đánh giá hiệu quả sử dụng các công cụ chính sách tiền tệ ở việt nam trong thập kỷ 90 và những năm đầu thế kỷ xxi - Pdf 24

LỜI NÓI ĐẦU
Thế giới đã bước sang thiên niên kỷ thứ 3, nhìn lại chặng đường
hơn 10 năm đổi mới và phát triển kinh tế của nước ta – một khoảng
thời gian không dài nhưng lại có một vai trò quan trọng, đó là một
bước ngoặt trong tiến trình hội nhập và phát triển kinh tế. Những thành
tựu đã đạt được trong hơn 10 năm qua có một phần đóng góp rất lớn
của Ngân hàng nhà nước với công cụ kinh tế vĩ mô rất mạnh trong tay,
đó là chính sánh tiền tệ.
Công cụ kinh tế vĩ mô này đã được các nước tư bản phương tây áp
dụng từ khá lâu.Từ khi phát triển kinh tế thị trường theo định hướng
Xã hội chủ nghĩa ở nước ta thì công cụ này mới thực sự được sử dụng
theo đúng những chức năng của nó.Khoảng thời gian 10 năm là không
dài, do vậy bên cạnh những thành tựu, kết quả thu được thì việc điều
hành chính sách tiền tệ thực sự là còn rất nhiều bất cập. Có nhiều
nguyên nhân dẫn đến sự thiếu linh hoạt của nó. Nhưng vì khuôn khổ
thời gian có hạn và quan trọng hơn là lượng kiến thức thức tích lũy của
một sinh viên khóa ba như em còn hạn chế cho nên em chỉ gói gọn
phạm vi nghiên cứu của đề tài về các công cụ chính sách tiền tệ đi sâu
vào các công cụ mạnh thực sự có hiêu quả đã và đang được các nước
phát triển như Mỹ , Nhật sử dụng. Đó là: lãi suất ,tái chiết khấu,
công cụ Nghiệp vụ Thị trường mở Tuy nhiên trọng tâm vào các công
cụ này không có nghĩa là bỏ qua các công cụ khác vì chúng có mối
quan hệ qua lại bổ sung lẫn nhau tạo điều kiện cho chính sách tiền tệ
được phát huy linh hoạt , hiệu quả.
Đề tài này của em có thể xem như một đề tài thời sự , đi sâu về mặt
thực tiễn giải pháp, vì vậy có thể làm tài liệu tham khảo của các bạn
sinh viên kinh tế muốn tiếp cận một cách trực quan hơn tới hoạt động
của hệ thống ngân hàng nói chung và hệ thống chính sách tiền tệ nói
riêng.
Ngoài phần mở đầu và kết luận, đề tài bao gồm 3 chương :
Chương 1: Lý luận chung về các công cụ chính sách tiền tệ

có thể làm tăng hay giảm sản lượng, giá cả; tạo ra nhiều công ăn việc
làm hay không Tất nhiên là trong điều kiện giả định các yếu tố khác
là không thay đổi.
2
Tóm lại việc chủ động tạo ra các biến động về tiền tệ ( xét cả về
khối lượng tiền và giá tiền tức là lãi suất) với một mục đích xác định,
một mục tiêu rõ ràng chính là bản chất của tiền tệ.
1.1.2 Hệ thống mục tiêu của Chính sách tiền tệ
Ta đã biết các biến số kinh tế vĩ mô: Sản lượng, giá cả, công ăn việc
làm kể trên là mục tiêu lâu dài, là các đích cuối cùng mà CSTT theo
đuổi. Nhưng đó là các chỉ tiêu mang tầm vĩ mô và dài hạn vì vậy để
định hướng trong những khoảng thời gian ngắn thì CSTT cần phải có
một hệ thống mục tiêu.
1.2.2.1 Mục tiêu cuối cùng
a- Khái niệm
Mục tiêu cuối cùng là mục tiêu mà CSTT cần phải đạt được
b- Các loại mục tiêu cuối cùng
b1: ổn định giá cả
Giữ cho mức giá cả không biến động lớn
b2: Tăng trưởng kinh tế
b3: Tạo nhiều công ăn việc làm
1.2.2.2 Mục tiêu trung gian
a- Khái niệm
Mục tiêu trung gian là mục tiêu mà ngân hàng nhà nước đưa ra
nhằm đạt được mục tiêu cuối cùng và nó có quan hệ mật thiết với mục
tiêu cuối cùng
b- Các chỉ tiêu:
- Tổng lượng tiền: áp dụng khi nhu cầu về hàng hoá biến động mạnh
hơn nhu cầu tiền tệ
- Chỉ tiêu lãi suất: áp dụng trong trường hợp nhu cầu tiền tệ biến

Việc ngân hàng nhà nước quy định một mức trần hạn mức tín dụng
sẽ khống chế khả năng cho vay nền kinh tế của các ngân hàng thương
mại sẽ không được phép cho khách hàng vay vượt quá số mà ngân
hàng Nhà nước quy định
4
ChÝnh s¸ch tiÒn tÖ
C«ng cô trùc tiÕp
C«ng cô gi¸n tiÕp
Môc tiªu trung gian
Môc tiªu cuèi cïng
Môc tiªu ho¹t ®éng
Khi đã khống chế kiểm soát được khả năng cho vay, ngân hàng Nhà
nước lúc này sẽ kiểm soát được khả năng tạo tiền của các Ngân hàng.
Từ đó sẽ khống chế được tỉ lệ tăng trưởng tiền tệ tức là mức cung tiền
c- Ưu điểm- nhược điểm
* Ưu điểm:
Công cụ này khống chế gần như ngay lập tức và chặt chẽ đến lượng
tín dụng cung ứng từ đó khống chế tỷ lệ tăng trưởng tiền tệ vì vậy
công cụ tỏ ra đặc biệt hữu dụng khi mà lạm phát ở mức cao.
Trong những điều kiện đặc biệt, ở những nước mà thị trường tiền tệ
chưa phát triển dẫn đến các công cụ dán tiếp kém hiệu quả thì công
cụ hạn mức tín dụng vẫn là một công cụ hữu hiệu
* Nhược điểm:
+ Hạn chế tín dụng cung ứng làm giảm lượng tiền cung ứng dẫn đến
lãi suất tăng
+ Hạn mức tín dụng quy định làm giảm khả năng cạnh tranh của các
Ngân hàng thương mại với nhau tạo ra môi trường cạnh tranh thiếu
lành mạnh
+ Căn cứ để đề ra hạn mức còn thiếu mà nhiều khi mang tính chất
hành chính; hạn mức đề ra không chính xác vì dựa vào tổng dư nợ lịch

có quản lý mà sự tác động có sự khác nhau
1.2.2 Các công cụ gián tiếp
Nhóm công cụ này sẽ tác động trực tiếp vào các mục tiêu hoạt động
của chính sách tiền tệ; tác động này lan truyền đến các mục tiêu trung
gian: Lãi suất, khối tiền cung ứng
1.2.2.1 Dự trữ bắt buộc
a- Khái niệm:
Dự trữ bắt buộc là số tiền mà các Ngân hàng thương mại buộc phải
duy trì trên một tài khoản tiền gửi không hưởng lãi tại Ngân hàng
Trung ương - Ngân hàng nhà nước ( NHNN)
b- Cơ chế tác động:
- Tăng dự trữ bắt buộc (Rd↑ )  Re↓  dẫn đến làm giảm khả năng
cho vay, khả năng tạo tiền  giảm tiền cung ứng Ms
- ↑Rd  ↓ hệ số tạo tiền  ↓ khả năng cho vay  Ms↓
- ↑Rd  Re↓  ↓ cung vốn ( trên thị trường liên ngân hàng ) làm
tăng lãi suất liên Ngân hàng  ↑ lãi suất cho vay  ↓ khả năng cho
vay ( do chi phí đầu vào tăng )
c- Ưu - nhược điểm
6
- Do tác động mạnh vào hệ số tạo tiền ( m
1
=
Re
1
++
+
Rdc
c
) nên có thể
nới lỏng hay thắt chặt tiền tệ một cách nhanh chóng và khá chính xác,

cung vốn trên thị trường liên Ngân hàng  ↑ lãi suất liên Ngân
hàng ↓ lãi suất cho vay, mở rộng cho vay  Ms ↑
+ ↓Lãi suất tái chiết khấu  ↓ chi phí đầu vào của vốn ( Các Ngân
hàng thương mại)  ↓ lãi suất cho vay
1.2.2.3 Nghiệp vụ thị trường mở
a- Khái niệm
Nghiệp vụ thị trường mở ( NVTTM hay OMO) là các hoạt động của
Ngân hàng nhà nước trên thị trường mở thông qua việc mua bán các
chứng khoán
b- Cơ chế tác động
- Mua( Bán) chứng khoán  tăng ( giảm) dự trữ của các Ngân hàng
thương mại  tăng (giảm) khả năng tạo tiền  Ms↑(giảm)
- Vốn khả dụng của các Ngân hàng tăng ( giảm) sẽ làm tăng ( giảm)
cung vốn trên thị trường liên ngân hàng  lãi suất trên thị trường này
giảm ( tăng)  tăng ( giảm) giá chứng khoán ngắn hạn  ↓ (tăng)
mức sinh lời chứng khoán ngắn hạn  ↓ (tăng) mức sinh lời chứng
khoán dài hạn  ↓ (tăng) cầu chứng khoán  khả năng tiêu dùng sẽ ↑
( giảm)  tăng sản lượng, giá cả hoặc sẽ làm ↓ chi phí vay vốn  ↑
đầu tư
- NHNN bán chứng khoán  ↑ cung chứng khoán này trên thị
trường  ↓ giảm gía chứng khoán  lãi suất chứng khoán tăng ( hoàn
vốn)  ↑ cầu về chứng khoán nói trên  người tiêu dùng có xu hướng
rút tiền mua chứng khoán
Để ngăn chặn tình trạng này, ngân hàng sẽ tăng lãi suất huy động 
↑ lãi suất cho vay
c- Ưu - nhược điểm
Đây là một công cụ rất mạnh của NHNN, giúp NHNN chủ động
trong việc điều tiết lượng tiền cung ứng
- Công cô NVTTM rất linh hoạt, có thể sử dụng vào bất cứ thời
điểm nào mà không sợ đổ vỡ như công cụ dự trữ bắt buộc do

Từ tháng 06/1994, trong điều kiện chưa áp dụng được các công cụ
dán tiếp, NHNN Việt nam đã sử dụng công cụ hạn mức tín dụng như
là công cụ chính sách tìên tệ. Đồng thời trong hoàn cảnh bấy giờ với
9
mức lạm phát nằm từ 1% đến 20% thì để hạn chế công cụ hạn mức là
tạm sử dụng được. Tuy nhiên NHNN thời kỳ này không chủ động
trong việc kiểm soát lượng tiền cung ứng do phải đáp ứng các nhu cầu
chi tiêu của Chính phủ , kênh tín dụng chưa hiệu quả làm cung tiền tệ
tăng hoặc giảm không dự báo được.
Tuy vậy bước đầu trong thời kỳ đó, hạn mức này đã khống chế
được mức tăng chi nợ ngắn hạn là 24% so với năm 1993. Đến 1995
hạn chế của công cụ này bộc lộ rõ nét khi mà mức tăng dư nợ tín dụng
thực tế vượt hạn mức 0,66 lần. Đến 1997 – 1998 thì ngược lại hạn mức
lại thừa ra so với khả năng hấp thụ vốn của nền kinh tế. Công cụ hạn
mức tỏ ra không có hiệu quả do phải có những điều kiện đặc biệt mới
phát huy tác dụng của nó. Mặt khác công cụ mang nhiều tính chất
hành chính mệnh lệnh và thiếu linh hoạt, đặc biệt là thiếu căn cứ trong
việc xác định hạn mức tín dụng và sự lỏng lẻo của các chế tài
2.2 Công cụ lãi suất
Do hạn chế về mặt kiến thức, thời gian cũng như tư liệu, nên em chỉ
xin nêu và đánh giá thực trạng công cụ lãi suất một vài năm gần đây
đặc biệt là những mốc quan trọng đánh dấu bước ngoặt trong điều
hành lãi suất.
Từ năm 1991, hệ thống ngân hàng chuyển sang mô hình 2 cấp;
trong hoạch định và điều hành chính sách tiền tệ NHNN sử dụng và
điều hành linh hoạt công cụ lãi suất phù hợp mục tiêu ngắn hạn, dài
hạn
+ Từ 1991 đến 06/1992 NHNN quy định các mức lãi suất tiền gửi
và cho vay, mục tiêu chống lạm phát
+ 06/1992 đến 1995 thực hiện cơ chế lãi suất thực dương tức là quy

05 0,65 0,75 1,05
06 0,65 0,75 1,05
07 0,65 0,75 1,05
08 0,65 0,75 1,05
09 0,65 0,75 1,05
10 0,6 0,75 1,00
11 0,6 0,725 0,9
12 0,6 0,725 0,9
11
01/2002 0,6 0,725 0,9
02 0,6 0,725 0,9
03 0,6 0,725 0,9
04 0,6 0,725 0,9
05 0,6 0,725 0,9
Nguồn: Tạp chí Ngân hàng ( 07/2002)
Như vậy nhìn vào bảng diễn biến lãi suất trên ta thấy lãi suất cơ bản
liên tục được cắt giảm tới 04 lần từ tháng 01/2001 đến 05/2002. Điều
này là phù hợp với chính sách tiền tệ nới lỏng mà NHNN Việt nam
đang theo đuổi. Tuy nhiên việc cắt giảm là thận trọng và cắt giảm từng
bước nhỏ một. Với một biên độ khá rộng là +0,3% ( ngắn hạn) ; +
0,5% ( dài hạn) ta thấy lãi suất bình quân trên thị trường thành thị là đã
đúng hướng . Tuy nhiên lãi suất huy động trên thị trường nông thôn
còn khá cao, kịch biên độ. Đó là do cạnh tranh ở khu vực nông thôn
còn yếu, thế chấp trên thị trường này thường Ýt hoặc không có dẫn tới
các ngân hàng lớn dễ bỏ qua thị trường này
+ Giai đoạn từ 01/06/2002 đến nay với việc ra đời lãi suất thỏa
thuận NHNN đã thực sự áp dụng “ tù do hóa lãi suất” hay “ lãi suất thị
trường” . Theo đó các tổ chức tín dụng và người đi vay trực tiếp thỏa
thuận với nhau về mức lãi suất cho vay . Tuy nhiên NHNN Việt nam
cũng vẫn sẽ công bố lãi suất cho vay cơ bản có tham khảo lãi suất cho

dự trữ bắt buộc được tính chung cho tất cả tiền gửi không phân biệt
tiền gửi có kỳ hạn hay không có kỳ hạn dưới 12 tháng
So sánh các lần tăng giảm tỷ lệ dự trữ bắt buộc với các mức lạm
phát và lãi suất ta thấy chúng có quan hệ tỉ lệ thuận với nhau. Điều này
rất dễ thấy trong diễn biến của tỉ lệ dự trữ bắt buộc năm 1999 - năm
chính phủ mở rộng tiền tệ để kích cầu; lãi suất trần giảm 4 lần thì tỉ lệ
dự trữ bắt buộc cũng giảm 3 lần. Cụ thể hơn trong 6 tháng đầu năm
2001, NHNN có quyết định giảm tỉ lệ dự trữ bắt buộc bằng VNĐ từ
5% xuống còn 3% ( riêng ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông
thôn hạ từ 3% xuống 2% ) với ngoại tệ giảm từ 15% xuống còn 10%
Mặc dù quyết định được đưa ra với mục đích kích cầu nhưng phản
ứng trên thị trường tiền tệ lại ngược lại. Theo lời một giám đốc ngân
hàng thương mại quốc doanh: " Về nguyên tắc khi dự trữ bắt buộc
giảm thì tổng phương tiện thanh toán phải có điều kiện tăng lên Tuy
nhiên trên thực tế trong 6 tháng đầu năm, tổng phương tiện thanh toán
lại tăng chậm hơn so với mức tăng cùng kỳ năm trước (năm 2000). Có
thể lý giải vấn đề này là do mức tăng trưởng tín dụng và tổng huy động
13
vốn đều có mức tăng chậm hơn so với cùng kỳ năm ngoái ( năm 2001
so với năm 2000) trong khi mức cung tiền đạt thấp.
2.5 Chính sách tái chiết khấu
Trong giai đoạn trước tháng 03/1997, NHNN quy định lãi suất tái
cấp vốn( tái chiết khấu) theo lãi suất cho vay trên từng khế ước xin tái
cấp vốn; chính vì vậy mà lãi suất tái chiết khấu mang tính bị động , lãi
suất này còn mang tính phân biệt giữa các ngân hàng. Kể từ 03/1997
trở đi, cùng với việc hoàn thiện cơ chế lãi suất, lãi suất tái chiết khấu
đã được xác định một cách độc lập. sau mỗi lần thay đổi lãi suất trần,
NHNN còng thay đổi mức lãi suất tái cấp vốn tương ứng. để đáp ứng
chính sách tiền tệ mở rộng phục vụ mục đích kích cầu nền kinh tế qua
các năm 1999,2000 và 2001. Lãi suất tái chiết khấu liên tục được điều

12/04/2001 NHNN đã tổ chức được 11 phiên giao dịch thị trường mở (
kể từ 01/01/2002) trong đó có 08 phiên NHNN mua lại các tín phiếu
kho bạc còn lại thời hạn ngắn, thông qua đó cung ứng 2.279 tỷ đồng
cho các NHTM. Phiên giao dịch vào ngày 14/04/2002 NHNN đã cung
ứng 500 tỷ đồng. Trong đó Ngân hàng đầu tư và phát triển ( 145,98 tỷ
đồng); Ngân hàng công thương ( 89,42 tỷ đồng); Ngân hàng nông
nghiệp và phát triển nông thôn ( 246,6 tỷ đồng) với lãi suất 4,9%/năm.
Phương thức kinh doanh hiện đang áp dụng trên thị trường mở là
phương thức đấu thầu lãi suất ( hiện giống với đấu thầu tín phiếu kho
bạc)
Chương 3
NHỮNG GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN VÀ NÂNG CAO HIỆU QUẢ
SỬ DỤNG CÁC CÔNG CỤ CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ
Ở VIỆT NAM TRONG THỜI GIAN TỚI
3.1 Những căn cứ chủ yếu trong việc đề ra các giải pháp
3.1.1 Những định hướng lớn của Đảng và Chính phủ
Nghị quyết đại hội IX của Đảng đã khẳng định:' Xây dựng nền kinh
tế thị trường có sự quản lý của nhà nước theo định hướng xã hội chủ
nghĩa"
Mới đây, trong chương trình định hướng hoạt động của Chính phủ
nhiệm kỳ 2002 - 2007 đã khẳng định và cam kết hoàn thành mảng
nhiệm vụ kinh tế, đó là : Nâng cao chất lượng, hiệu quả và sức mạnh
cạnh tranh của nền kinh tế, trong đó riêng về lĩnh vực Tài chính Ngân
hàng " Bảo đảm sự ổn định kinh tế vĩ mô, làm lành mạnh nền tài chính
15
quốc gia, cả tài chính nhà nước và tài chính doanh nghiệp, dân cư; đổi
mới và nâng cao chất lượng hoạt động tiền tệ, tín dụng. Những việc
quan trọng và cấp bách là: Tiếp tục đỏi mới chính sách tài chính, thực
hiện chương trình cải cách chế độ thuế đi đôi với chấn chỉnh tổ chức
và cải tién phương thức thu thuế; quản lý chặt chẽ chi tiêu nhà nước,

Tốc độ phát triển GDP thực tế 6,8 6,8 6,4
Mức lạm phát giá tiêu dùng trung bình - 1,7 - 0,4(a) 2,8
Mức lạm phát giá tiêu dùng cuối năm - 0,6 0,5(a) 3,5
Lãi suất cho vay 10,6 9,3 9,0
Chi tiêu của chính phủ( % GDP) - 4.3 - 5,1 - 6,1
Tỷ giá VNĐ/USD trung bình 14.548 14.643 14.658
Tỷ giá VNĐ/USD cuối kỳ 14.545 14.845 15.003
M1 ( cuối kỳ - Tỷ đồng) 90.984 94.397 100.038
% Thay đỏi theo năm 27.6 26,9 28,1
M2 ( cuối kỳ - Tỷ đồng) 216.186 226.933 235.254
% Thay đỏi theo năm 34,5 34,8 31
Ghi chó: - (a): Thực tế
- (b): Ước đoán của tổ chức kinh tế
- (c) : Dự đoán của tổ chức kinh tế
(Nguồn: www.vnn.vn/ Kinh tế)
Thông qua bảng dự báo các chỉ tiêu ở trên ta có thể đánh giá tổng
quát thời gian tới NHNN nói riêng và Chính phủ nói chung vẫn sẽ áp
dụng các chính sách nới lỏng tiền tệ. điều này được thể hiện qua sự
tăng liên tục của lượng tiền M1 từ 90.984 tỷ đồng lên 94.397 tỷ và tới
là 100.038 tỷ. Lượng tiền M2 còn tăng mạnh hơn đều trên 30% một
năm. ( từ 34,5%/năm rồi 34,8%/năm).
Xu hướng là đồng VNĐ càng mất giá so với USD, và theo một số
quan điểm, nó đang tiêu đúng về giá trị thực của nó, điều này sẽ có có
lợi cho xuất khẩu và các biện pháp về tỷ giá của NHNN
Mức lạm phát sẽ tăng dần sau một thời kỳ giảm phát . điều này chỉ
xảy ra khi một phần có sự bơm tiêu ra của NHNN; Xét cho cùng một
mức lạm phát vừa phải lẽ tạo ra động lực cho nền kinh tế. Lãi suất vẫn
sẽ giữ ổn định không có biến động lớn.
3.2 Một số kiến nghị và giải pháp để nâng cao hiệu quả hoạt
động của các công cụ chính sách tiền tệ

định 3,3%/năm)
3.2.1.2 Đối với ngân hàng nhà nước
18
- Cần thực hiện mạnh dạn và dức khoát hơn nữa trong việc chuyển
đổi điều hành các công cụ từ trực tiếp sang gián tiếp vì những ưu điểm
nổi bật của các công cụ này
- Xuất phát từ thực trạng hiện nay của thị trường nội tệ liên ngân
hàng , việc sớm huỷ bỏ các văn bản có liên quan được ban hành trước
2 pháp lệnh Ngân hàng ra đời mà nay không còn phù hợp với tình hình
thực tế sẽ gây chồng chéo ; không chủ động trong việc điều hành chính
sách tiền tệ
- Tăng cường thực hiện các biện pháp thu thập thống kê, dự đoán để
nắm bắt thông tin kịp thời đầy đủ về các hoạt động liên ngân hàng;
tình hình vốn khả dụng của các ngân hàng nhất là khi đẩy mạnh việc
sử dụng các công cụ dán tiếp . Thực tế hiện giờ khả năng dự báo của ta
cả về phía NHNN lẫn các ngân hàng thương mại rất yếu kém, dẫn tới
điều hành "mò", có ngân hàng tuần trước còn phải SWAPS ( hoán đổi
ngoại tệ) với NHNN với lãi suất lên tới 14% /năm thì tuần sau đã lại di
đấu thầu trái phiếu kho bạc với lãi suất chỉ có 5,4%/năm.
- NHNN cần sớm hoàn thiện các khuôn khổ pháp lý cần thiết cho
hoạt động thị trường nhất là các quy định về chứng khoán; tạo điều
kiện cho pháp lệnh thương phiếu có hiệu lực thực sự( được ban hành
từ 01/07/2000) để tạo ra nhiều hàng hoá hơn nữa trong thị trường thứ
cấp, từ đó hoạt động thị trường mở có hiệu quả.
Tóm lại là cần học hỏi kinh nghiệm của một số nước có thị trường
tiền tệ phát triển từ đó mà tạo điều kiện cho sự hoạt động đa dạng của
thị trường này ( hợp đồng mua lại CDs )
3.2.2 Những giải pháp cụ thể cho từng công cụ chính sách tiền tệ
3.2.2.1 Công cụ lãi suất và tỷ giá
Việc điều hành lãi suất cần tiếp tục gắn với điều hành tỷ giá

Trong thời gian gần đây xuất hiện một xu hướng là đồng nội tệ rất
khan hiếm mặc dù lãi suất huy động của đồng nội tệ đã tăng lên liên
tục. Lý giảI cho hiện tượng này có nhiều cách khác nhau nhưng một
trong những nguyên nhân đó là do tỷ giá VNĐ/USD tăng lên liên tục
với mức độ biến động cao hơn mức chênh lệch lãi suất nội tệ và ngoại
tệ ( hiện là ≈ trên dưới 4% ) đã làm cho thu nhập kỳ vọng của tiền gửi
VNĐ và tạo nên tâm lý mong đợi tỷ giá tăng hơn trong tương lai. Rõ
ràng là với tình trạng như vậy thì mức độ " đô la hoá" nền kinh tế của
Việt nam sẽ ngày một sâu sắc và sẽ " rất nguy hiểm" cho việc điều
hành chính sách tiền tệ của NHNN , lúc đó các công cụ của NHNN có
thể sẽ mất đi các tác dụng to lớn của nó.
20
Chấp nhận cơ chế điều hành tỷ giá theo tỷ giá giao dịch bình quân
trên thị trường ngoại tệ liên ngân hàng của đồng Việt nam với đồng đô
la Mỹ với biên độ dao động 0,25% cùng với lãi suất ngoại tệ thả nổi
thì mức độ linh hoạt của lãi suất nội tệ phải được nới lỏng hơn nữa
nhằm cân bằng mức sinh lời dự tính của 2 loại tiền gửi. Hiện nay với
lãi suất thoả thuận thì kiến giải trên đã được thực hiện nhưng lại xuất
hiện một nguy cơ là khả năng kiểm soát của NHNN bị triệt tiêu. Rõ
ràng điều này sẽ không xảy ra Ýt nhất là theo cam kết từ phía NHNN
theo điều 2 quyết định 546 đã nói ở trên
Như vậy việc điều hành tỷ giá của NHNN đã dần theo kịp , theo sát
với diễn biến thị trường. Điều này là thực sự cần thiết nhưng cũng cần
chú ý những " tác động chủ quan" từ phía Chính phủ có thể gây ra một
" sự cố không hay " nào đó
3.2.2.2 Công cụ dự trữ bắt buộc
Như đã phân tích ở phần lý luận, đây là một công cụ có tác động rất
mạnh và bình đẳng đều mọi chủ thể tổ chức tín dụng ngân hàng. Chính
vì vậy khi sử dụng công cụ này phải lưu ý lường trước những kết quả,
phạm vi chi phí mà mỗi ngân hàng phải gánh chịu vì nếu tính toán

thường xuyên hơn nữa cho các ngân hàng với mức lãi suất thấp, có thể
thấp hơn lãi suất liên ngân hàng tạo nên mức sàn trên thị trường .
Thông qua kênh này NHNN thực hiện vai trò điều tiết tiền tệ, giảm áp
lực ngắn hạn về dự trữ trên thị trường, tránh các đột biến vế lãi suất.
Có như vậy NHNN mới chứng tỏ mình là "người cho vay cuối cùng".
- Nếu đã sử dụng hết hạn mức chiết khấu, NHNN cần tạo điều kiện
cho các ngân hàng thương mại vay bảo đảm bằng các giấy tờ có giá
ngắn hạn cho vay theo hồ sơ tín dụng. Lúc này lãi suất có thể sẽ cao
hơn lãi suất chiết khấu
- Tạo điều kiện cho vay qua cửa số chiết khấu đặc biệt, hoặc cho vay
thẩm chi có tài sản đảm bảo nhằm bù đắp thiếu hụt vốn tạm thời ngắn
hạn trong thanh toán. Thời hạn vay có thể rất ngắn ( thường là qua
đêm) với mức lãi suất có thể là mức trần trên thị trường tiền tệ
- Có cơ chế quản lý vốn chính xác tránh tình trạng điều hành "mò".
Xác định rõ chủ thể nào thiếu vốn và cần vốn; chủ thể nào có thể lợi
dụng đầu cơ lợi dụng việc lãi suất hạ xuống thấp để trục lợi ( dùng tiền
đâù tư trên thị trường mở)
3.2.2.4 Nghiệp vụ thị trường mở
Mặc dù mới ra đời nhưng với vị trí và tầm quan trọng của nó, công
cụ này xứng đáng được quan tâm đầu tư sử dụng có hiệu quả hơn nữa,
tiến tới trở thành công cụ điều tiết tiền tệ chủ yếu
a- Về mặt khuôn khổ pháp lý
22
Cần phổ biến và thực hiện nghiêm túc các văn bản về các vấn đề liên
quan đến nghiệp vụ thị trường mở ( OMO) đã được ban hành như:
Quy chế nghiệp vụ thị trường mở, quy trình OMO, quy định đăng ký
giấy tờ có giá, quy chế quản lý vốn khả dụng, quy trình đấu thầu tín
phiếu NSNN
b- Về mặt kỹ thuật nghiệp vụ
- Lãi suất giao dịch trên thị trường mở hay là giá của các giấy tờ có

khoán trung dài hạn sẽ làm cho vốn bị ứ đọng, vốn “chết”.
Từ những phân tích trên để làm cho hoạt động của OMO trở nên
sôi động nhộn nhịp hơn cần phải có các quy chế pháp lý để tạo thêm
hàng hóa trên thị trường, tạo đIều kiện cho các loại chứng khoán trung
và dài hạn được chấp nhận và biện pháp gián tiếp là phát triển thị
trường chứng khoán thứ cấp . trong quá trình xem xét thì các cơ quan
chức năng cũng cần chú ý là đưa các loại chứng khoán nào vào đi
chăng nữa thì chúng phải có tính lỏng cao
- Giải pháp tiếp theo là cần phải hiện đại hóa hệ thống thanh toán.
cần phải xây dựng được mô hình mạng máy tính nối kết giữa NHNN
với các thành viên tham gia OM O; Phát triển được các phần mềm
chuyên dụng tạo điều kiện cho các nghiệp vụ trao đổi đấu thầu trên thị
trường diễn ra nhanh chóng chính xác với khối lượng lớn. Cụ thể là
phải đảm bảo thực hiện các công đoạn giao dịch từ khi công nhận
thành viên, đăng ký chữ ký điện tử , thông báo mời thầu ; đăng ký giấy
tờ có giá; xét thầu; tạo lập và ký hợp đồng mua lại đến thanh toán
chuyển khoản và thông báo, báo cáo…( Hiện nay NHNN đã cải thiện
thời gian thanh toàn từ việc 2 ngày sau ngày đấu thầu xuống còn trong
phạm vi ngày đấu thầu đã được thanh toán luôn
- Thực tế hiẹn nay các thành viên tham gia vào OMO chủ yếu là các ngân
hàng thương mại quốc doanh lớn và qua các phiên đấu thầu thì đa số là họ trúng
thầu. Do đó tiềm lực tài chính mạnh hơn nhiều và được sự bảo hộ của nhà nước
so với các tổ chức tín dụng khác. điều này làm cho hoạt động của OMO thiếu đi
tính cạnh tranh lành mạnh vì vậy NHNN cần phải rà soát nghiên cứu các văn
bản pháp lý ; các cơ chế và quy chế về nghiệp vụ thị trường mở để kịp thời điều
chỉnh sửa đổi theo hướng tạo điều kiện thu hút thành viên tham gia thị trường ;
tiếp tục tuyên truyền , bồi dưỡng kiến thức về nghiệp vụ này cho các tổ chức tín
dụng.
KẾT LUẬN
Với mục đích nghiên cứu là xem xét nhìn nhận hoạt động thực tế

Hà Nội Ngày 16 Tháng 9 Năm 2002
Sinh viên lớp 3012
TRẦN HỒNG HÀ
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
25


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status