Một số giải pháp đẩy mạnh xuất khẩu nông sản sang thị trường EU từ nay đến năm 2010 - Pdf 44

LỜI NÓI ĐẦU
Với xu thế toàn cầu hoá hiên nay, chuyển từ đối đầu sang đối thoại
thì thương mại quốc tế đóng một vai trò to lớn trong sự nghiệp phát triển
kinh tế của mỗi quốc gia trên thế giới trong đó hoạt động xuất khẩu đóng
vai trò quan trọng trong hoạt động thương mại. Với một nước mà ngành
nông nghiệp chiếm tỷ trọng lớn trong GDP như Việt Nam thì xuất khẩu
nông sản là một hướng đi đúng đắn. Nhận biết được điểm mạnh này, ngành
nông nghiệp nước ta đã nỗ lực hết sức để chuyển dịch cơ cấu cây trồng, vật
nuôi sao cho phù hợp với nhu cầu của thế giới về mặt hàng nông sản.
Việt Nam đang trong thời kỳ công nghiệp hoá hiện đại hoá đất nước
việc xuất khẩu các mặt hàng chủ lực nói chung và nông sản nói chung để
phục vụ cho mục tiêu lớn đó. EU là một thị trương lớn và đầy tiềm năng
cho mặt hàng nông sản của Việt Nam, nhu cầu tiêu thụ nông sản của EU rất
lớn. Nắm bắt được điều này những thuận lợi này Việt Nam đã đẩy mạnh
đầu tư xuất khẩu mặt hàng nông sản sang thị trường EU. Tuy nhiên chúng
ta cũng gặp không ít khó khăn trong việc xuất khẩu nông sản sang thị
trường EU. Vì vậy, để hoạt động xuất khẩu nông sản sang thị trường EU có
hiệu quả và khuyến khích các chủ thể kinh tế đẩy mạnh xuất khẩu sang thị
trường này cần có một phương hướng xuất khẩu nông sản sang thị trường
EU.
Phương hướng xuất khẩu nông sản sẽ quyết định hướng cho việc dự
đoán cơ hội và nguy cơ có thể xảy ra nhằm cung cấp thông tin hữu ích cho
chu thể xuất khẩu.
Với những lý do trên và kết hợp với nhưng gì đã được học em đã lựa
chọn đề tài “Một số giải pháp đẩy mạnh xuất khẩu nông sản sang thị
trường EU từ nay đến năm 2010 ”
1
CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA XUẤT NHẬP KHẨU
HÀNG HOÁ
I. Khái niệm và vai trò của xuất nhập khẩu.
1. Khái niệm

động quốc tế và thương mại quốc tế.
Kinh tế đối ngoại là một bộ phận cực kỳ quan trọng đối với nền kinh
tế quốc dân của mỗi quốc gia và hoạt động xuất nhập khẩu là xương sống
vì nó là yếu tố chủ động nhất trong các lĩnh vực kinh tế đối ngoại, XNK
chịu tác động trức tiếp và sâu sắc nhất của các qui luật của thị trường quốc
tế, nó có thể vượt qua trợ ngại phi kinh tế khác ( cấm vận, chính sách
phong toả…)
Hoạt động XNK có tác động mạnh mẽ và trực tiếp đến hoạt động
đầu tư thể hiện ở chỗ : XNK là tiền đề và nơi thể hiện kết quả đạt được của
hoạt động đầu tư. Hoạt động XNK có tác động rộng lớn, sâu sắc đến khoa
học công nghệ, thể hiện thông qua sự chuyên môn hoá và hợp tác của các
công ty ở những nước khác nhau và ngược lại nhờ hoạt động XNK mà quá
trình chuyên môn hoá và hợp tác hoá được phát triển một cách thuận lợi.
XNK thường xuyên mang lại hiệu quả tích cực cho sự phát triển kinh
tế quốc dân nếu việc tổ chức XNK phù hợp với đòi hỏi của các quy luật
khách quan dựa trên cơ sở lợi thế tương đối và tuyệt đối của các yếu tố cấu
thành sản phẩm có liên quan đến XNK.
Đối với nước ta, XNK nói riêng và kinh tế đối ngoại nói chung sẽ
góp phần to lớn trong việc tạo vốn và công nghệ tiên tiến từ nước ngoài,
tạo điều kiện tốt để ta đổi mới cơ cấu sản xuất trong nước thúc dẩy nâng
cao hiệu quả kinh tế xã hội của đất nước.
2.Mối quan hệ giữa xuất khẩu và nhập khẩu.
Xuất khẩu và nhập khẩu là hai bộ phận cấu thành của ngoại thương,
chúng liên quan một mật thiết đến nhau và thúc đẩy nhau, chúng vừa là tiền
đề vừa là kết quả của nhau.
3
Xuất khẩu và nhập khẩu là hai hoạt động cần thiết của bất kỳ một
nền kinh tế nào xây dựng theo mô hình kinh tế mở vì nó tác động đến cả
tổng cung và tổng cầu của nền kinh tế quốc dân một cách hài hoà.
Kết hợp giữa xuất khẩu và nhập khẩu để xây dựng, phát triển tạo ra

dụng trong nước khiến sản xuất đắt đỏ, kém hiệu quả và tạo ra hiều quả
làm ngược lại so với mục đích tiết kiệm ngoại tệ.
Vì những nguyên nhân trên đây mà chính sách “đóng cửa “được thay
bằng chính sách “ mở cửa “ kinh tế.
Nhờ đẩy nhanh xuất khẩu mà tăng thu nhập ngoại tệ
. Tăng khả năng nhập khẩu máy móc trang thiết bị và công nghệ tiên tiến.
. Cải thiện tình hình mất cân đối về thu chi của ngân sách nhà nước.
. Tăng khả năng thu hút lao động.
. Chất lượng hàng hoá tăng.
. Tham gia vào quá trình phân công lao động quốc tế, có lợi thế của một
đất nước.
* Những hạn chế của chính sách “ mở cửa “.
- Lệ thuộc vào nước khác về kinh tế.
- Tập trung chiến lược “ hướng về xuất khẩu” làm cho nền kinh tế
phát triển lệch mất cân đối.
- Ưu tiên ngoại thương cùng sự phát triển mạnh mẽ của cơ chế thị
trường làm xảy ra sự bất bình đẳng giữa các tầng lớp dân cư.
Đối với các nước phát triển thì mở rộng quan hệ kinh tế ra ngoài
giúp cho việc bành trướng sức mạnh kinh tế của mình như tìm hiểu thị
trường để tiêu thụ sản phẩm, xuất khẩu hàng hoá và đầu tư đem lại hiệu quả
cao cũng như có lợi nhuận cao, giảm được chi phí về nhân công, tài nguyên
rẻ của các nước đang phát triển.
Nhìn chung tốc độ XNK của thế giới gia tăng nhanh tốc độ tăng của
GDP. Những nước có tốc độ thương mại cao là do tăng cường chính sách
hướng ngoại đẩy mạnh xuất khẩu, thu hút vốn dầu tư nước ngoài.
5
Một số nước gặp khó khăn trong buôn bán quốc tế là do một mặt ảnh
hưởng của sự suy thoái kinh tế chung trên toàn cầu, mặt khác bản thân các
nước này gặp khủng hoảng về kinh tế, chính trị, nội chiến, tôn giáo.
II.Đặc điểm của xuất khẩu hàng nông sản.

Trong đó ra đời sớm nhất và hiện nay vẫn giữ vai trò quan trọng là hoạt
động thương mại quốc tế. Thương mại quốc tế là hoạt động mua bán và
trao đổi hàng hoá và dịch vụ được diễn ra giữa các quốc gia. Như vậy, khi
mua hàng hoá hay dịch vụ của một bên nước ngoài được hiểu là hoạt động
nhập khẩu và khi bán hàng hoá hay dịch vụ cho bên nước ngoài được hiểu
là hoạt động xuất khẩu.
Ở một số nước thị trường trong nước là hữu hạn thậm chí với một số
nước còn quá nhỏ bé nên thị trường thế giới rộng lớn là mục tiêu để các
nước này vươn ra để xuất khẩu hàng hoá của nước mình. Vì thế ngày nay
khuyến khích xuất khẩu là chính sách mà các quốc gia đều ưu tiên và nhiều
khi nhập khẩu là để phục vụ xuất khẩu.
Không ngoài xu thế chung của thế giới Việt Nam cũng có nhiều
chính sách khuyến khích các cá nhân, doanh nghiệp tăng cường xuất khẩu.
Trong điều 2 Nghị Định số 57/1998/NĐ – CP quy định : “ Hoạt động xuất
nhập khẩu hàng hoá là hoạt đông mua, bán hàng hoá của các thương nhân
Việt Nam với các thương nhân nứơc ngoài theo các hợp đồng buôn bán bao
gồm cả tạm nhập tái xuất, hàng hoá chuyển khẩu. Thương nhân là các cá
nhân, tổ chức hay doanh nghiệp thực hiện hành vi thương mại bao gồm:
mua bán hàng hoá, cung ứng dịch vụ thương mại và xúc tiến thương mại “
1.1. Cơ sở tồn tại của hoạt động xuất khẩu.
Mỗi một quốc gia muốn xuất khẩu một măt hàng nào đó phải phụ
thuộc vào tiềm năng của mỗi nước. Điều đó phụ thuộc vào lợi thế tuyệt đôi
và lợi thế tương đối của mỗi quốc gia.
7
1.1.1. Lợi thế tuyệt đối
Là lợi thế có thể được dựa trên việc so sánh chi phí sản xuất bỏ ra để
sản xuất ra một loại hàng hoá.
Theo A.Smith nếu mỗi quốc gia tập trung vào sản xuất mặt hàng mà
mình có hiệu quả hơn và xuất khẩu mặt hàng mình có thế mạnh này sang
nước khác sau đó nhập khẩu mặt hàng mình không có ưu thế thì sản lượng

bán thành phẩm cho xí nghiệp để gia công sau đó thu hàng thành phẩm về
để xuất khẩu cho bên nước ngoài. Đơn vị nhận uỷ thác được hưởng phí uỷ
thác theo thoả thuận với các xí nghiệp khác.
2.3.Gia công quốc tế.
Đây là hình thức kinh doanh trong đó bên nhận gia công nhập
nguyên liệu hoặc bán thành phẩm của bên gia công để chế biến ra thành
phẩm rồi giao lại cho bên đặt gia cồng để nhận được phí gia công. Hình
thức này áp dụng chủ yếu cho các nước đang phát triển có nhiều tài
nguyên, lao động dồi dào với giá rẻ nhưng lại thiếu vốn, kém về công nghệ.
Qua gia công cả hai bên cùng có lợi. Bên đặt gia công lợi dụng được giá rẻ
về nhân công, nguyên phụ liệu của nước gia công, không đòi hỏi nhiều
vốn. Nước nhận gia công tạo được việc làm cho lao động trong nước, nhập
được máy móc thiết bị, công nghệ mới.
2.4. Tái xuất khẩu
Là hình thức nhập khẩu tạm thời hàng hoá vào nước mình sau đó lại
xuất khẩu sang nước thứ ba. Hình thức này thường xuyên xảy ra ở những
nước trung gian xuất khẩu, có vị trí địa lý thuận lợi, thị trường và uy tín
kinh doanh xuất khẩu.
2.5. Xuất khẩu uỷ thác.
Đây là hình thức mà trong đó một đơn vị đóng vai trò là người trung
gian cho đơn vị sản xuất kí kết hợp đồng mua bán ngoại thương, tiến hành
9
các thủ tục cần thiết để xuất khẩu hàng hoá cho nhà sản xuất để qua đó
hưởng tỷ lệ phần trăm.
2.6. Xuất khẩu tại chỗ.
Trong hình thức này hàng hoá chưa xuất khẩu ra khỏi biên giới quốc
gia. Đó là việc cung cấp hàng hoá cho các đoàn ngoại giao, đoàn khách du
lịch nước ngoài hay hàng hoá bán ra khỏi khu chế xuất của nước đó. Từ
hình thức này hình thành nên thị trường xuất khẩu tại chỗ. Với ưu điểm của
hình thức này là giảm bớt các chi phí cho bao bì vận chuyển, cước phí vận

2.9. Để hoạt động xuất khẩu diễn ra một cách thuận lợi và mang lại
lợi nhuận lớn cho đất nước, nhà nước cần xây dựng kế hoạch một cách có
hệ thống và việc xây dựng các kế hoạch 5 năm về xuất nhập khẩu nói
chung và xuất khẩu nói riêng là cần thiết. Đối tượng của kế hoạch 5 năm về
xuất khẩu là hoạt động xuất khẩu của các doanh nghiệp trong nền kinh tế
quốc dân. Kế hoạch xuất khẩu là một bộ phận quan trọng trong hệ thống kế
hoạch hoá phát triển kinh tế xã hội. Nó hướng các hoạt động xuất khẩu của
các quốc gia đi theo một mục tiêu nhất định đồng thời đưa ra các chính
sách và giải pháp cần thiết nhằm đạt được mục tiêu phát triển xuất khẩu
một cách có hiệu quả.
Xây dựng kế hoạch 5 năm về xuất khẩu nông sản là một yêu cầu hết
sức quan trọng và cần thiết bởi vì :
Hiện nay có nhiều thành phần kinh tế tham gia hoạt động xuất khẩu
nông sản và chúng ta đã thừa nhận kinh tế hàng hoá nhiều thành phần là tất
yếu, mọi thành phần kinh tế đều được tự do kinh doanh trong khuôn khổ
pháp luật, cho nên việc có nhiều thành phần kinh tế tham gia hoạt động
xuất khẩu nông sản là tất yếu. Nhà nước cần sử dụng các hình thức kế
hoạch hoá đa dạng thích hợp với từng thành phần kinh tế để giải phóng mọi
năng lực sản xuất, tạo môi trường cho các thành phần kinh tế kinh doanh
năng động với hiệu quả cao, đảm bảo chức năng điều tiết vĩ mô với các
thành phần kinh tế.
11
- Hoạt động xuất khẩu nông sản tuân theo sự điều tiết của thị trường.
Thừa nhận kinh tế hàng hoá tất yếu thừa nhận thị trường kinh tế hàng hoá
càng phát triển thì thị trường cũng ngày càng mở rộng và càng khẳng định
vai trò của nó đến đời sống kinh tế xã hội. Kế hoạch hoá nền kinh tế quốc
dân về xuất khẩu trên cơ sở sử dụng đúng đắn quan hệ thị trường, tăng
cường mặt tích cực, hạn chế mặt tiêu cực làm cho hoạt động xuất khẩu trở
lên sôi nổi nhưng không làm rối loạn các hoạt động xuất khẩu của thị
trường. Nghiên cứu sự vận động của thị trường hiện tại và xu hướng phát

Thị trường nông sản xuất khẩu là nơi diễn ra các giao dịch hàng
nông sản đáp ứng nhu cầu của nước ngoài về nông sản. Trên thị trường
xuất khẩu nông sản người mua và người bán thoả thuận giá cả theo các hợp
đồng, thanh toán chủ yếu bằng các ngoại tệ mạnh và phải có các thủ tục hải
quan của các nước. Một điểm chú ý là thị trường xuất khẩu không chỉ giới
hạn trong thị trường nước ngoài mà còn có một bộ phận khác đó là thị
trường xuất khẩu tại chỗ.
Thị trường sản xuất gạo gồm thị trường của từng mặt hàng nông sản
xuất khẩu nhất định như thị trường sạo, cà phê, cao su ... Giá cả của từng
loại nông sản xuất khẩu phụ thuộc vào tình hình cung cầu của mặt hàng đó.
Trên thị trường nông sản xuất khẩu thì yếu tố cung khó thay đổi do tính
mùa vụ của sản xuất nông nghiệp và đặc tính sinh học rõ rệt của các loại
nông sản.
3.1 . Các nhân tố ảnh hưởng đến hoạt động xuất khẩu nông sản.
3.1.1.Môi trường quốc tế
Trong xu thế toàn cầu hoá thì tình hình biến động về mặt kinh
tế,chính trị, xã hội của nước này ảnh hưởng nhất định đến các nước xung
quanh. Hoạt động xuất khẩu nông sản có quan hệ trực tiếp với các chủ thể
nước ngoài, chịu sự tác động và phân phối của các nhân tố ở nước ngoài
nên nó càng nhậy cảm đối với các doanh nghiệp xuất khẩu. Bất kỳ một sự
thay đổi nào về các mặt như chính sách xuất nhập khẩu, tình hình lạm phát,
13


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status