ĐẠI HỌC HUẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
NGUYỄN THỊ THANH HUYỀN
ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG TRỒNG VÀ THĂM DÒ ẢNH HƯỞNG
CỦA α-NAA ĐẾN KHẢ NĂNG GIÂM CÀNH CỦA THANH LONG
RUỘT ĐỎ (Hylocereus polirhizus (F.A.C. Weber) Britton & Rose) VÀ
RUỘT TRẮNG (Hylocereus undatus (Haw.) Britton & Rose) Ở HUYỆN
HƯỚNG HÓA, TỈNH QUẢNG TRỊ
LUẬN VĂN THẠC SĨ SINH HỌC
HUẾ, NĂM 2013
1
MỤC LỤC
Trang
Trang phụ bìa i
Lời cam đoan ii
Lời cảm ơn iii
Mục lục 1
Danh mục bảng, biểu đồ, hình vẽ 3
PHẦN MỘT. MỞ ĐẦU 6
1. Tính cấp thiết của đề tài 6
2. Mục đích của đề tài 6
3. Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn 7
3.1. Ý nghĩa khoa học 7
3.2. Ý nghĩa thực tiễn 7
PHẦN HAI. NỘI DUNG 8
CHƯƠNG MỘT. TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 8
1.1. Tổng quan về cây thanh long 8
1.1.1. Đặc điểm sinh thái 8
1.1.2. Đặc điểm thực vật học 8
1.1.3. Yêu cầu điều kiện ngoại cảnh 13
3.1.4. Giá thể trồng thanh long 42
3.1.5. Các biện pháp và kĩ thuật chăm sóc thanh long trên địa bàn nghiên cứu 43
3.1.6. Sâu bệnh và các loài xâm hại 45
3.1.7. Hiệu quả kinh tế của cây thanh long 45
3.1.8. Hướng phát triển cây thanh long tại các xã trong thời gian đến 47
3.2. Kết quả thực nghiệm thăm dò ảnh hưởng của α-NAA đến khả năng giâm cành
của thanh long ruột trắng và thanh long ruột đỏ 48
3.2.1. Kết quả thực nghiệm thăm dò ảnh hưởng của α-NAA đến số lượng chồi 48
3.2.2. Kết quả thực nghiệm thăm dò ảnh hưởng của α-NAA đến chiều dài chồi 53
3.2.3. Kết quả thực nghiệm thăm dò ảnh hưởng của α-NAA đến số lượng rễ 58
3.2.4. Kết quả thực nghiệm thăm dò ảnh hưởng của α-NAA đến chiều dài rễ 63
PHẦN BA. KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 68
1. Kết luận 68
2. Đề nghị 68
TÀI LIỆU THAM KHẢO 70
3
DANH MỤC KÍ HIỆU, CHỮ VIẾT TẮT
Viết tắt: Viết đầy đủ
AIA: axit β- indol axetic
AIB: Axit β-indol butiric
α- NAA: α - Napthyl axetic axit
CT: công thức
ĐC: đối chứng
NXB: nhà xuất bản
TP: thành phố
4
DANH MỤC BẢNG, BIỂU ĐỒ, HÌNH VẼ
Trang
1. Danh mục bảng
Bảng 1.1. Chiều dài cành thanh long 9
Biểu đồ 3.2. Số lượng chồi thanh long ruột trắng qua các giai đoạn theo dõi 51
Biểu đồ 3.3. Số lượng chồi của thanh long ruột đỏ và ruột trắng qua các giai đoạn
theo dõi 52
Biều đồ 3.4. Chiều dài chồi thanh long ruột đỏ qua các giai đoạn theo dõi 54
Biểu đồ 3.5. Chiều dài chồi thanh long ruột trắng qua các giai đoạn theo dõi 56
Biểu đồ 3.6. Chiều dài chồi thanh long ruột đỏ và thanh long ruột trắng qua các giai
đoạn theo dõi 57
Biểu đồ 3.7. Số lượng rễ thanh long ruột đỏ qua các giai đoạn theo dõi 58
Biểu đồ 3.8. Số lượng rễ thanh long ruột trắng qua các giai đoạn theo dõi 61
Biểu đồ 3.9. Số lượng rễ của thanh long ruột đỏ qua các giai đoạn theo dõi 62
Biểu đồ 3.10. Chiều dài rễ thanh long ruột đỏ qua các giai đoạn theo dõi 64
Biểu đồ 3.11. Chiều dài rễ thanh long ruột trắng qua các giai đoạn theo dõi 66
Biểu đồ 3.12. Chiều dài rễ thanh long ruột đỏ và thanh long ruột trắng qua các giai
đoạn theo dõi 67
3. Danh mục hình
Hình 1.1. Cấu trúc một số auxin phổ biến 20
Hình 1.2. Bản đồ huyện Hướng Hóa 33
6
PHẦN MỘT. MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Khi xã hội ngày càng phát triển, đời sống càng được cải thiện, con người càng
chú ý nhiều hơn đến nhu cầu được ăn ngon, đủ dinh dưỡng, đặc biệt là các loại hoa
quả từ thiên nhiên. Cũng như nhiều loại hoa quả khác, thanh long là một loại quả dễ
ăn, giàu chất dinh dưỡng, tốt cho sức khỏe và phù hợp mọi lứa tuổi.
Thanh long Hylocereus undatus thuộc chi Hylocereus, ruột trắng với vỏ hồng
hay đỏ là cây ăn quả đang được trồng nhiều ở Việt Nam, bên cạnh đó thanh long
Hylocereus polyrhizus thuộc chi Hylocereus, ruột đỏ với vỏ hồng cũng đang được
đưa vào trồng ở một số vùng trong cả nước.
Ở Việt Nam nói chung và huyện Hướng Hóa nói riêng chỉ mới biết đến nhiều
về giống thanh long ruột trắng. Ở Huyện Hướng Hóa có rất nhiều hộ gia đình trồng
hoạch trồng 2 loài thanh long này trên địa bàn huyện Hướng Hóa cho phù hợp.
- Trên cơ sở xác định được nồng độ α-NAA có hiệu quả nhất trong nhân giống,
góp phần nâng cao hiệu quả kinh tế đối với các giống thanh long tại địa bàn huyện
Hướng Hóa, tỉnh Quảng Trị.
8
PHẦN HAI. NỘI DUNG
CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1. Tổng quan về cây thanh long
1.1.1. Đặc điểm sinh thái
Cây thanh long có nguồn gốc nhiệt đới, chịu hạn giỏi, nên được trồng ở những
vùng có khí hậu nóng. Một số loài chịu được nhiệt độ từ 50
0
C tới 55
0
C, nhưng nó
không chịu được giá lạnh. Chúng thích hợp khi trồng ở các nơi có cường độ ánh
sáng mạnh, vì thế nếu bị che ánh nắng thân cây sẽ kém phát triển và lâu cho quả.
Cây mọc được trên nhiều loại đất khác nhau như đất xám bạc màu (Bình Thuận),
đất phèn (TP.HCM), đất đỏ latosol (Long Khánh)… Cây thanh long cũng có khả
năng thích ứng với các loại đất chua có độ (pH) khác nhau. Khi trồng thanh long
nên chọn chân đất có tầng canh tác dày tối thiểu 30 – 50 cm và để có năng suất cao
chúng ta nên tưới và giữ ẩm cho cây vào mùa khô. Cây thuộc họ xương rồng chịu
hạn rất tốt nhưng chịu đựng độ mặn kém, dù vậy đã có một số nông hộ ở Cần Giờ
trồng thử thanh long trên đất bị nhiễm mặn (0,8%) đã được lên liếp và cải tạo tầng
mặt, mùa khô không tưới cây vẫn phát triển và cho năng suất cao [5], [17].
1.1.2. Đặc điểm thực vật học
1.1.2.1. Rễ cây
Khác hẳn với chồi cành, rễ thanh long không mọng nước nên nó không phải là
nơi tích trữ nước giúp cây chịu hạn. Cây thanh long có hai loại rễ đó là rễ địa sinh
và khí sinh.
từ 3 – 4 đợt cành. Đợt cành thứ nhất là cành mẹ của đợt cành thứ hai và cứ thế cành
xếp thành hàng lớp trên đầu trụ. Trong mùa ra cành, khoảng thời gian giữa hai đợt
ra cành từ 40 – 50 ngày. Số lượng cành trên cây tăng theo tuổi cây: cây một tuổi
trung bình ra độ 30 cành, hai tuổi ra độ 70 cành, ba tuổi ra độ 100 cành và bốn tuổi
130 cành. Ở cây 5 – 6 tuổi chỉ duy trì độ 150 – 170 cành. [17], [18], [28].
Chiều dài cành thanh long đo ở cuối vụ thu hoạch được trình bày ở bảng 1.1.
Bảng 1.1. Chiều dài cành thanh long
Tuổi vườn Trung bình (cm) Dài nhất (cm) Ngắn nhất (cm)
1 73 119 42
2 82 140 52
3 98 180 49
4 108 160 45
5 103 140 53
(nguồn: Nguyễn Văn Kế, đại học nông lâm TP. Hồ Chí Minh) [37]
1.1.2.3. Hoa
10
Thanh long là cây ngày dài (trường quang kỳ). Tại Nam Bộ hoa xuất hiện sớm
nhất vào trung tuần tháng 3 và kéo dài tới khoảng tháng 10 dương lịch, rộ nhất từ
tháng 5 tới tháng 8 dương lịch. Trung bình có từ 4 – 6 đợt ra hoa rộ mỗi năm.
Hoa lưỡng tính, rất to, có chiều dài trung bình 25 – 35 cm, nhiều lá đài và
cánh hoa dính nhau thành ống, nhiều tiểu nhị và 1 nhụy cái dài 18 – 24 cm, đường
kính 5 – 8 mm, nuốm nhụy cái chia làm nhiều nhánh. Các bộ phận ngoài cùng của
bao hoa màu vàng cong ra phía ngoài, các bộ phận ở trong như nhị và đầu nhụy
màu trắng sữa. Hoa thường nở tập trung từ 20 – 23 giờ đêm và đồng loạt trong
vườn. Từ nở đến tàn kéo dài độ 2 – 3 ngày. Thời gian từ khi xuất hiện nụ tới hoa tàn
độ 20 ngày [1], [17], [18].
Theo dõi 240 trụ tại hộ anh Võ Thành Nghiệp, tại nông trường Phạm Văn Hai
(tỉnh lộ 10, xã Phạm Văn Hai – Bình Chánh – TP. Hồ Chí Minh) trên các liếp đất
phèn cây thanh long đã trồng được 3 năm, nghiên cứu các đợt thanh long ra hoa cho
thấy như sau:
như sau:
Nước: 84,4%,
Chất xơ: 1,4%,
Protit 1,4%,
Tro: 0,6%,
Lipit: 0,4%,
Vitamin C: 8mg/100g,
Gluxit: 11,8%,
Vitamin A: không đáng kể [17].
Thời gian từ khi hoa thụ phấn tới thu hoạch chỉ từ 22 – 25 ngày, trong thí
nghiệm thắp đèn tạo quả trái vụ của Đỗ Văn Bảo thì thời gian này là 25 – 28 ngày.
Như vậy thời gian phát triển của quả thanh long tương đối ngắn so với nhiều loại
quả nhiệt đới khác như xoài, sầu riêng, chuối, dứa thường phải mất từ 85 – 140
ngày. Tại Bình Thuận phân tích 100 quả lấy ngẫu nhiên cho thấy sự phân bố về kích
thước và trọng lượng như sau:
Bảng 1.3. Thành phần quả của thanh long ở Bình Thuận
Hạng quả (g) < 330 330 - < 500 500 - <700 700
Tỷ lệ (%) 20 65 12 3
Trọng lượng TB (g) 270 410 565 750
Dài TB (cm) 12,5 13 15 16
12
TB (cm) 11 12 12 13,5
Dày vỏ (mm) 4,8 4,6 4,5 3,8
Phần ăn được (g) 170 315 400 550
(nguồn http://cayantrai-foodtree.blogspot.com ) [33]
Trong một thí nghiệm xử lý thanh long ra hoa trên đất phèn nông trường Phạm
Văn Hai cân ngẫu nhiên 150 quả, trọng lượng trung bình là 568,8 g. Dài trung bình
là 12,28 cm và đường kính trung bình là 9,2 cm, như vậy quả đặc và chắc hơn. Gần
đây do thâm canh cao, đã có nhiều quả lớn trọng lượng từ l kg đến l,3 kg. Thường
quả nặng trên 300 g là đã có thể xuất khẩu được.
1.1.3. Yêu cầu điều kiện ngoại cảnh
1.1.3.1. Nhiệt độ
Cây thanh long có nguồn gốc ở vùng sa mạc thuộc Mehico và Colombia là
cây ở vùng nhiệt đới khô, ưa nhiệt độ cao, chịu hạn giỏi nên được trồng ở các vùng
nóng, thanh long không chịu được lạnh giá, nhiệt độ thích hợp là 25 – 35
0
C. Dưới
10
0
C và trên 38
0
C cây ngừng sinh trưởng. Cây thanh long ưa trồng ở những nơi có
cường độ ánh sáng mạnh, vì vậy nếu bị che bớt nắng, thân cây sẽ gầy yếu và chậm
ra quả. Nếu ở nhiệt độ quá cao, mầm hoa khó hình thành, do đó không có quả.
Vùng trồng thanh long có hiệu quả kinh tế có nhiệt độ bình quân phải từ 20
0
C trở
lên [13], [31].
1.1.3.2. Ánh sáng
Cây thanh long chịu ảnh hưởng của quang chu kì, ra hoa trong điều kiện
ngày dài. Là cây ưa nhiều ánh sáng, cường độ ánh sáng thích hợp nhất là trên 8000
lux. Nếu thấp hơn 2500 lux quá trình sinh trưởng và tích lũy dinh dưỡng của cây sẽ
bị ảnh hưởng. Trường hợp cường độ ánh sáng quá mạnh phải có dàn che chắn bớt.
Một số nghiên cứu của Israel cho thấy trong điều kiện nắng gắt và nóng che bớt ánh
sáng dưới 50% có lợi cho sinh trưởng của cây [17], [26].
1.1.3.3. Nước
Thanh long là cây rất chịu hạn song khả năng chịu úng của cây không cao.
Nếu thiếu nước gặp hạn trong một thời gian dài cây không bị chết, song để cây sinh
trưởng và phát triển bình thường thì cần phải có nước. Thiếu nước sẽ gây nên rụng
hoa, quả. Nếu còn quả trên cây thì quả sẽ nhỏ, năng suất không cao và chất lượng
- Dạng trái nhỏ: thường cho trái nhỏ, có nhiều tai trái, vị ngọt hơn hai loại
trên. Cây có thân bẹ to, xanh đậm [20].
Hiện nay ở nước ta trồng phổ biến là giống thanh long ruột trắng phổ biến là
thanh long Bình Thuận và thanh long Chợ Gạo (Tiền Giang), giống thanh long Bình
Thuận và thanh long Chợ Gạo có thịt quả màu trắng, chắc, khá ngọt, ít chua, quả to,
năng suất cao Giống có khả năng sinh trưởng và phát triển tốt trong điều kiện khó
khăn, cho năng suất cao, hình dạng trái đẹp, vỏ màu đỏ, thịt trái màu trắng [18].
Giống có thời gian ra hoa từ tháng 4 – 9 (chính vụ), thời gian từ đậu trái đến
thu hoạch khoảng 28 – 35 ngày.
15
Vào năm 1995, viện nghiên cứu Cây ăn quả miền Nam được sự hỗ trợ của
CIRAD (Pháp) đã nhập hai giống thanh long ruột đỏ và ruột vàng. Kết quả khảo
nghiệm giống thanh long ruột đỏ đã có môt số ưu điểm như: khả năng ra hoa mạnh
và kéo dài, phẩm chất ngon, thịt trái màu đỏ đẹp. Tuy nhiên chúng có khuyết điểm
là khả năng thụ phấn tự nhiên kém, trái nhỏ và hình dạng trái không đẹp [27].
Vì vậy, từ năm 1995 – 1998, các nhà khoa học của Viện nghiên cứu cây ăn
quả miền Nam đã tiến hành tạo các tổ hợp lai cải thiện nhược điểm của giống ngày,
năm 2004 tạo được giống thanh long ruột đỏ Long Định 1 (giống lai giữa bố là:
thanh long ruột đỏ từ Colombia và mẹ là thanh long ruột trắng) để cải thiện nhược
điểm này đã được Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn công nhận là giống quốc
gia năm 2005 .
Đặc điểm của thanh long ruột đỏ Long Định 1:
- Cây sinh trưởng mạnh, cành to khỏe, khả năng đâm cành trung bình, rất
giống cành của thanh long ruột trắng.
- Ít chịu ảnh hưởng bởi quang chu kì, cây có khả năng ra hoa rất mạnh và gần
như quanh năm. Trong điều kiện ngày dài, cây có rất nhiều hoa và mỗi năm cho 3 –
4 đợt hoa chính (cây 3 năm tuổi mỗi đợt cho khoảng 45 – 50 hoa/ trụ) và xen 4 – 5
đợt hoa phụ (5 – 10 hoa/ trụ/ đợt).
- Trọng lượng trung bình khoảng 400 g/trái, vào mùa nghịch (tháng 10 đến
tháng 1 năm sau, trọng lượng có thể đạt 600 – 700 g). Dạng trái giống thanh long
đầu trụ để khi leo tới đầu trụ cành thanh long rủ trên giàn khung tạo thành tán cây
như một cái dù (hoặc hình nấm). Có thể làm giàn đỡ bằng que sắt thay gỗ [1], [26].
1.1.4.5. Hom giống
Cành được chọn làm hom giống cần chọn ở những cành tốt, khỏe và phải đạt
các tiêu chuẩn sau:
- Cành dùng làm giống cần chọn trên cây mẹ là giống thanh long ruột trắng
và thanh long ruột đỏ Long Định 1 có năng suất cao, khỏe, ít sâu bệnh.
- Chọn các cành có tuổi từ 1 – 2 năm, gốc cành đã bắt đầu hóa gỗ để hạn chế
thối cành.
- Chiều dài hom tốt nhất là 40 – 50 cm, hom mập có màu xanh đậm, sạch sâu
bệnh.
- Các mắt mang chùm gai phải tốt, mẩy, khả năng nảy chồi tốt.
17
Sau khi chọn cành xong, phần gốc cành 2 – 4 cm cần cắt bỏ phần vỏ chỉ để
lại lõi cành giúp cành nhanh ra rễ và tránh thối gốc. Cành được giâm nơi thoáng mát
khoảng 10 – 15 ngày cho ra rễ hoặc có thể trồng thẳng mà không qua giai đoạn
giâm cành [1], [18].
1.1.4.6. Thời vụ trồng
Cây thanh long có thể trồng được quanh năm, nhưng thời điểm xuống giống
thích hợp nhất là:
- Tháng 10 – 11: là thời điểm tốt nhất vì nguồn hom giống dồi dào, các vùng
đất thấp tránh được nguy cơ ngập úng, nhưng cần phải đảm bảo có đủ nước tưới
trong mùa khô.
- Tháng 5 – 6: đối với các vùng thiếu nước nên trồng vào đầu mùa mưa
(tháng 5 – 6) nhưng sẽ gặp khó khăn về hom giống.
- Tốt nhất có kế hoạch giâm hom để chủ động xuống giống [20], [22].
1.1.4.7. Cách đặt hom trồng trực tiếp
- Đặt hom cạn 2 – 3 cm, đặt phần lõi (đã gọt bỏ lớp vỏ bên ngoài) xuống đất
để tránh thối gốc.
- Khi trồng nên áp phần phẳng của hom vào mặt trụ tạo điều kiện thuận lợi
cành phát triển tốt và nhanh cho quả.
- Hàng năm, sau khi thu hoạch cần tỉa bỏ những cành đã cho quả 2 năm, cành
bị sâu bệnh, cành ốm yếu, cành nằm khuất trong tán [3].
1.1.4.11. Cỏ dại
Cỏ dại cạnh tranh dinh dưỡng với cây thanh long và là nơi trú ẩn của sâu
bệnh. Trước mỗi đợt bón phân cần làm sạch cỏ gốc và xung quanh gốc.
Phải dọn dẹp, cắt sạch cỏ trong vườn, hạn chế tối đa việc sử dụng thuốc trừ cỏ nhằm
hạn chế khả năng ô nhiễm đất do thuốc. Nếu dùng chỉ được phép dùng các loại
thuốc nằm trong danh mục cho phép của Bộ Nông nghiệp & phát triển nông thôn,
nếu sử dụng thuốc diệt cỏ để xử lý cỏ dại trong vườn thì phải ghi chép và lưu giữ
trong hồ sơ của hộ gia đình, hợp tác xã ngày phun, loại thuốc và liều lượng đã sử
dụng. Có thể dùng rác, rơm rạ, lá dừa khô phủ gốc, vừa giữ ẩm, vừa chống cỏ dại
[18].
19
1.1.4.12. Phân bón
Tuỳ theo loại đất, giai đoạn sinh trưởng của cây thanh long mà phải bón đầy
đủ phân cho cây phát triển. Riêng đối với phân chuồng phải có nơi ủ để hạn chế ô
nhiễm đất và nguồn nước.
- Bón lót: phân chuồng hoai (phân bò, phân gà…) 20 – 30kg/1 trụ
- Bón thúc: lượng phân bón cho cây thay đổi tùy thuộc tuổi cây. Cây mới
trồng bón ít, khoảng 50g hỗn hợp NPK cho mỗi trụ và tăng dần lên các năm sau từ
100 đến 500g.
Thời gian bón chia 2 lần: sau thu hoạch và nuôi quả
Cách bón: pha phân vào nước và tưới vào quanh trụ cây [3], [37].
1.1.4.13. Phòng trừ sâu bệnh
- Có 2 loại kiến hại vào thời kì ra hoa kết quả: kiến lửa màu đỏ và kiến đất
màu đen. Dùng Lindafor 4G 10kg/ha rắc vào gốc.
Cách làm: dùng 10kg Lindafor 4G trộn đều trong 1m
3
cát khô, sau đó cho
1.2.2. Sự phân bố và vận chuyển auxin trong cây
Auxin được tổng hợp từ các phần non của cây, nơi quá trình sinh trưởng diễn
ra mạnh như đỉnh sinh trưởng của thân, chóp rễ. Từ các phần tiến hành tổng hợp đó,
21
auxin được vận chuyển đến các vùng khác để phân bố lại auxin trong cây nhằm thỏa
mãn nhu cầu auxin của vùng đó.
Các cơ quan khác nhau có hàm lượng auxin khác nhau. Rễ có hàm lượng
auxin thấp nhất (khoảng 10
-12
– 10
-10
M), chồi bên có hàm lượng auxin trung bình
(khoảng 10
-10
– 10
-8
M), đỉnh sinh trưởng của chồi ngọn là nơi có hàm lượng auxin
cao nhất (khoảng 10
-6
– 10
-4
M). Hàm lượng auxin trong các cơ quan liên quan đến
nhu cầu auxin cả các cơ quan đó, như vậy đỉnh sinh trưởng của chồi ngọn có nhu
cầu auxin cao nhất, còn rễ có nhu cầu auxin thấp nhất [12].
Do auxin được tổng hợp mạnh tại các phần non nên dẫn đến sự phân bố
không đều auxin trong cây đồng thời tạo ra gradient nồng độ giữa các vùng khác
nhau trong cây làm động lực quan trọng cho sự di chuyển auxin trong cây.
Quá trình vận chuyển auxin trong cây thực hiện qua hai con đường: qua các
tế bào sống và theo mạch dẫn trong cây. Quá trình vận chuyển theo con đường qua
các tế bào sống xảy ra chủ yếu là vận chuyển qua màng tế bào [10], [12].
rễ, đặc biệt là rễ phụ. Hiệu quả này của auxin càng đặc trưng trong giâm cành và
chiết cành [30].
Auxin kích thích sự chuyển động của chất nguyên sinh. Auxin làm tăng sự di
chuyển chất nguyên sinh trong trao đổi chất, kích thích quá trình sinh tổng hợp và
ức chế sinh phân giải hợp chất cacbon sẽ thúc đẩy các quá trình sinh lý (quang hợp,
hô hấp, hấp thụ và vận chuyển nước, muối khoáng và chất hữu cơ trong cây).
Đối với các giai đoạn sinh sản của cây, auxin có vai trò hết sức quan trọng.
Đó là kìm hãm sự rụng lá, hoa, quả. Auxin ức chế sự hình thành tầng rời ở cuống lá,
hoa, quả là nơi khá nhạy với các chất ức chế sinh trưởng. Phun auxin lên lá, hoa,
quả sẽ tránh được sự rụng sớm lá, hoa, quả non, tạo cho năng suất được ổn định và
nâng cao. Đặc biệt auxin kích thích sự hình thành quả và ra quả không hạt. Phôi hạt
phát triển từ hợp tử, là nơi tổng hợp auxin sẽ khuếch tán vào bầu nhụy và kích thích
bầu nhụy lớn lên thành quả. Bổ sung thêm auxin cho hoa làm tăng hoặc thay thế
lượng auxin nội sinh trong phôi, do đó có thể không cần qua quá trình thụ phấn, thụ
tinh mà bầu vẫn lớn lên và tạo thành quả. Đặc điểm này đã được ứng dụng nhiều
trong sản xuất nông nghiệp [13], [14], [30].
Như vậy ta thấy rằng auxin là một chất kích thích sinh trưởng ảnh hưởng tốt
đến quá trình sinh trưởng và phát triển của cây trồng. Từ đó mang lại nhiều lợi ích
trong sản xuất nông nghiệp [16].
23
1.2.4. Ứng dụng của auxin
- Ngăn ngừa hiện tượng rụng nụ, hoa, quả: để tăng năng suất cây trồng, bên
cạnh biện pháp xúc tiến hình thành quả, cần ngăn ngừa hiện tượng rụng nụ, hoa và
quả non. Nguyên nhân của hiện tượng này là khi quả sinh trưởng nhanh thì hàm
lượng auxin nội sinh từ hạt không đủ để cung cấp cho quả lớn. Nếu gặp một số điều
kiện bất thuận thì sự tổng hợp axit abxixic và etylen tăng nhanh làm cho sự cân
bằng hormone thuận lợi cho sự rụng, tầng rời xuất hiện nhanh chóng. Ðể ngăn chặn
sự hình thành tầng rời thì phải bổ sung thêm auxin ngoại sinh. Người ta thường sử
dụng α-NAA cho cây. Nồng độ xử lý thích hợp phụ thuộc vào từng loại chất và loại
cây trồng. Ðể ngăn chặn giai đoạn rụng quả non người ta phun lên hoa hoặc quả non
lý nồng độ đặc có hiệu quả cao hơn cả đối với hầu hết các đối tượng cành giâm và
nồng độ hiệu quả cho nhiều loại đối tượng là 4.000 – 6.000ppm. Với cành chiết thì
sau khi khoanh vỏ, tẩm bông bằng dung dịch chất kích thích đặc rồi bôi lên trên chỗ
khoanh vỏ, nơi sẽ xuất hiện rễ bất định. Sau đó bó bầu bằng đất ẩm. Phương pháp
thứ hai là xử lý ở nồng độ loãng – xử lý chậm. Nồng độ chất kích thích sử dụng từ 20-
200 ppm tùy thuộc vào loài và mức độ khó ra rễ của cành giâm. Ðối với cành giâm thì
ngâm phần gốc của cành vào dung dịch từ 12 – 24 giờ, sau đó cắm vào giá thể. Với
phương pháp này thì nồng độ hiệu quả là 50 – 100 ppm. Ðối với cành chiết thì trộn dung
dịch vào đất bó bầu để bó bầu cho cành chiết. Ví dụ có thể dùng 2,4D để chiết nhãn với
nồng độ 20ppm và chiết cam, quýt với nồng độ 10 – 15ppm cho kết quả tốt.
Các chất auxin thường được sử dụng trong kích thích sự ra rễ trong cành
giâm và cành chiết là IBA, α-NAA và 2,4D(IBA > NAA > 2,4D).
Ví dụ như cây Hồng Xiêm, tẩm ướt dung dịch NAA nồng độ 1000 –
1500ppm vào vết cắt phía ngọn cành chiết cây Hồng Xiêm kích thích sự ra rễ của
cành chiết .Đối với cây ổi dùng chất kích thích như IBA, NAA 3 – 5000ppm rắc
vào chỗ chiết tỷ lệ ra rễ càng cao. Nếu chọn cành khỏe lấy trên một cây còn non,
bầu đủ ấm và đủ thoáng thì chỉ 5 – 6 tuần lễ là ra rễ, 2 – 3 tháng có thể hạ thể, 6 – 8
tuần lễ nữa thì có cây con đủ tiêu chuẩn trồng. Hãy nhúng cành giâm vào các dung
dịch IBA, NAA 100ppm trong 12 giờ trước khi cho vào bể giâm thì tăng tỷ lệ ra rễ.
Auxin cũng là một chất kích thích sinh trưởng được ứng dụng trong việc ra
hoa của cây. Các chất auxin tổng hợp như α-NAA; 2,4D cũng được sử dụng ở một
số vùng trồng dứa. Ở Hawaii nhiều cánh đồng dứa được phun dung dịch muối natri
25