thực trạng nsnn viêt nam hiện nay và tình hình lạm phát và các biện pháp xử lý ở việt nam - Pdf 24

Học viện ngân hàng
Khoa kế toán _ kiểm toán
Líp KTB _ CĐ24
* * *
BÀI THẢO LUẬN
TÀI
CHÍNH
THÀNH VIÊN:
1. Mai Hương Thanh
2. Hoàng Thu Phương
3. Nguyễn Thị Thu Phương
4. Nguyễn Thị Phương Lan
5. Đặng Thị Giang
6. Chu Thị Hương Lan
7. Dương Thị Huyên
8. Nguyễn Thị Loan (HC 2421249)
9. Nguyễn Thị Thanh Loan
10. Bùi Thị Hải Quỳnh
11. Bùi Thị Thu Hương
12. Vũ Thị Thu
ĐỀ TÀI:
•Thực trạng NSNN Việt Nam
hiện nay
•Giải pháp xử lý thâm hụt
NSNN
A. THỰC TRẠNG NSNN VIÊT Nam HIỆN NAY
I. MỘT SỐ KHÁI NIỆM
1. NSNN là tổng các kế hoạch chi tiêu, thu nhập hàng năm của Chính
Phủ bao gồm các khoản thu (chủ yếu là thuế) và chi NSNN. Những
khoản thu thờng bị hụt so với mức chi ra của Chính Phủ, từ đó sinh ra
thâm hụt NSNN.

- Viện trợ.
- Lấy từ nguồn dự trữ.
Vay thuần (= vay mới - trả nợ gốc).
D. Chi thường xuyên.
E. Chi đầu tư.
F. Cho vay thuần
(= cho vay mới - thu nợ gốc).
Theo cân đối NSNN hàng năm ta có:A+B+C=D+E+F
Công thức tính bội chi NSNN của một năm sẽ như sau:
Bội chi NSNN = Tổng chi - Tổng thu = (D + E + F) - (A + B) = C.
II. THỰC TRẠNG CÂN ĐỐI NSNN
“Cõn đối ngân sách nhà nước (NSNN) là một trong các nội dung cơ
bản nhất của nền tài chính quốc gia và là điều kiện tiên quyết để đảm
bảo sự ổn định lành mạnh cho nền tài chính quốc gia”.
Vậy nguyên nhân ở đâu lại mất cân đối NSNN hiện nay?
Có hai nhóm nguyên nhân cơ bản sau:
- Thứ nhất là tác động của chu kỳ kinh doanh. Khủng hoảng làm cho
thu nhập của Nhà nước co lại, nhưng nhu cầu chi lại tăng lên, để giải
quyết những khó khăn mới về kinh tế và xã hội. Điều đã làm cho mức
bội chi NSNN tăng lên.
Khi nền kinh tế phồn thịnh, thu của Nhà nước sẽ tăng lên, trong khi
chi không phải tăng tương ứng. Điều đã làm giảm mức bội chi NSNN.
Mức bội chi do tác động của chu kỳ kinh doanh gây ra được gọi là bội
chi chu kỳ.
- Thứ hai là tác động của chÝnh sách cơ cấu thu chi của Nhà nước.
Khi Nhà nước thực hiện chÝnh sách đẩy mạnh đầu tư, kÝch thÝch tiêu
dùng sẽ làm tăng mức bội chi NSNN. Ngược lại, thực hiện chÝnh sách
giảm đầu tư và tiêu dùng của Nhà nước thì mức bội chi NSNN sẽ giảm
bớt. Mức bội chi do tác động của chÝnh sách cơ cấu thu chi gây ra được
gọi là bội chi cơ cấu.Trong điều kiện bình thường (không cã chiến tranh,

07
56.500 5%
Giảm một cách đáng kế thâm hụt ngân sách Nhà nước được coi là
thành tựu đáng kể của quá trình đổi mới kinh tế ở nước ta. Thành tựu
này đă gãp phần to lớn vào quá trình đẩy lùi lạm phát ở nước ta cuối
những năm 80. Giảm thâm hụt ngân sách đạt được là do kết quả của
những biện pháp cứng rắn như cắt giảm chi tiêu chính phủ, xãa bỏ dần
các loại trợ cấp, lương, trợ cấp cho xí nghiệp quốc doanh… Nhiều năm
thâm hụt giảm xuống dưới 5% so với GDP – một kết quả đáng khích lệ.
Chóng ta đưa ra bảng dưới đây để làm kết quả so sánh:
BẢNG THÂM HỤT NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC NĂM TỪ 1987 _1994
(Đơn vị tính: Tỷ đồng)
1987 1988 1989 1990 1991 1992 1993 1994
Thâm
hụt ngân
sách
130,4 1072 1081 3033 1728 3847 7930 7714
So với
GDP
(%)
4,9 8,1 8,1 7,9 2,5 3,8 6,3 5,9
Để đạt được những thành tựu này, chóng ta đã có nhiều đổi mới như:
Về hệ thống thuế: Thuế đã được xem xét đóng với vai trò cơ bản của nã
trong cơ chế thị trường là tạo nguồn thu cho ngân sách, kích thích tăng
trưởng, điều chỉnh và phân phối lại thu nhập. Hệ thống thuế đã đã và
đang được cải cách theo hướng mở rộng cơ sở thu thuế, nhiều sắc lệnh
thuế mới ban hành phù hợp với điều kiện nước ta và thông lệ quốc tế
(thuế thu nhập, thuế đÊt đai, thuế sử dụng tài nguyên).

CHI NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC.

thường của giá dầu, đồng thời bảo đảm chủ động ngân sách thực hiện
trong phòng, chống, khắc phục hậu quả thiên tai và thực hiện những
nhiệm vụ quan trọng phát sinh).
Những khoản chi mang tính bao cấp không thuộc chức năng, nhiệm
vụ của NSNN nhìn chung được cắt giảm đáng kể, giảm bớt gánh nặng
chính đáng cho NSNN trong điều kiện mới. Đồng thời các khoản chi bao
cấp cho doanh nghiệp Nhà nước cũng giảm đáng kể nhờ có biện pháp cổ
phần hóa và kiên quyết cắt giảm chi bao cấp từ NSNN. Bên cạnh đó, ta
thấy được một xu hướng mới đang hình thành. Chi đầu tư phát triển từ
nguồn vốn tập trung của Nhà nước đang được dành chủ yếu cho xây
dựng cơ sở hạ tầng và những khu vực khó hoặc không thu hồi được vốn.
Xu hướng này tích cực, phù hợp với thực tế nước ta, cần được củng cố
và tăng cường trong giai đoạn chuẩn bị bước đầu hội nhập.
Thực tế trong 8 năm qua, từ năm 2001 đến nay, tốc độ tăng bội chi
NSNN là khá cao, ở mức 17-18%/ năm. Tốc độ này nếu trừ đi yếu tố
tăng trưởng thỡ cũn cao hơn tỷ lệ lạm phát hằng năm (năm 2001: 0,2%;
năm 2002: 1,6%; năm 2003: 9,7%; năm 2004: 8,1%; năm 2005: 9,0%;
năm 2006: 11,1%; năm 2007: 7,8%).
Thực tế trong những năm gần đây, mặc dù chúng ta đã kiểm soát bội
chi NSNN từ hai nguồn là vay nước ngoài và vay trong nước nên sức ép
tăng tiền cung ứng thêm ra thị trường là không có, nhưng sức ép tăng chi
tiêu của Chính phủ cho tiêu dùng thường xuyên và cho đầu tư là tăng
lên.
Đồ thị : bội chi NSNN từ 1996 -2008
(Nguồn: Bộ Tài chính)

Thu ngân sách nhà nước
Thu ngân sách không những đã bảo đảm đủ nguồn thu cho chi tiêu
thường xuyên của Chính phủ mà còn để dành ra một phần tích luỹ cho
đầu tư phát triển. Số thu ngân sách, theo giá hiện hành, đã tăng 7,7 lần từ

Điều đặc biệt, năm 2005 Quốc hội đã nhất trí tăng dự toán thu nội địa
từ thu tiền sử dụng đất thêm 800 tỷ đồng (để tăng dự toán chi đầu tư xây
dựng cơ bản hạ tầng của địa phương), tăng dự toán thu ngân sách trung
ương từ dầu thô 2.500 tỷ đồng (do giá dầu thô thế giới hiện ở mức cao
và dự báo trong năm 2005 sẽ vẫn ở mức cao). Tổng hợp chung, dự toán
thu NSNN năm 2005 tăng thêm 3.300 tỷ đồng.
Tình trạng thất thu cũn khỏ phổ biến, hiệu quả kiểm soát nguồn thu
ngân sách còn hạn chế. Thu NSNN vẫn còn phụ thuộc nhiều vào các
biến động theo thị trường thế giới như dầu thô và hoạt động xuất nhập
khẩu. Theo những đánh giá của IMF, hoạt động ngân sách trong một số
năm gần đây là tích cực, ngoài ra, do có nguồn thu lớn từ dầu thô cho
nên vị thế về trung hạn của ngân sách là có thể kiểm soát được, miễn là
hoạt động cho vay lại và các khoản nợ nằm ngoài ngân sách được kiểm
soát chặt chẽ.Tuy nhiên trong năm gần đây cũng ghi nhận những chuyển
biến, theo đó cơ chế quản lý tài chính được sửa đổi theo hướng minh
bạch và tăng cường tự chủ tài chính, gắn trách nhiệm của đơn vị sử dụng
ngân sách, tạo cơ sở cho việc đổi mới cơ chế quản lý tài chính công
trong những năm tới.
Luật NSNN sửa đổi từ năm ngân sách 2004 đã được hoàn thiện dần
và đến nay cơ bản đã hoàn tất cùng với việc hoàn tất 3 luật thuế GTGT,
thuế TTĐB, thuế TNDN mới sửa đổi, bổ sung có hiệu lực thi hành từ
ngày 1.1.2004 chắc chắn sẽ có tác động tích cực đến hoạt động sản xuất
kinh doanh và dẫn đến kết quả tích cực hơn cho thu chi NSNN năm
2004 và những năm sau.
Việc hoàn thuế và kiểm tra hoàn thuế còn nhiều bất cập. Vấn đề không
hoàn thành các mục tiêu đề ra là cần phải xem xét. Như vậy, trong bối
cảnh tiến hành hội nhập với những biến động phức tạp của thị trường thế
giới thì đây là dấu hiệu cảnh báo về quản lý NSNN. Nguồn thu ngân
sách qua các năm không ổn định và Thực hiện công khai, minh bạch
toàn bộ hoạt động đầu tư từ nguồn vốn NSNN là một giải pháp cấp bách

I. NHỮNG BIỆN PHÁP XỬ LÝ
1. Biện pháp “tăng thu, giảm chi”
Đây là biện pháp mà Chính phủ bằng những quyền hạn và nhiệm vụ
được giao, tính toán hợp lý để tăng các khoản thu như thu từ Thuế và
cắt giảm chi tiờu.
m=1/(1-MPC) ; mt= -MPC/(1-MPC)
m+mt = 1 (số nhân ngân sách cân bằng )
Ý nghĩa : khi chính phủ tăng chi tiêu (G) và tăng thuế (T) một lượng
như nhau thì ngân sách không đổi và sản lượng cân bằng sẽ tăng một
lượng tương ứng ∆Y = ∆G = ∆T
Khi chính phủ tăng chi tiêu
∆Y = 1/(1-MPC) x ∆G
Khi đồng thời tăng thuế :
∆Y = 1/(1-MPC) x ∆G - MPC/(1-MPC)x∆T
Mà ∆G =∆T nên ta có ∆Y = ∆G= ∆T
2. Vay nợ trong nước (Vay dân) :
Vay nợ trong nước được Chính phủ thực hiện dưới hình thức phát
hành công trái, trái phiếu. Ở Việt Nam, Chính phủ thường uỷ nhiệm cho
Kho bạc nhà nước phát hành trái phiếu dưới các hình thức: tín phiếu kho
bạc; trái phiếu kho bạc; trái phiếu công trình.

m
Số tiền vay trong nước
để bù đắp bội chi ngân
sách nhà nước
(đơn vị tính: Tỷ đồng)
200
7
43.000
200

3. Vay nợ nước ngoài:
Chính phủ có thể tài trợ thâm hụt ngân sách bằng các nguồn vốn nước
ngoài thông qua việc nhận viện trước nước ngoài hoặc vay nợ nước
ngoài từ các chính phủ nước ngoài, các định chế tài chính thế giới như
Ngân hàng Thế giới (WB), Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF), Ngân hàng Phát
triển Châu Á (ADB), các tổ chức liên chính phủ, tổ chức quốc tế
Viện trợ nước ngoài là nguồn vốn phát triển của các chính phủ, các tổ
chức liên chính phủ, các tổ chức quốc tế cung cấp cho chính phủ của
một nứoc nhằm thực hiện các chương trình hợp tác phát triển kinh tế xã
hội và hiện nay chủ yếu là nguồn vốn phát triển chính thức ODA.
Vay nợ nước ngoài có thể thực hiện dưới các hình thức: phát hành trái
phiếu bằng ngoaị tệ mạnh ra nước ngoài, vay bằng hình thức tín dụng
N
ăm
Số tiền vay nước ngoài để
bù đắp bội chi ngân sách
nhà nước
(đơn vị tính: Tỷ Đồng)
20
07
13.500
20
06
12.500
20
05
8.326
20
04
7.253

Kết hợp với việc vay nợ nước ngoài ở trên, việc giảm quỹ dự trữ ngoại
tệ cũng sẽ khiến cho tỷ giá hối đoái tăng, làm suy yếu sức cạnh tranh
quốc tế của hàng hoá trong nước.
5. Vay ngân hàng (in tiền)
Chính phủ khi bị thâm hụt ngân sách sẽ đi vay Ngân hàng Trung ương
để bù đắp. Để đáp ứng nhu cầu này, tất nhiên, Ngân hàng trung ương sẽ
tăng việc in tiền. Điều này sẽ tạo ra thêm cơ sở tiền tệ. Chính vì vậy, nó
được gọi là tiền tệ hoá thâm hụt.
Ưu điểm của biện pháp này là nhu cầu bù tiền để bù đắp ngân sách
nhà nước được đáp ứng một cách nhanh chóng, không phải trả lãi,
không phải gỏnh thờm cỏc gánh nặng nợ nần.
Hạn chế của biện pháp này lại lớn hơn rất nhiều lần. Việc in thêm và
phát hành thêm tiền sẽ khiến cho cung tiền vượt cầu tiền. Nó đẩy cho
việc lạm phát trở nên không thể kiểm soát nổi. Trong những năm 80 của
thế kỷ 20, nước ta đã bù đắp bội chi ngân sách nhà nước bằng cách in
thêm tiền đưa vào lưu thông. Việc này đã đẩy tỷ lệ lạm phát đỉnh điểm
lên tới hơn 600%, nền kinh tế bị trì trệ
II. TÌNH HÌNH LẠM PHÁT VÀ CÁC BIỆN
PHÁP XỬ LÝ Ở VIỆT Nam :
Kể từ nửa cuối năm 2007 đến nay, lạm phát luôn là vấn đề nóng bỏng
trờn cỏc bàn thảo luận, cũng như trờn cỏc phương tiện thông tin đại
chúng. Theo dự báo, chỉ số giá tiêu dùng cỏc thỏng còn lại của năm
2008 có thể giao động từ 1,1%/ tháng đến 1,5%/ tháng, nếu lấy mức
trung bình là 1,3%/ thỏng, thỡ 5 tháng còn lại sẽ tăng 6,5%, tính cả năm
2008 chỉ số giá tiêu dùng sẽ là 26,28%. Thực tế cho thấy, do lạm phát
nên tình hình kinh tế - xã hội đã phát sinh nhiều biến động lớn gây ra
không ít khó khăn cho sự tăng trưởng kinh tế và đời sống nhân dân
1.TÌNH HÌNH LẠM PHÁT VÀ NHỮNG NGUYÊN NHÂN:
Lạm phát là một quá trình giá tăng liên tục, tức là mức giá chung
tăng lên hoặc là quá trình đồng tiền liên tục giảm giá.

mụ…);
Do cầu kéo (khủng hoảng lương thực thế giới, dịch bệnh triền miờn…
làm lượng nhiều loại hàng hóa bị suy giảm, tuy nhiên tổng lượng cầu
hàng hóa vẫn có xu hướng gia tăng);
Do tác động của chính sách tiền tệ (riêng năm 2007, cung tiền M2
tăng trưởng với tốc độ kỷ lục trong vòng 5 năm trở lại đây, với con số
35%, vốn đầu tư nước ngoài vào Việt Nam tương đối lớn…).
Do yếu tố tâm lý (người tiêu dùng chạy theo các tin đồn từ đó làm
tăng lượng cầu đột biến, không chuyển tiền của mình sang đầu tư sản
xuất - kinh doanh mà mua vàng, kim loại quý…)
Như vậy, trong 5 nguyên nhân chủ yếu gây ra tình hình lạm phát trong
thời gian vừa qua ở Việt Nam, nguyên nhân xử lý bội chi NSNN vẫn còn
thiếu quyết liệt. Do vậy, để kiềm chế lạm phát, ngoài các biện pháp kiềm
chế lạm phát mà Chính phủ, cũng như các bộ, ngành đang thực thi, vấn
đề quản lý chặt tình hình chi NSNN như: chi thường xuyên của các cơ
quan nhà nước, đầu tư cụng… thông qua việc xử lý bội chi NSNN là vô
cùng cấp thiết và có ý nghĩa rất quan trọng.
Trong thời gian 5 năm 1986 - 1990, 59,7% mức thâm hụt này được hệ
thống Ngân hàng thanh toán bằng cách phát hành tiền. Năm 1984, phát
hành tiền để bù đắp thâm hụt ngân sách là 0,4 tỷ đồng, năm 1985: 9,3 tỷ
đồng, năm 1986: 22,9 tỷ đồng, năm 1987: 89,1 tỷ đồng, năm 1988: 450
tỷ đồng, năm 1989: 1655 tỷ đồng và năm 1990 là 1200 tỷ đồng. Số còn
lại được bù đắp bằng các khoản vay nợ và viện trợ của nước ngoài (so
với bội chi, khoản vay và viện trợ năm 1984 là 71,3%, năm 1985 là
40,8%, năm 1986: 38,4%, năm 1987: 32,1%, năm 1988: 32,6%, năm
1989: 24,9%, năm 1990 là 46,7%) và một số nhỏ do các khoản thu từ
bán công trái trong nước.
Đồ thị : Tổng bội chi NSNN và tiền phát hành để bù đắp bội chi
NSNN (1985 - 1990)
(Nguồn: Bộ Kế hoạch và Đầu tư)

mà có tác động làm cho nền kinh tế chuyển sang giai đoạn đi lên.
Giai đoạn từ năm 2001-2007, NSNN cũng đó cú chuyển biến đáng kể.
Tốc độ tăng thu hằng năm bình quân là 18,8%. Tốc độ tăng chi bình
quân hằng năm đạt 18,5%. Bội chi NSNN trong giai đoạn này về cơ bản
đuợc cân đối ở mức 5% GDP và thực hiện ở mức 4,9%-5% GDP. Nếu
chỉ xét ở tỷ lệ so với GDP, cũng thấy bội chi NSNN trong 7 năm trở lại
đây tăng cao hơn các năm trước đó khá nhiều (bình quân khoảng 4,95%
GDP) vì giai đoạn năm 1991-1995, mức bội chi NSNN so với GDP chỉ
ở mức 2,63% và giai đoạn từ năm 1996-2000 ở mức 3,87% so với GDP
Để giải quyết tổng thể vấn đề bội chi NSNN ở Việt Nam, cần thiết
phải có những quy định chặt chẽ hơn, theo đó có thể áp dụng các giải
pháp sau:
Tập trung các khoản vay do Trung ương đảm nhận. Các nhu cầu đầu
tư của địa phương cần được xem xét và thực hiện bổ sung từ ngân sách
cấp trên. Thực hiện như vậy tránh được đầu tư tràn lan, kém hiệu quả và
để tồn ngân sách quá lớn và quản lý chặt chẽ số bội chi NSNN. Hiện tại,
chúng ta đang đứng trước mâu thuẫn giữa nhu cầu vốn cho đầu tư phát
triển với nguồn lực hạn hẹp. Nếu thực hiện thắt chặt, hạn chế vay để đầu
tư sẽ kìm hãm sự phát triển của nền kinh tế đang có nhu cầu vốn rất cao.
Nhưng nếu chúng ta không kiểm soát chặt chẽ các khoản vay nợ của
NSNN, nhất là vay của ngân sách địa phương, thì nguy cơ ảnh hưởng
đến an ninh tài chính quốc gia, sự bền vững của NSNN. Thực hiện đầu
tư tập trung cũng có lợi là bảo đảm phát triển hài hoà, cân đối giữa cỏc
vựng, miền trong toàn quốc. Kinh nghiệm của Trung Quốc: nghiêm cấm
ngân sách các địa phương vay vốn dưới bất kỳ hình thức nào, các khoản
chi đầu tư của địa phương được xem xét tính toán và bổ sung từ ngân
sách trung ương.
Giải quyết tốt mối quan hệ giữa chi đầu tư phát triển và chi thường
xuyên, nhất là ngân sách các địa phương. Do vậy, khi các địa phương
vay vốn để đầu tư, sẽ kiên quyết không bố trí nguồn chi thường xuyên

tháng 6 đã giảm dần. Chỉ số giá tiêu dùng tháng 7 tăng 1,13%, tháng 8 là
1,56%, chủ yếu do điều chỉnh tăng giá xăng, dầu; chỉ số giỏ thỏng 9 tăng
0,18% là mức tăng thấp nhất kể từ đầu năm đến nay; dự báo chỉ số giá
tiêu dùng cả năm tăng khoảng 24%. Tỷ giá ngoại tệ cũng đã ổn định trở
lại và giảm nhiều so với đỉnh điểm trong tháng 6-2008. Các cân đối vĩ
mô như: Ngân sách Nhà nước, tiền tệ tín dụng, cán cân thanh toán quốc
tế tương đối ổn định. Dự trữ ngoại tệ tăng lên, nhập siêu giảm dần; các
chỉ số về nợ nước ngoài đều trong giới hạn an toàn cho phép.
Ðầu tư trực tiếp nước ngoài tiếp tục tăng cao; các nhà đầu tư tin tưởng
vào sự phát triển trung và dài hạn của Việt Nam. Ước thực hiện cả năm
2008, tổng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài thực hiện đạt khoảng 10-11
tỷ USD, trong đó vốn nước ngoài khoảng 8,5 tỷ USD; vốn đăng ký tăng
gần gấp ba lần so với năm 2007. An sinh xã hội được bảo đảm. Các hoạt
động khoa học, công nghệ, giáo dục - đào tạo và các lĩnh vực xã hội
khác tiếp tục phát triển. Công tác đối ngoại và hợp tác quốc tế đạt được
nhiều kết quả tích cực. Công tác cải cách hành chính và phòng, chống
tham nhũng có chuyển biến. Chính trị ổn định, quốc phòng, an ninh và
trật tự xã hội được bảo đảm.
Ðạt được những kết quả bước đầu nói trên, nhất là kết quả kiềm chế
lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô, trước hết là nhờ sự thống nhất cao trong
lãnh đạo của Ðảng, sự nỗ lực của toàn dân và cộng đồng doanh nghiệp,
sự chỉ đạo tập trung quyết liệt của Chính phủ.
Bên cạnh những kết quả đạt được nền kinh tế nước ta trong năm qua
cũn cú những hạn chế, yếu kém như tăng trưởng kinh tế trong quý III có
được cải thiện so với quý II, nhưng chớn thỏng đầu năm mới đạt 6,2%,
thấp hơn so với chỉ tiêu điều chỉnh được Quốc hội thông qua là 7%. Tốc
độ tăng giá và lạm phát cao hơn nhiều so với các năm trước. Nhập khẩu
và tỷ lệ nhập siêu đã được kiềm chế và giảm dần từ giữa năm nhưng vẫn
ở mức cao. Ðời sống nhân dân, nhất là người nghèo, người có thu nhập
thấp, vựng sõu, vựng xa, đồng bào dân tộc thiểu số và vùng bị thiên tai

- Tổng nguồn vốn đầu tư phát triển toàn xã hội khoảng 725 nghìn tỷ
đồng, bằng 40% GDP.
- Tổng thu ngân sách nhà nước khoảng 418 nghìn tỷ đồng, tăng 4,76%
so với ước thực hiện năm 2008; tổng chi ngân sách nhà nước 509,4
nghìn tỷ đồng, tăng 7,4% so với ước thực hiện năm 2008.
- Bội chi ngân sách nhà nước khoảng 87,3 nghìn tỷ đồng, bằng 4,8%
GDP.
- Chỉ số giá tiêu dùng tăng dưới 15%.
- Giảm tỷ lệ hộ nghèo xuống còn 12%.
- Tạo việc làm cho khoảng 1,7 triệu lao động, trong đó đưa lao động đi
làm việc ở nước ngoài khoảng 9 vạn người.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status