tìm hiểu bộ môn.
Nếu người giáo viên kết hợp tốt phương pháp dạy học tích hợp sử dụng các hiện
tượng, ứng dụng thực tiễn, ngoài giúp học sinh chủ động, tích cực say mê học tập
còn lồng ghép được các nội dung khác nhau như: bảo vệ môi trường, chăm sóc và
bảo vệ sức khỏe con người thông qua các kiến thức thực tiễn đó. Đây cũng là
hướng đi mà ngành giáo dục nước ta đang đẩy mạnh trong các năm gần đây.
1.1. 2: Tổ chức hoạt động hướng dẫn học sinh cách thiết lập sự liên hệ các nội
dung học với thực tiễn đời sống.
Học sinh thấy hứng thú và dễ ghi nhớ bài hơn nếu trong quá trình dạy và học
giáo viên luôn có định hướng liên hệ thực tế giữa các kiến thức sách giáo khoa với
thực tiễn đời sống hàng ngày. Rất nhiều kiến thức sinh học có thể liên hệ được với
các hiện tượng tự nhiên xung quanh chúng ta.
Ví dụ: Tại sao dưa cà muối lại bảo quản được lâu?
Giải thích:Khi muối dưa cà, axitlactic do vi khuẩn lactic tiết ra cùng với nồng độ
muối cao kìm hãm sinh trưởng của các vi sinh vật khác, đặc biệt là vi sinh vật gây
thối rau quả.
1.1.3: Tổ chức hoạt động hướng dẫn học sinh thông qua các tình huống giả
định bằng các câu hỏi có liên quan đến thực tiễn đời sống.


biết cả thành phần và tác dụng của nó.
Với kiến thức về sinh học phân tử, sinh học tế bào, sinh học vi sinh vật, ở trên
lớp các em có thể mô tả một cách đầy đủ và chính xác về Cấu trúc axit nucleotit,
cấu trúc protein, cấu trúc virut, nêu đúng những định nghĩa, khái niệm về sinh
trưởng của vi sinh vật, cấu trúc các loại virut, bệnh truyền nhiễm Thế nhưng, với
những câu hỏi đại loại như: “Lấy thêm một số thí dụ ứng dụng trong thực tế về
phân giải vi sinh vật, bệnh do virut ”, cũng thực sự làm cho các em lúng túng.
Nhiều học sinh còn không thể giải thích được những hiện tượng rần gần gũi với đời
sống: Tại sao khi muối dưa, cà nếu không để ráo nước trước khi muối thì dưa dễ bị
nổi váng? hay tại sao virut HIV chỉ lây từ người này sang người khác mà không lây
sang vật nuôi?
Các kiến thức sinh học về vi sinh vật lẽ ra phải là một trong các cơ sở tốt nhất để
các em vận dụng vào thực tiễn, nhưng điều đó dường như vẫn còn “xa vời” đối với
các em. Quan sát bao bì một loại bột giặt thấy trong thành phần có chứa enzim,
chắc hẳn vẫn còn là một “điều lạ” đối với một bộ phận học sinh hiện nay! Tương tự
như thế, chắc hẳn kiến thức về các quy luật, các khái niệm đối với học sinh phổ
thông hiện nay có lẽ vẫn chỉ là nội dung các khái niệm, cách giải các bài tập,
chúng còn “nằm yên” một cách khiêm tốn trên những trang vở, chúng tôi có cảm
giác vẫn còn thiếu một cái gì đó để có thể “đánh thức” chúng dậy, làm cho chúng
trở thành một trong những hành trang tốt trong cuộc sống của mỗi học sinh.
Tôi cũng đã trao đổi vấn đề này với nhiều đồng nghiệp ở một số địa phương
khác nhau, hầu như họ cũng có nhận định như vậy, thậm chí nhiều giáo viên giảng
dạy ở khu vực nông thôn, miền núi khó khăn hơn cho biết thực trạng trên còn có
thể xấu hơn.
Trăn trở với thực trạng đáng buồn trên, tôi đã thử đi tìm đâu là những nguyên
nhân cơ bản của vấn đề và những nguyên nhân ấy bộc lộ dưới những hình thức
nào?
6
Theo tôi, nguyên nhân cơ bản và là nguyên nhân khách quan đầu tiên phải kể
đến, là sự quá tải của chương trình. Nội dung kiến thức trong phần lớn các bài học

Nguyên nhân thứ tư không thể không nhắc tới là cách kiểm tra đánh giá hiện
nay. Nội dung các bài thi và kiểm tra ở nhiều trường phổ thông chủ yếu tập trung
vào nội dung kiến thức mà chưa có những câu hỏi mang tính vận dụng kiến thức
vào thực tiễn, đây chính là một “khe hở” khá rộng, một nguyên nhân khá rõ để giải
thích cho thực trạng nêu trên. Mặt khác học sinh THPT hiện nay học tập mang tính
thực dụng, tức là các em chỉ tập trung học các môn phục vụ cho khối thi Đại học-
cao đẳng. Do xu thế xã hội về khả năng cơ hội việc làm nên ở những vùng thuần
7
nông như trường THPT Yên Định 3 chúng tôi số lượng học sinh theo khối B rất ít,
chủ yếu các em học môn sinh để thi được hai khối.
Giải quyết thực trạng trên như thế nào? đó là một vấn đề khó. Như đã nêu trên,
Tôi chỉ xin đưa ra một số giải pháp mang tính đơn lẻ, mong rằng những giải pháp
này có thể giúp ích cho chúng ta cải thiện được ít nhiều thực trạng trên, nhằm giúp
học sinh hứng thú học tập thông qua thực tế bộ môn.
3. Nội dung vấn đề:
3.1. Một số hình thức áp dụng các câu hỏi có liên quan đến thực tiễn đời sống
trong tiết dạy:
3.1.1 Đặt tình huống vào bài mới.
Tiết dạy có gây sự chú ý của học sinh hay không nhờ vào người hướng dẫn
(giáo viên) rất nhiều. Trong đó phần mở đầu đặc biệt quan trọng, nếu ta biết đặt ra
một tình huống thực,tiễn hoặc một tình huống giả định yêu cầu học sinh cùng tìm
hiểu, giải thích qua bài học sẽ cuống hút được sự chú ý của học sinh trong tiết dạy.
3.1.2 Lồng ghép tích hợp kiến thức có liên quan đến thực tiễn đời sống về môi
trường vào bài dạy.
Vấn đề môi trường: nước, không khí, đất, đang được con người nhắc đến rất
nhiều. Trong cuộc sống hằng ngày các hiện tượng thường xuyên bất gặp như: nước
thải của một ao cá, chuồng heo, chuồng vịt ; khói bụi của các nhà máy xay lúa,
các lò gạch, các cánh đồng sau thu hoạch, có liên quan gì đến những diễn biến bất
thường của thời tiết hiện nay không. Giáo viên dạy học bộ môn sinh có thể lồng
ghép các hiện tượng đó vào phần sản xuất các sản phẩm sinh học , hay ứng dụng

Áp dụng: Đây là hiện tượng thường gặp quanh hồ, ao, nhất là vào mùa khô, nắng
nóng. Giáo viên có thể nêu vấn đề để chuyển sang mục “Hô hấp và lên men” bài
33- sinh học 10 nâng cao.
Câu 2: Vì sao không nên bón Phân đạm cùng với phân chuồng trên những ruộng
lúangậpnước?
Giải thích: Vi khuẩn phản nitrat hóa có khả năng dùng nitrat chủ yếu làm chất
nhận điện tử. Tùy theo loài vi khuẩn mà sản phẩm của khử nitrat dị hóa là N2, N2O
hay NO, đây đều là những chất mà cây trồng không hấp thụ được. Quá trình phản
nitrat hóa xảy ra mạnh khi đất bị kị khí như khi dùng phân đạm (nitrat) cùng với
phân chuồng trên những ruộng lúa ngập nước, phân nitrat dùng bón cho lúa bị
nhóm vi khuẩn này sử dụng rất nhanh, nitrat có thể mất hết rất nhanh mà cây trồng
không kịp sử dụng.
Áp dụng: Giáo viên có thể đặt câu hỏi trên cho phần đặt vấn đề vào bài ở Bài 22:
Dinh dưỡng, chuyển hóa vật chất và năng lượng ở vi sinh vật- sinh học 10 nâng
cao.
Câu 3: Chữ “sinh học” trong bột giặt sinh học là gì và tác dụng của nó?
Giải thích: Chữ “Sinh học trong bột giặt sinh học có nghĩa là bột giặt chứa một
9
hoặc nhiều loại enzim để tẩy sạch một số vết bẩn. Các enzim đó là các enzim ngoại
bào của vi sinh vật, có thể được sử dụng rộng rãi, ví dụ amilaza để loại bỏ tinh bột,
proteaza loại bỏ protein, lipaza loại bỏ mỡ.
Áp dụng: Ngày nay người ta Sản xuất các chất xúc tác sinh học là các enzim ngoại
bào của vi sinh vật được sử dụng phổ biến trong đời sống con người và trong nền
kinh tế quốc dân trong đó có bột giặt và nhiều ứng dụng khác như:
- Amilaza (thuỷ phân tinh bột) được dùng khi làm tương, rượu nếp, trong công
nghiệp sản xuất bánh kẹo, công nghiệp dệt, sản xuất xirô.
- Prôtêaza (thuỷ phân prôtêin) được dùng khi làm tương, chế biến thịt, trong công
nghiệp thuộc da, công nghiệp bột giặt.
- Xenlulaza (thuỷ phân xenlulôzơ) được dùng trong chế biến rác thải và xử lí các bã
thải dùng làm thức ăn cho chăn nuôi và sản xuất bột giặt.

chế ngay cả vi khuẩn lactic làm dưa không chua được.
Áp dụng: Giáo viên có thể đặt câu hỏi trên cho phần đặt vấn đề vào bài hoặc liên
hệ thực tế quá trình phân giải các chất ở vi sinh vật.
Câu 8: Tại sao rượu vang hoặc sâmpanh đã mở thì phải uống hết?
Giải thích: Đã mở phải uống hết vì để đén hôm sau dễ bị chua, rượu nhạt đi do
axetic bị ôxi tạo ra giấm. Đây là quá trình oxi hóa hiếu khí được thực hiện bởi
nhóm vi khuẩn axetic thuộc chi Acetobacter. Nếu để lâu nữa thì axit axetic bị ôxi
hóa thành CO
2
và nước làm giấm nhạt đi.
Áp dụng: Giáo viên có thể đặt câu hỏi trên cho phần liên hệ thực tế trong bài thực
hành lên men Etilic.
Câu 9: Tại sao những quả có vị ngọt như vải, nhãn để 3 đến 4 ngày thường có mùi
chua?
Giải thích: Vì trong dịch quả có nhiều đường, nấm men ở trên vỏ xâm nhập vào và
quá trình lên men diễn ra. Sau đó các vi khuẩn chuyển hóa dường thành rượu, từ
rượu thành axit khiến quả bị chua.
Áp dụng: Giáo viên có thể đặt câu hỏi trên cho phần đặt vấn đề vào bài thực hành
lên men Etilic.
Câu 10: Tại sao dưa muối lại chua, ăn ngon và giữ được lâu?
Giải thích: Muối dưa, cà là hình thức lên men lactic tự nhiên, do vi khuẩn lactic.
Vị chua là vị của axit lactic. Do vi khuẩn lactic và dung dịch muối ức chế sự phát
triển của các vi khuẩn gây thối nên giữ được lâu.
Áp dụng: Giáo viên có thể đặt câu hỏi trên cho phần đặt vấn đề, giới hạn kiến thức
vào chương và bài học của phần chuyển hóa vật chất và năng lượng ở vi sinh vật.
Câu 11: Vì sao rượu trưng cất bằng phương pháp thủ công ở một số vùng dễ làm
người uống đau đầu?
Giải thích: Nấu rượu bằng nồi đồng xảy ra phản ứng:
C
2

Câu 2: Tại sao nói quá trình tiêu hóa từ dạ dày đến ruột của người là hệ thống nuôi
cấy liên tục đối với vi sinh vật.
Giải thích: Nói tiêu hóa từ dạ dày đến ruột của người là hệ thống nuôi cấy liên tục
vì quá trình này được diễn ra liên tục: dạ dày thường xuyên được bổ sung thức ăn
từ bên ngoài vào đồng thời thường xuyên thải các sản phẩm tiêu hóa ra ngoài, do
đó tương tự như một hệ thống nuôi cấy liên tục.
Áp dụng: Giáo viên có thể đặt câu hỏi trên cho phần củng cố bài “Sinh trưởng của
vi sinh vật” nhằm giúp cho học sinh biết cách vận dụng kiến thức để giải thích
hiện tượng trong cuộc sống.
Câu 3: Tại sao trong đường ruột của cơ thể người giàu chất dinh dưỡng nhưng các
vi khuẩn không thể sinh sản với tốc độ cực đại?
Giải thích: Trong đường ruột người có nhiều loại vi sinh vật khác nhau, chúng
cạnh tranh chất dinh dưỡng đồng thời tiết ra các chất kìm hãm nhau.
Áp dụng: Giáo viên có thể đặt câu hỏi trên cho phần liên hệ thực tế bài “Sinh sản
của vi sinh vật”.
Câu 4: Nếu không diệt hết nội bào tử, hộp thịt hộp để lâu ngày sẽ bị phồng, bị biến
dạng,vìsao?
Giải thích Hầu hết các vi khuẩn có hại có thể bị tiêu diệt ở nhiệt độ 60 - 700C hay
12
cao hơn nếu được đun nấu trong ít nhất 10 phút. Các bào tử khó bị tiêu diệt hơn nên
cần khoảng nhiệt độ 100 - 1200C trong ít nhất 10 phút. Thịt đóng hộp nếu không
được diệt khuẩn đúng quy trình, các nội bào tử mọc mầm phát triển và phân giải
các chất, thải ra CO2 và các loại khí khác làm cho hộp thịt bị phồng lên, biến dạng.
Áp dụng: Ngày nay vấn đề “An toàn thực phẩm” trở thành một vấn đề có ảnh
hưởng mang tính toàn cầu. Mục đích vấn đề giúp học sinh biết được nguyên nhân
và tác hại của việc sử dụng thực phẩm không an toàn. Giáo viên có thể đặt vấn đề
này khi dạy tích hợp trong bài “Sinh sản của vi sinh vật”.
Câu 5: Tại sao dưa, cà muối lại bảo quản được lâu?
Giải thích: Khi muối dưa, cà axit lactic do vi khuẩn lác tic tiết ra cùng với nồng độ
muối cao kìm hãm sinh trưởng của các vi khuẩn khác, đặc biệt là vi sinh vật gây

Giải thích: Xà phòng không phải là chất diệt khuẩn mà chi loại khuẩn nhờ bọt và
khi rửa vi sinh vật bị rửa trôi. Do đó thông tin quảng cáo trên chỉ mang tính chất
quảng bá.
Áp dụng: Giáo viên có thể đặt câu hỏi trên cho phần liên hệ thực tế bài “Ảnh
hưởng của các yếu tố hóa học đến sinh trưởng của vi sinh vật”.
Câu 10: Tại sao cá biển giữ trong tủ lạnh dễ bị hư hỏng hơn cá sông?
Giải thích: Vi khuẩn biển thuộc nhóm ưa lạnh, nên trong tủ lạnh chúng vẫn hoạt
động gây hỏng cá.
Áp dụng: Giáo viên có thể đặt câu hỏi trên cho phần liên hệ thực tế bài “Ảnh
hưởng của các yếu tố vật lí đến sinh trưởng của vi sinh vật”.
3.2.3 Hệ thống bộ câu hỏi có liên quan đến thực tiễn đời sống dùng cho các bài
giảng thuộc Chương III: Virut và bệnh truyền nhiễm.
Câu 1: Tại sao mỗi loại vi rút chỉ có thể nhiễm vào một loại tế bào nhất định?
Giải thích: Trên bề mặt tế bào có các thụ thể dành riêng chomỗi loại virut đo là
tính đặc hiệu.
Áp dụng: Giáo viên có thể đặt câu hỏi trên cho phần đặt vấn đề hoặc liên hệ thực
tế bài “Sự nhân lên của virut trong tế bào chủ”.
Câu 2: Thế nào là bệnh cơ hội và vi sinh vật gây bệnh cơ hội?
Áp dụng: Giáo viên có thể đặt câu hỏi trên cho phần đặt vấn đề hoặc liên hệ thực
tế mục II, bài “Sự nhân lên của virut trong tế bào chủ”.
Giải thích:
- Một số vi sinh vật ở điều kiện bình thường thì không gây bệnh nhưng khi cơ thể
bị suy yếu hoặc hệ thống miễn dịch bị suy giảm thì chúng lại trở thành tác nhân
gây bệnh. Những vi sinh vật đó được gọi là vi sinh vật cơ hội, bệnh do chúng gây
ra gọi là bệnh cơ hội.
- Hiện nay nhiễm HIV/AIDS được coi là bệnh đại dịch toàn cầu, AIDS là giai đoạn
cuối của quá trình nhiễm HIV. Tuy nhiên, người bị nhiễm HIV không phải bị chết
vì virut HIV mà do các bệnh cơ hội khi hệ thống miễn dịch của cơ thể bị suy giảm.
Áp dụng: Giáo viên có thể đặt câu hỏi trên cho phần đặt vấn đề hoặc liên hệ thực
tế mục II, bài “Sự nhân lên của virut trong tế bào chủ”.

tế bài “ Viruts gây bệnh và ứng dụng của virut trong thực tiễn”.
Câu 6: Lấy ví dụ về một số bệnh truyền nhiễm do vi sinh vật gây ra trên cơ thể
con người?
Giảithích:
- Bệnh cúm do virut cúm gây ra, lây truyền qua đường hô hấp.
- Bệnh AIDS do virut HIV gây nên, lây truyền qua đường máu, đường tình dục
hoặctruyền từ mẹ sang con.
- Bệnh tả, lị do vi khuẩn gây ra, lây truyền qua đường tiêu hóa.
15
- Bệnh quai bị là bệnh do virus quai bị gây ra, lây truyền chủ yếu do các chất tiết
của đường hô hấp
- Bệnh lao do vi khuẩn lao gây ra, lây truyền qua đường hô hấp.
Câu 7: Dựa vào con đường lây nhiễm muốn phòng tránh bệnh do virut thì phải
thực hiện biện pháp gì?
Giải thích: phòng tránh bệnh do virut: Tiêm phòng vacxin; kiểm soát vật trung
gian truyền bệnh; vệ sinh cá nhân và môi trường sống.
Áp dụng: Giáo viên có thể đặt câu hỏi trên cho phần liên hệ thực tế bài “ Bệnh
truyền nhiễm và miễn dịch”.
Câu 8: Tại sao trẻ em chỉ bị quai bị hay lên sởi một lần còn cúm thì bị mắc lại
nhiều lần.
Giải thích: Khi trẻ bị quai bị hay lên sởi cơ thể sẽ tiết ra một loại kháng thể đặc
hiệu để đáp lại sự xâm nhập của kháng nguyên gây bệnh quai bị hoặc sởi.
Áp dụng: Giáo viên có thể đặt câu hỏi trên cho phần liên hệ thực tế bài “ Bệnh
truyền nhiễm và miễn dịch”.
Câu 9: Có một thời gian ở vùng trồng vải thiều, trẻ em hay bị viêm não và người ta
đổ cho vãi thiều. Em có ý kiến gì về điều này?
Giải thích: Vải thiều không phải là ổ chứa virut gây bệnh, mà khi vải chín có một
loài chim và côn trùng ăn, những loài này mang virut. Muỗi hút máu của những
loài này rồi đốt vào người mới gây bệnh.
Áp dụng: Giáo viên có thể đặt câu hỏi trên cho phần liên hệ thực tế mục vi rút gây

Lớp
Tổng
số
học
sinh
Giỏi Khá Trung bình Yếu Kém
SL TL(%) SL TL(%) SL TL(%) SL TL(%) SL TL(%)
10A1 40 12 30 18 45 9 22,5 1 2,5
10A2 42 8 19 18 43 14 33 2 5
10A3 45 9 20 16 36 17 37 3 7
Tổng 127 29 23 52 41 37 29 6 7
* Nhận xét:
Sau thời gian áp dụng phương pháp mới, kết quả đạt được (giữa học kì II) như
sau:
- Tỉ lệ học sinh giỏi từ 13% lên 23%, tăng 10%
- Tỉ lệ học sinh khá từ 29% lên 41%, tăng 12%
- Tỉ lệ học sinh trung bình từ 47% xuống 29%, giảm 18%
- Tỉ lệ học sinh yếu từ 11% xuống 7%, giảm 4%
5.Tự đánh giá:
Đề tài có tính khả thi, do các kiến thức gắn với thực tiễn bộ môn mang tính
ứng dụng cao nên tạo cho học sinh cảm giác gần gũi, thoải mái hơn trong giờ học,
17
phát huy được tính sáng tạo của học sinh, kích thích học sinh suy nghĩ tích cực hơn,
tăng khả năng tư duy của học sinh và rèn kỹ năng sống theo một hệ thống logic.
Mặt khác, trong quá trình giảng dạy, việc sử dụng câu hỏi găn với thực tiễn
cuộc sống kết hợp linh hoạt với nhiều phương pháp học khác sẽ tạo hứng thú trong
giờ học, phát huy tính chủ động, tìm tòi của học sinh sẽ giúp học sinh ghi nhớ bài
nhanh hơn và tiết kiệm thời gian trong quá trình ôn tập và củng cố kiến thức.
C. KẾT LUẬN:
1. Kết quả nghiên cứu:

tôi hi vọng phương pháp này sẽ được nghiên cứu kĩ hơn và được áp dụng rộng dãi.
Phương pháp này khi sử dụng đòi hỏi giáo viên phải chuẩn bị công phu, hiểu biết
rộng phải nắm vững kiến thức. Do đó cần tăng cường bồi dưỡng chuẩn hoá giáo
viên.
Do điều kiện thời gian ngắn, tôi chỉ mong góp một ý kiến nhỏ của mình tích
luỹ được trong quá trình giảng dạy ở trường phổ thông. Với tâm huyết và tấm lòng
của mình tôi muốn đóng góp cho công việc dạy học một đề tài nhỏ để nâng cao
hiệu quả dạy học. Chắc chắn sẽ còn nhiều thiếu sót, hạn chế, rất mong được sự chỉ
dẫn, góp ý và đồng cảm của đồng nghiệp và bạn đọc để kinh nghiệm của tôi được
hoàn thiện hơn.
Xác nhận của thủ trưởng đơn vị: Tôi xin cam đoan SKKN này là do tôi
viết, không sao chép của người khác.
Người viết
Trịnh Bá Hưng
19
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Sách giáo khoa Sinh học 10 –Nguyễn Thành Đạt (tổng chủ biên) –NXB Giáo dục.
2. Sách giáo viên Sinh học 10 –Nguyễn Thành Đạt (tổng chủ biên) –NXB Giáo dục.
3. Chuyên đề bồi dưỡng học sinh giỏi trung học phổ thông môn sinh học
–Vũ Đức Lưu (chủ biên) –NXB GD 2004.
4. Thiết kế bài giảng sinh học 10 –Nguyễn Quang Vinh –Nguyễn Thị Dung
–Nguyễn Đức Thành –NXB GD 2006
5. Hướng dẫn thực hiện chuẩn kiến thức, kỹ năng trong chương trình giáo dục phổ thông -
Môn Sinh học Lớp 10 (Cấp THPT) – Ngô Văn Hưng (Chủ biên) – Lê Hồng Điệp –
Nguyễn Thị Hồng Liên – NXB GD 2009
6. Hỏi đáp sinh học- Trần Ngọc Oanh ( Nhà xuất bản Giáo dục, 2006)
20


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status