Các giải pháp đẩy mạnh xuất khẩu nông sản hàng hóa của Việt Nam sang thị trường một số nước Asean - Pdf 24

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ VÀ QUẢN TRỊ KINH DOANH

ĐỖ THÙY LƢƠNG
CÁC GIẢI PHÁP ĐẨY MẠNH XUẤT KHẨU
NÔNG SẢN HÀNG HÓA CỦA VIỆT NAM SANG
THỊ TRƢỜNG MỘT SỐ NƢỚC ASEAN
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
Chuyên ngành: Quản lý Kinh tế



Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: TS Nguyễn Quốc Tiến
Thái Nguyên – 2012

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

1
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Ngày nay, hoạt động xuất khẩu trở nên vô cùng quan trọng đối với bất
kỳ quốc gia nào trên thế giới. Không có một quốc gia nào phát triển phồn vinh
khi vẫn duy trì nền kinh tế đóng cửa và chỉ dựa vào thương mại nội địa.
Thông qua hoạt động xuất khẩu, các quốc gia khai thác được lợi thế của mình
trong phân công lao động, tạo nguồn thu ngoại tệ quan trọng cho đất nước,
chuyển đổi cơ cấu kinh tế và đặc biệt là tạo công ăn việc làm cho người lao
động.
Từ những năm 1986, Việt nam bắt đầu tiến hành công cuộc đổi mới
toàn diện nền kinh tế. Sau hơn 25 năm đổi mới, chúng ta đã đạt được những
thành tựu to lớn về mọi mặt. Để làm được điều đó, cùng với việc phát triển
các ngành nghề lĩnh vực khác, Việt Nam đã rất năng động trong lĩnh vực
ngoại thương, và xuất khẩu đã thực sự có ý nghĩa to lớn trong chiến lược xây
dựng và phát triển kinh tế. Nhờ đẩy mạnh xuất khẩu Việt nam mới có điều
kiện thuận lợi thực hiện thành công các mục tiêu phát triển kinh tế xã hội.
Là một nước nằm ở Đông Nam Á, có khí hậu nhiệt đới gió mùa ấm

luận về xuất khẩu nông sản hàng hóa và đẩ y mạ nh xuấ t khầ u nông sản hàng
hóa của Việt Nam ra nước ngoài nói chung, sang thị trường các nướ c
ASEAN-5 nói riêng; Thực trạng tình hình xuất khẩu và các giải pháp có thể
để đẩy mạnh xuất khẩu nông sản hàng hóa của Việt Nam sang thị trường các
nước ASEAN-5.
* Phm vi nghiên cu:
- Phạm vi về nội dung và không gian: Đề tài chỉ tậ p trung nghiên cứ u
vào việc xuấ t khẩ u nông sản hàng hóa của Việt Nam sang thị trường các nước
ASEAN-5 gồm Indonesia, Malaysia, Philippines, Singapore và Thá i Lan.
- Phạm vi về thời gian: Đề tà i tậ p trung nghiên cứ u tì nh hình xuấ t khẩ u
nông sản hàng hóa của Việt N am sang thị trường các nước ASEAN -5 giai
đoạ n 1995-2011.
4. Ý nghĩa khoa học của đề tài
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

3
- Về mặ t lý luậ n: Kết quả nghiên cứu đề tài sẽ làm rõ thêm cơ sở lý luận
và thực tiễn của việc đẩy mạnh xuất khẩu, đồng thời đề xuất các giải pháp có
cơ sở khoa học, có tính khả thi để đẩy mạnh xuất khẩu nông sản hàng hóa của
Việt Nam sang thị trường các nước ASEAN nói chung, các nước ASEAN-5
nói riêng.
- Về mặ t thự c tiễ n : Đề tài được ứng dụng sẽ góp phần nâng cao năng
lực và kết quả xuất khẩu của các doanh nghiệp Việt Nam đang và sẽ xuất
khẩu nông sản hàng hóa sang thị trường các nước ASEAN5, đồng thời có thể
làm tài liệu tham khảo cho việc xuất khẩu nông sản hàng hóa của Việt Nam
sang thị trường các nước thuộc khu vực khác có điều kiện tương tự.
5. Bố cục của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và các danh mục, luận văn gồm 4 chương:
- Chương 1: Cơ sở lý luận của việc xuất khẩu hàng nông sản.
- Chương 2: Phương pháp nghiên cứu.

nhà trọng thương đều ủng hộ việc điều tiết thương mại quốc tế theo hướng
khuyến khích xuất khẩu.
Học thuyết trọng thương đề cao vai trò của Nhà nước trong việc điều
khiển kinh tế thông qua bảo hộ (Võ Thanh Thu, 2010). Những người theo chủ
nghĩa này kêu gọi sự can thiệp của Nhà nước vào hoạt động kinh tế thông qua
việc áp dụng các hàng rào bảo hộ mậu dịch, miễn thuế nhập khẩu cho các loại
nguyên liệu phục vụ sản xuất, cấm bán ra nước ngoài sản phẩm thô, thực hiện
trợ cấp xuất khẩu. Theo các nhà trọng thương thì lao động là yếu tố cơ bản
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

5
của sản xuất. Chính vì vậy, để tăng khả năng cạnh tranh của sản phẩm trên thị
trường thì cần phải hạ thấp lương để giảm chi phí sản xuất.
Nhiều học giả cho rằng chủ nghĩa trọng thương là một học thuyết lâu
đời, nhưng ảnh hưởng của chủ nghĩa này vẫn còn kéo dài cho đến nay, đặc
biệt là trong cách tranh cãi về chính trị và chính sách thương mại của nhiều
quốc gia. Một trong những lý do nêu trên là quan điểm cho rằng thâm hụt cán
cân thương mại là không có lợi và nhập khẩu sẽ làm giảm việc làm trong
nước. Khi một quốc gia bị thâm hụt trong tại khoản vãng lai thì quốc gia đó
phải vay vốn từ phần còn lại của thế giới để mua nhiều hàng hoá và dịch vụ từ
phần còn lại của thế giới hơn là quốc gia đó bán hàng hoá và dịch vụ cho phần
còn lại của thế giới. Tuy nhiên, việc vay vốn này rất có thể cải thiện sức mạnh
kinh tế của quốc gia nếu lợi ích từ việc vay vốn này vượt quá chi phí vay.
Qua phân tích lý thuyết của chủ nghĩa trọng thương, người ta nhận thấy
có một số ưu điểm như sau. Thứ nhất, chủ nghĩa trọng thương đã biết đánh
giá được vai trò của thương mại quốc tế, coi đó là nguồn quan trọng mang
quý kim về cho đất nước. Thứ hai, chủ nghĩa trọng thương đã sớm nhận rõ vai
trò quan trọng của nhà nước trong việc điều tiết quan hệ ngoại thương. Thứ ba,
chủ nghĩa trọng thương là lý thuyết kinh tế đầu tiên trong lịch sử được nâng
lên như là lý thuyết khoa học.

từng nước tham gia vào hoạt động buôn bán (Đỗ Đức Bình và Nguyễn
Thường Lạng, 2004). Cũng nhờ tác phẩm này mà ngày nay nhiều nơi suy tôn
Adam Smith là “cha đẻ của kinh tế học”.
Để chứng minh rằng thương mại quốc tế mang lại lợi ích cho tất cả các
quốc gia tham gia thương mại, Adam Smith đã xây dựng khái niệm lợi thế
tuyệt đối. Khái niệm này nói về khả năng của một quốc gia cần sử dụng
nguồn lực ít hơn so với các quốc gia khác để sản xuất ra một hàng hóa nào đó.
Theo Adam Smith, một quốc gia có lợi thế tuyệt đối hơn so với các quốc gia
khác nếu quốc gia đó có khả năng sản xuất nhiều hàng hoá và dịch vụ hơn với
cùng một nguồn lực. Ông cho rằng thị trường sẽ điều tiết các hoạt động kinh
tế và đóng vai trò là một bàn tay vô hình phân bổ các nguồn lực. Giá đóng vai
trò là một nhân tố chủ chốt. Cụ thể là giá tăng lên khi có sự khan hiếm và
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

7
giảm xuống khi có sự dư thừa. Các tác nhân thị trường đảm bảo việc sản xuất
hàng hoá và dịch vụ hợp lý.
Chấp nhận quan điểm là sự khác biệt về chi phí sản xuất sẽ phi phối sự
di chuyển quốc tế về hàng hóa, Adam Smith đã tìm cách giải thích nguyên
nhân tại sao chi phí sản xuất tại các quốc gia lại khác nhau. Ông cho rằng hiệu
suất của các nhân tố đầu vào quyết định chi phí sản xuất. Hiệu suất này do lợi
thế tự nhiên và lợi thế có được tạo ra. Lợi thế tự nhiên bao gồm các yếu tố
liên quan đến thời tiết, đất đai và khoáng sản. Trong khi đó lợi thế có được
bao gồm các kỹ năng và kỹ thuật đặc biệt. Adam Smith lập luận rằng, do có
lợi thế tự nhiên và lợi thế có được, một quốc gia có thể sản xuất hàng hóa với
chi phí thấp hơn, và do đó trở nên cạnh tranh hơn so với quốc gia khác. Chính
vì vậy, Adam Smith nhìn nhận khả năng cạnh tranh từ mặt cung của thị trường.
Adam Smith đã đưa ra một số chỉ trích quan trọng đối với chủ nghĩa
trọng thương. Một là, thương mại tự do mang lại lợi ích cho các bên tham gia
thương mại. Hai là, chuyên môn hoá sản xuất cho phép thực hiện lợi thế theo

sản xuất với chi phí cơ hội thấp hơn so với quốc gia khác. Điều đó cũng có
nghĩa là bất kì quốc gia nào cũng có lợi khi tham gia vào thương mại quốc tế
dù quốc gia đó có hay không có các điều kiện tự nhiên thuận lợi hơn hẳn các
quốc gia khác.
Quy luật lợi thế so sánh của David Ricardo là một trong những quy luật
quan trọng nhất, đặt cơ sở, nền móng cho mậu dịch quốc tế và được ứng dụng
rộng rãi nhất. Cho đến nay, bản chất của quy luật lợi thế so sánh của Ricardo
vẫn không thay đổi, nó đúng với bất kỳ một quốc gia nào. Theo quy luật này
thì thậm chí một quốc gia kém hiệu quả hơn (bất lợi thế tuyệt đối) so với quốc
gia kia trong việc sản xuất cả hai hàng hoá thì cả hai quốc gia vẫn có thể thu
được lợi ích từ thương mại. Quốc gia đó sẽ chuyên môn hoá sản xuất và xuất
khẩu hàng hoá mà nó có bất lợi thế tuyệt đối ít hơn (hàng hoá có bất lợi thế so
sánh) và nhập khẩu hàng hoá mà nó có bất lợi thế tuyệt đối lớn hơn (hàng hoá
có bất lợi thế so sánh). Nói cách khác, một quốc gia sẽ có lợi hơn khi sản xuất
và xuất khẩu những mặt hàng mà quốc gia đó có thể sản xuất với hiệu quả cao
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

9
hơn một cách tương đối hay giá cả thấp hơn một cách tương đối so với quốc
gia kia (Trần Văn Hòe và Nguyễn Văn Tuấn, 2007).
Ưu điểm của quy luật lợi thế so sánh là nó đi xa hơn lợi thế tuyệt đối của
Adam Smith ở chỗ chứng minh rằng tất cả các quốc gia đều có lợi khi giao
thương với nhau bất kể quốc gia đó có lợi thế tuyệt đối hay không. Tuy nhiên,
lý thuyết này cũng gặp phải một số hạn chế nhất định.
Một là, David Ricardo đã dựa trên hàng loạt các giả thiết đơn giản hóa lý
thuyết về giá trị lao động để chứng minh cho quy luật này. Trong khi đó trên
thực tế lao động không phải là đồng nhất; những ngành khác nhau sẽ có cơ
cấu lao động khác nhau, với những mức thu nhập khác nhau. Ngoài ra, hàng
hóa sản xuất không chỉ có lợi thế về lao động, nó còn nhiều yếu tố khác như:
đất đai, vốn, khoa học-công nghệ… nhất là hiện nay, yếu tố lợi thế về lao

công nghệ kỹ thuật cao, từ hàng hoá hữu hình cho đến hàng hoá vô hình. Tất
cả các hoạt động trao đổi này đều nhằm mục đích đem lại lợi ích cho các quốc
gia tham gia.
Mục đích của hoạt động xuất khẩu là khai thác được lợi thế của từng
quốc gia trong phân công lao động quốc tế. Việc trao đổi hàng hoá mang lại
lợi ích cho các quốc gia, do đó các quốc gia đều tích cực tham gia mở rộng
hoạt động này. Hoạt động xuất khẩu là hình thức cơ bản của ngoại thương đã
xuất hiện từ rất lâu và ngày càng phát triển. Nếu xem xét dưới góc độ các hình
thức kinh doanh quốc tế thì xuất khẩu là hình thức cơ bản đầu tiên mà các
doanh nghiệp thường áp dụng khi bước vào lĩnh vực kinh doanh quốc tế.
Có nhiều nguyên nhân khuyến khích các công ty thực hiện xuất khẩu
trong đó có thể là:
+ Sử dụng khả năng vượt trội (hoặc những lợi thế) của công ty.
+ Giảm được chi phí cho một đơn vị sản phẩm do nâng cao khối lượng
sản xuất.
+ Nâng cao được lợi nhuận của công ty.
+ Giảm được rủi ro do tối thiểu hoá sự dao động của nhu cầu.
* Đặc điểm:
- Hoạt động xuất khẩu diễn ra giữa hai hay nhiều quốc gia.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

11
- Hoạt động xuất khẩu có thể được tiến hành bởi tư nhân, doanh nghiệp
trong nước hay doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài.
- Thông thường các sản phẩm xuất khẩu là các mặt hàng lợi thế của
quốc gia.
* Vai trò của xuất khẩu
- Đi với nền kinh tế quc gia
Xuất khẩu tạo vốn bằng ngoại tệ phục vụ cho vấn đề nhập khẩu những
hàng hoá không phải là lợi thế của quốc gia. Điều này rất có ý nghĩa, đặc biệt

1.3.2. Xuất khẩu ủy thác
Trong hình thức này, đơn vị xuất khẩu (bên nhận ủy thác) nhận xuất
khẩu một lô hàng nhất định với danh nghĩa của mình và nhận được một khoản
thù lao theo thỏa thuận với đơn vị có hàng xuất khẩu (bên ủy thác). Xuất khẩu
uỷ thác được áp dụng trong trường hợp một doanh nghiệp có hàng hoá muốn
xuất khẩu, nhưng vì doanh ngiệp không được phép tham gia trực tiếp vào hoạt
động xuất khẩu hoặc không có điều kiện để tham gia. Theo hình thức này, quan
hệ giữa người bán và người mua được thông qua người thứ ba gọi là trung
gian (người trung gian phổ biến trên thị trường là đại lý và môi giới).
1.3.3. Buôn bán đối lưu
Đây là phương thức giao dịch mà trong đó xuất khẩu kết hợp chặt chẽ
với nhập khẩu, người bán hàng đồng thời là người mua, lượng hàng hoá mang
trao đổi có giá trị tương đương. Mục đích của hình thức này không nhằm thu
về một khoản ngoại tệ mà nhằm thu về một lượng hàng hoá có giá trị bằng giá
trị lô hàng xuất khẩu. Hình thức xuất khẩu này giúp doanh nghiệp tránh được
sự biến động của tỉ giá hối đoái trên thị trường ngoại hối, đồng thời có lợi khi
các bên không có đủ ngoại tệ để thanh toán cho lô hàng nhập khẩu của mình.
Có nhiều hình thức buôn bán đối lưu: hàng đổi hàng (phổ biến), trao
đổi bù trừ, chuyển giao nghĩa vụ
1.3.4. Gia công xuất khẩu
Là hình thức xuất khẩu, trong đó một bên (gọi là bên nhận gia công)
nhập khẩu nguyên liệu hoặc bán thành phẩm của bên khác (gọi là bên đặt gia
công) để chế tạo ra thành phẩm giao lại cho bên đặt gia công và qua đó thu
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

13
được một khoản phí như thỏa thuận của cả hai bên. Trong hình thức này bên
nhận gia công thường là các quốc gia đang phát triển, có lực lượng lao động
dồi dào, có tài nguyên thiên nhiên phong phú. Họ sẽ có lợi vì tạo thêm công
ăn việc làm cho người lao động, có điều kiện đổi mới và cải tiến máy móc để

1.4. Nội dung chính của hoạt động xuất khẩu hàng hóa
1.4.1. Nghiên cứu tiếp cận thị trường
Thị trường là một phạm trù khách quan gắn liền sản xuất với lưu thông
hàng hóa. Ở đâu có sản xuất và lưu thông hàng hóa thì ở đó có thị trường.
Theo nghĩa rộng, “Thị trường là nơi gặp gỡ giữa cung và cầu, giữa tập
người bán và tập người mua để thực hiện việc mua – bán hàng hóa, dịch vụ
nhằm thỏa mãn nhu cầu của họ”.
Theo nghĩa hẹp (trong marketing): Thị trường còn đồng nghĩa với
khách hàng. Hàng hóa, dịch vụ nào có người mua, thì ta nói hàng hóa, dịch vụ
đó có thị trường và ngược lại.
Nghiên cứu thị trường trong kinh doanh thương mại quốc tế là một loạt
các thủ tục, kỹ thuật được đưa ra để giúp các nhà kinh doanh có đầy đủ những
thông tin cần thiết về thị trường, từ đó có thể đưa ra những quyết định chính
xác. Chính vì vậy, nghiên cứu thị trường đóng một vai trò hết sức quan trọng
giúp các nhà kinh doanh đạt hiệu quả cao trong hoạt động kinh doanh xuất
nhập khẩu. Không phải chỉ đối với kinh doanh thương mại quốc tế mà bất cứ
trong lĩnh vực nào cũng đòi hỏi các nhà kinh doanh phải có đầy đủ các thông
tin, hiểu biết về thị trường mà mình đang hướng tới. Mỗi thị trường hàng hoá
cụ thể lại có những quy luật riêng, quy luật này thể hiện qua sự biến đổi nhu
cầu cung cấp và giá cả hàng hoá trên thị trường. Sơ đồ 1.1: Các bƣớc thực hiện xuất khẩu hàng hoá
Việc nghiên cứu thị trường sẽ giúp cho các nhà kinh doanh hiểu được

mặt hàng xuất khẩu là để lùa chọn được những mặt hàng kinh doanh phù hợp
khả năng của doanh nghiệp, đồng thời đáp ứng được nhu cầu thị trường, từ đó
mới mang lại hiệu quả cao trong kinh doanh. Mặt hàng được lựa chọn, ngoài
yêu cầu phải đạt tiêu chuẩn phù hợp với thị trường quốc tế còn phải phù hợp
với khả năng cung ứng của doanh nghiệp Khi lùa chọn mặt hàng xuất khẩu
các nhà kinh doanh phải chú ý nghiên cứu những vấn đề sau:
- Mặt hàng thị trường đang cần là gì ?
- Tình hình tiêu thụ mặt hàng đó như thế nào?
- Mặt hàng đó đang ở giai đoạn nào của chu kỳ sống?
b, Lựa chọn thị trường xuất khẩu (bán ở đâu)
Việc lựa chọn thị trường để xuất khẩu phức tạp hơn nhiều so với việc
nghiên cứu thị trường trong nước, bởi ngoài việc nghiên cứu về quy luật vận
động của thị trường còn phải nghiên cứu một số vấn đề khác như: điều kiện
tiền tệ, tín dụng, điều kiện vận tải (của thị trường nước ngoài mà mình hướng
tới) Việc lùa chọn thị trường phải chú ý một số vấn đề sau:
- Thị trường và dung lượng thị trường
- Vấn đề biến động giá cả trên thị trường.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

16
c- Lựa chọn đi tác kinh doanh (bán cho ai?)
Trong hoạt động xuất khẩu, để có thể thâm nhập vào thị trường nước
ngoài một cách thuận lợi, hạn chế đến mức thấp nhất rủi ro, doanh nghiệp
phải thông qua mét hay nhiều công ty đang hoạt động trên thị trường đó. Họ
có kinh nghiệm kinh doanh trên thị trường mình cần hướng tới cũng như địa
vị pháp lý để đảm bảo cho hai bên hoạt động một cách thuận lợi. Nhưng khi
lựa chọn đối tác cần phải chú ý tới:
- Quan điểm kinh doanh của đối tác;
- Lĩnh vực kinh doanh của đối tác;
- Khả năng về tài chính;


Xin giấy phép
xuất khẩu

Thuê tầu

Kiểm nghiệm
hàng hoá

Làm thủ tục
hải quan Giải quyết
khiếu nại

Hoàn thành
bộ CTTT

Mua bảo
hiểm

cho quốc gia này ít phục thuộc vào thương mại quốc tế. Do đó, dân số có tác
động tỷ lệ nghịch với quy mô xuất khẩu (Endoh, 2000). Chính vì vậy, dân số
có tác động tỷ lệ thuận hay tỷ lệ nghịch đối với thương mại hoàn toàn phụ
thuộc vào hiệu ứng nào vượt trội hơn (hiệu ứng lợi thế theo quy mô hay hiệu
ứng hấp thu).
- Khoảng cách về mặt địa lý giữa các quc gia: Trên thực tế, khoảng
cách về mặt địa lý giữa các quốc gia thể hiện chi phí thương mại, bao gồm chi
phí vận chuyển, chi phí về thời gian, chi phí bảo hiểm, tiếp cận thông tin về
thị trường. Tất cả các nhân tố này có tác động rất lớn đến thương mại.
Thương mại quốc tế diễn ra giữa các quốc gia càng xa nhau thì chi phí này
càng lớn. Chính vì vậy, các quốc gia thường có xu hướng ít trao đổi buôn bán
với đối tác thương mại ở xa. Nói cách khác, khoảng cách về mặt địa lý có tác
động tỷ lệ nghịch với kim ngạch xuất khẩu nói chung, và với kim ngạch xuất
khẩu nông sản nói riêng (Martinez-Zarzoso, 2003).
- Độ mở của nền kinh tế: Mặc dù thương mại quốc tế mang lại nhiều lợi
ích cho các quốc gia tham gia thương mại, nhưng trên thực tế không một quốc
gia nào cho phép hàng hoá và dịch vụ ra vào quốc gia mình một cách tự do.
Thông thường mỗi quốc gia đều có chính sách thương mại quốc tế riêng của
nước mình phù hợp với tình hình phát triển kinh tế - xã hội của từng nước. Để
can thiệp vào dòng chảy thương mại quốc tế, các quốc gia sử dụng nhiều biện
pháp và công cụ (thuế quan và rào cản phi thuế quan). Các rào cản này đã làm
cản trở đáng kể luồng hàng hoá và dịch vụ di chuyển giữa các quốc gia. Như
vậy, quốc gia có độ mở của nền kinh tế cao sẽ có xu hướng trao đổi buôn bán
và lệ thuộc vào thương mại nhiều hơn.
- Năng lực sản xuất của ngành nông nghiệp: Trên phương diện lý
thuyết, nông sản sản xuất ra nhằm phục vụ tiêu dùng trong nước và thị trường
quốc tế. Nhìn chung, các quốc gia có năng lực sản xuất nông nghiệp cao sẽ có
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

19


20
gian, tiền của và công sức để phát minh. Điều đó dẫn đến xu hướng sản
phẩm xuất khẩu có hàm lượng công nghệ cao, một số sản phẩm mới sẽ tham
gia vào việc xuất khẩu.
- Gía cả hàng hóa: là một nhân tố không chỉ tác động đến nền kinh tế
trong nước mà còn ảnh hưởng đến hoạt động trao đổi hàng hóa giữa các
quốc gia trên thế giới. Gía cả hàng hóa được xem xét trên 2 khía cạnh: giá
thành sản xuất sản phẩm và giá bán. Gía thành sản xuất sản phẩm phụ thuộc
vào điều kiện tự nhiên, giá nguyên vật liệu đầu vào, giá nhân công, công
nghệ sản xuất để sản xuất ra sản phẩm đó. Sự khác biệt về giá cả và chi phí
tương đối là cơ sở của thương mại quốc tế. Một nước sẽ chuyên môn hóa sản
xuất và xuất khẩu những mặt hàng mà nước đó có khả năng sản xuất với chi
phí so sánh thấp nhất. Khía cạnh thứ hai cần xét đến là giá xuất khẩu. Căn cứ
để xác định giá xuất khẩu là giá thành sản phẩm, chi phí vận chuyển, lợi
nhuận doanh nghiệp có thể đạt được, thuế, phí và chi phí khác. Gỉa định các
yếu tố không đổi, giá xuất khẩu tăng thì tổng kim ngạch xuất khẩu sẽ tăng,
nếu giá xuất khẩu giảm thì tổng kim ngạch xuất khẩu sẽ giảm. Tuy nhiên
trên thực tế, nghiên cứu sự ảnh hưởng của giá xuất tới tổng kim ngạch xuất
khẩu phải xét tới sự ảnh hưởng của các yếu tố khác là sức cạnh tranh về giá
và chất lượng của sản phẩm đó với các sản phẩm cùng loại nhưng được sản
xuất ở các quốc gia khác, tỷ giá hối đoái,…
1.6. Vai trò của xuất khẩu hàng hóa đối với phát triển kinh tế
Cùng với chiến lược hội nhập và phát triển, thương mại quốc tế là một
bộ phận quan trọng, nó quyết định đến lợi thế của quốc gia trên trường quốc
tế. Vì vậy, việc đẩy mạnh giao lưu thương mại quốc tế nói chung và đẩy mạnh
việc xuất khẩu nói riêng là một mục tiêu hàng đầu của mỗi quốc gia. Thực tế
đã chứng minh những nước có dự trữ ngoại tệ lớn như Mỹ, Nhật, Singapore,
Đài Loan… là những nước có tỷ trọng xuất khẩu lớn nhất trên thế giới. Do
vậy, xuất khẩu hàng hóa có ý nghĩa quan trọng đối với mỗi quốc gia.

triển thì việc sản xuất để phục vụ nhu cầu trong nước còn chưa đủ. Do đó,
xuất khẩu và thay đổi cơ cấu kinh tế rất chậm chạp. (2) Quan điểm này xuất
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

22
phát từ nhu cầu thị trường thế giới để tổ chức sản xuất. Theo đó, các nước
theo quan điểm này cần coi thị trường thế giới là hướng quan trọng để tổ chức
sản xuất. Điều này sẽ tác động tích cực đến việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế.
Khi đó, xuất khẩu sẽ tạo điều kiện cho các ngành khác có cơ hội phát triển
thuận lợi. Ví dụ như ngành dệt may xuất khẩu phát triển sẽ tạo điều kiện cho
ngành sản xuất nguyên liệu như bông, sợi, thuốc nhuộm… Đồng thời, xuất
khẩu sẽ tạo khả năng mở rộng thị trường tiêu thụ và khả năng cung cấp đầu
vào cho sản xuất.
Năm là, xuất khẩu có tác động tích cực đến việc giải quyết việc làm và
cải thiện đời sống nhân dân. Một mặt, khi xuất khẩu tăng mạnh kéo theo đó là
sự tăng lên của các doanh nghiệp sản xuất, chế biến và dịch vụ hàng xuất khẩu.
Đây chính là nơi thu hút một lực lượng lao động không nhỏ với thu nhập khá.
Mặt khác, xuất khẩu còn tạo ra nguồn vốn để nhập khẩu vật phẩm tiêu dùng
phục vụ cho nhu cầu tiêu dùng của nhân dân. Quan trọng hơn là xuất khẩu có
tác động trực tiếp đến sản xuất làm tăng quy mô và tốc độ sản xuất, khi đó có
sự khôi phục ngành nghề cũ và sự gia tăng thêm ngành mới sẽ thúc đẩy quá
trình phân công lao động, tăng năng suất lao động và đời sống nhân dân
được cải thiện.
Sáu là, xuất khẩu là cơ sở để mở rộng và thúc đẩy quan hệ kinh tế đối
ngoại, tăng cường vị thế quốc gia trên trường quốc tế. Hoạt động kinh tế đối
ngoại của một quốc gia bao gồm: (1) hoạt động ngoại thương; (2) hoạt động
hợp tác đầu tư và hợp tác khoa học công nghệ; (3) Hoạt động dịch vụ. Trong
đó, xuất khẩu có sớm hơn các hoạt động còn lại nên nó có tác động thúc đẩy
cho các quan hệ này phát triển.
1.7. Sự cần thiết phải thúc đẩy hoạt động xuất khẩu nông sản của Việt Nam

thị trường này, song lại rất thấp ở thị trường khác. Vì vậy, trong kinh doanh
hàng nông sản đối với một doanh nghiệp vấn đề xác định thị trường mục tiêu,
thị trường tiềm năng đóng vai trò quan trọng hàng đầu đối với doanh nghiệp.
b. Thị trường nông sản thế giới
Trong thương mại quốc tế nói chung và trong xuất khẩu hàng nông sản
nói riêng, việc nghiên cứu thị trường hàng hoá quốc tế là rất quan trọng. Nó
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

Trích đoạn Những điểm yếu Nguyên nhân của những hạn chế Quan điểm phát triển xuất khẩu ở Việt Nam thời kỳ 2012- Định hƣớng phát triển xuất khẩu thời kỳ 2012- Mục tiêu tổng quát
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status