1
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM NGUYỄN QUÝ TUYÊN ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ THỰC HIỆN CÔNG TÁC QUY HOẠCH,
KẾ HOẠCH SỬ DỤNG ĐẤT THÀNH PHỐ TUYÊN QUANG, TỈNH
TUYÊN QUANG GIAI ĐOẠN 2005 - 2010
Chuyên ngành: Quản lý đất đai
Mã số: 60850103 LUẬN VĂN THẠC SỸ QUẢN LÝ ĐẤT ĐAI
Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: PGS.TS. Lƣơng Văn Hinh
được quan tâm đúng mức; kết quả của nhiều dự án quy hoạch đạt được là rất
thấp; tình trạng quy hoạch “treo”, quy hoạch “ảo” xuất hiện ở đâu đó đang là
tâm điểm chú ý của dư luận xã hội.
Thực hiện Luật Đất đai 2003; Nghị định số 181/2004/NĐ-CP ngày
29/10/2004 của Chính phủ về thi hành Luật Đất đai; Thông tư số 30/2004/TT-
BTNMT ngày 01/11/2004 của Bộ Tài nguyên và Môi trường về việc hướng
dẫn lập, điều chỉnh và thẩm định quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất. Thị xã
Tuyên Quang (nay là thành phố Tuyên Quang) đã lập quy hoạch sử dụng đất
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn3
đến năm 2010 và được Ủy ban nhân dân tỉnh Tuyên Quang phê duyệt tại
Quyết định số 368/QĐ-UBND ngày 08/7/2008. Đến nay đã qua thời gian thực
hiện của kỳ quy hoạch nhưng cũng cần có những nghiên cứu, đánh giá, nhìn
nhận lại một cách toàn diện hiệu quả của phương án quy hoạch sử dụng đất,
đồng thời chỉ ra những hạn chế, tồn tại và nguyên nhân và giải pháp khắc
phục cho quy hoạch sử dụng đất đến năm 2020 và kế hoạch sử dụng đất kỳ
đầu giai đoạn 2011 - 2015; đảm bảo cho quỹ đất đai của thành phố Tuyên
Quang được quản lý chặt chẽ, khai thác có hiệu quả và bền vững.
Xuất phát từ những vấn đề trên, việc thực hiện đề tài: “Đánh giá hiệu
quả thực hiện công tác quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất thành phố Tuyên
Quang, tỉnh Tuyên Quang giai đoạn 2005 - 2010” là cần thiết.
2. Mục tiêu của đề tài
2.1. Mục tiêu tổng quát
Đánh giá hiệu quả thực hiện công tác quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất
thành phố Tuyên Quang, tỉnh Tuyên Quang giai đoạn 2005 - 2010 để thấy được
những việc đã làm tốt trong công tác quản lý và thực hiện quy hoạch cũng như
những việc chưa làm được trong công tác này của thành phố Tuyên Quang, đồng
thời chỉ ra những khó khăn, tồn tại và đề xuất giải pháp khắc phục.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn5
Chƣơng I
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1. CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA ĐỀ TÀI
1.1.1. Cơ sở lý luận của đề tài
Việc đánh giá, tổng kết một nội dung công việc cụ thể được thực hiện ở
giai đoạn trước là thực sự cần thiết. Bởi vì, tổng kết và đánh giá mặt đạt được
và mặt còn tồn tại, hạn chế cho phép chúng ta rút ra kinh nghiệm và đề ra
những mục tiêu, kế hoạch để tiếp tục thực hiện trong giai đoạn tiếp theo đảm
bảo tính hiệu quả và sát với thực tế. Trong quản lý đất đai cũng vậy, khi lập
quy hoạch sử dụng đất phải đánh giá việc quản lý và thực hiện quy hoạch ở
giai đoạn trước.
1.1.2. Cơ sở thực tiễn của đề tài
Theo quy định của Luật Đất đai năm 2003, Nghị định số 181/2004/NĐ-
CP ngày 29/10/2004 của Chính phủ. Việc đánh giá công tác quản lý và kết
quả thực hiện phương án quy hoạch sử dụng đất được báo cáo định kỳ hàng
năm. Tổng kết công tác quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất là cơ sở để triển
khai lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất cho giai đoạn tiếp theo.
Thông tư số 19/2009/TT-BTNMT ngày 02/11/2009 của Bộ Tài nguyên
và Môi trường Quy định việc lập, điều chỉnh và thẩm định quy hoạch, kế
hoạch sử dụng đất; Thông tư số 06/2010/TT-BTNMT ngày 15/3/2010 của Bộ
Tài nguyên và Môi trường Ban hành Định mức kinh tế, kỹ thuật lập và điều
chỉnh quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất và Thông tư số 04/2006/TT-BTNMT
ngày 22/5/2006 của Bộ Tài nguyên và Môi trường hướng dẫn phương pháp
tính đơn giá dự toán, xây dựng dự toán kinh phí thực hiện lập và điều chỉnh
quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất;
Quyết định số 669/QĐ-UBND ngày 09/12/2008 của Ủy ban nhân dân
tỉnh Tuyên Quang về việc phê duyệt Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế -
xã hội thị xã Tuyên Quang đến năm 2020;
Các báo cáo và quy hoạch của các ngành có liên quan đến sử dụng đất
trên địa bàn thành phố; Quy hoạch sử dụng đất thành phố Tuyên Quang đến
2010 đã được Ủy ban nhân dân tỉnh phê duyệt; Quy hoạch phát triển ngành,
lĩnh vực của tỉnh đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt.
1.2. KHÁI QUÁT VỀ QUY HOẠCH SỬ DỤNG ĐẤT
1.2.1. Khái niệm về quy hoạch sử dụng đất
Đất đai là tài nguyên thiên nhiên vô cùng quý giá, là điều kiện vật chất
chung đối với mọi ngành sản xuất và hoạt động của con người, vừa là đối
tượng lao động. Vì vậy đất đai là “tư liệu sản xuất đặc biệt” không gì thay thế
được. Có nhiều quan điểm về quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất:
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn7
Theo nguồn gốc phát sinh, tác giả Docutraiep coi đất là một vật thể tự
nhiên được hình thành do sự tác động tổng hợp của 5 yếu tố: Đá mẹ, khí hậu,
địa hình, sinh vật và thời gian. Đất được xem như một thể sống, nó luôn luôn
vận động, biến đổi và phát triển.
Theo Fresco và ctv (1992), Quy hoạch sử dụng đất như dạng hình của
8
tế, kỹ thuật và pháp chế của Nhà nước về tổ chức sử dụng và quản lý đất đai
đầy đủ, hợp lý, khoa học và có hiệu quả cao nhất thông qua việc phân bổ quỹ
đất đai (khoanh định cho các mục đích và các ngành) và tổ chức sử dụng đất
như tư liệu sản xuất (các giải pháp sử dụng cụ thể), nhằm nâng cao hiệu quả
sản xuất của xã hội, tạo điều kiện bảo vệ đất đai và môi trường”[6].
Về thực chất, quy hoạch sử dụng đất đai là quá trình hình thành các
quyết định nhm tạo điều kiện đưa đất đai vào sử dụng bền vững để mang lại
lợi ích cao nhất, thực hiện đồng thời 2 chức năng: Điều chỉnh các mối quan hệ
đất đai và tổ chức sử dụng đất như tư liệu sản xuất đặc biệt với mục đích nâng
cao hiệu quả sản xuất của xã hội kết hợp bảo vệ đất và môi trường.
Mặt khác, quy hoạch sử dụng đất đai còn là biện pháp hữu hiệu của
Nhà nước nhm tổ chức lại việc sử dụng đất đai theo đúng mục đích, hạn chế
sự chồng chéo gây lãng phí đất đai, tránh tình trạng chuyển mục đích tùy tiện,
làm giảm sút nghiêm trọng quỹ đất nông nghiệp (đặc biệt là diện tích đấ t lúa
và đất có rừng); ngăn chặn các hiện tượng tiêu cực, tranh chấp, lấn chiếm hủy
hoại đất, phá vỡ sự cân bng sinh thái, gây ô nhiễm môi trường dẫn đến
những tổn thất và các hậu quả khó lường về tình hình bất ổn định chính trị, an
ninh quốc phòng ở từng địa phương.
1.2.3. Đặc điểm của quy hoạch sử dụng đất
Các đặc điểm của quy hoạch sử dụng đất được thể hiện cụ thể như sau:
1.2.3.1. Tính lịch sử - xã hội
Lịch sử phát triển của xã hội chính là lịch sử phát triển của quy hoạch
sử dụng đất đai. Mỗi hình thái kinh tế - xã hội đều có một phương thức sản
xuất của xã hội thể hiện theo 2 mặt: Lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất .
Trong quy hoạch sử dụng đất đai , luôn nẩy sinh quan hệ giữa người với đất
đai cũng như quan hệ giữa người với người về quyề n sở hữ u và sử dụ ng đấ t
đai. Quy hoạch sử dụng đất đai thể hiện đồng thời vừ a là yếu tố thúc đ ẩy phát
triển lực lượng sản xuất, vừa là yếu tố thúc đẩy các mối quan hệ sản xuất, vì
thời gian dài cho đến khi đạt được mục tiêu dự kiến. Thời hạn của quy hoạch
sử dụng đất đai thường từ trên 10 năm đến 20 năm hoặc xa hơn.
1.2.3.6. Tính khả biến
Dưới sự tác động của nhiều nhân tố khó dự đoán trước, theo nhiều
phương diện khác nhau, quy hoạch sử dụng đất chỉ là một trong những giải
pháp biến đổi hiện trạng sử dụng đất sang trạng thái mới thích hợp hơn cho
việc phát triển kinh tế trong một thời kỳ nhất định. Khi xã hội phát triển, khoa
học kỹ thuật ngày càng tiến bộ, chính sách và tình hình kinh tế thay đổi, các dự
kiến của quy hoạch sử dụng đất không còn phù hợp. Việc điề u chỉ nh, bổ sung,
hoàn thiện quy hoạch là biện pháp thực hiện và cần thiết. Điều này thể hiện tính
khả biến của quy hoạch, quy hoạch sử dụng đất luôn là quy hoạch động, một
quá trình lặp lại theo chiều xoắn ốc "quy hoạch - thực hiện - quy hoạch lại hoặc
chỉnh lý - tiếp tục thực hiện " với chất lượng, mức độ hoàn thiện và tính phù
hợp ngày càng cao. [5]
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn10
1.2.4. Các loại hình quy hoạch sử dụng đất
1.2.4.1. Quy hoạch sử dụng đất theo ngành
- Quy hoạch sử dụng đất nông nghiệp;
- Quy hoạch sử dụng đất lâm nghiệp;
- Quy hoạch sử dụng đất công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp;
- Quy hoạch sử dụng đất giao thông, thủy lợi….
Đối tượng của quy hoạch sử dụng đất đai theo ngành là diện tích đất đai
thuộc quyền sử dụng và diện tích dự kiến cấp thêm cho ngành (trong phạm vi
ranh giới đã được xác định rõ mục đích cho từng ngành ở các cấp lãnh thổ
tương ứng). Quy hoạch sử dụng đất đai giữa các ngành có quan hệ chặt chẽ
với quy hoạch sử dụng đất của vùng và cả nước. [7]
1.2.4.2. Quy hoạch sử dụng đất theo lãnh thổ
xã, vấn đề sử dụng đất được giải quyết rất cụ thể, gắn chặt với các mục tiêu
phát triển kinh tế - xã hội của xã và các quan hệ ngoài xã. Quy hoạch sử dụng
đất đai cấp xã là quy hoạch vi mô, được xây dựng dựa trên khung chung các
chỉ tiêu định hướng sử dụng đất cấp huyện. Kết quả của Quy hoạch sử dụng
đất đai cấp xã còn là cơ sở để bổ sung Quy hoạch sử dụng đất đai cấp huyện
và là căn cứ để giao đất, cho thuê đất, thu hồi đất, chuyển mục đích sử dụng
đất và cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản
khác gắn liền với đất cho các tổ chức, hộ gia đình và cá nhân sử dụng ổn định
lâu dài, để tiến hành dồn điền đổi thửa nhm thực hiện các phương án sản
xuất kinh doanh cũng như các dự án cụ thể. [8]
1.2.5. Mối quan hệ của quy hoạch sử dụng đất
1.2.5.1. Quan hệ giữa các loại hình quy hoạch sử dụng đất đai
Quy hoạch sử dụng đất đai cả nước và Quy hoạch sử dụng đất đai các cấp
lãnh thổ hành chính địa phương cùng hợp thành hệ thống Quy hoạch sử dụng đất
đai hoàn chỉnh. Quy hoạch của cấp trên là cơ sở và chỗ dựa cho quy hoạch sử
dụng đất đai của cấp dưới; quy hoạch của cấp dưới là phần tiếp theo, cụ thể hoá
quy hoạch của cấp trên và là căn cứ để điều chỉnh các quy hoạch vĩ mô.
Quy hoạch sử dụng đất đai toàn quốc và quy hoạch sử dụng đất cấp tỉnh
là quy hoạch chiến lược, dùng để khống chế vĩ mô và quản lý kế hoạch sử dụng
đất. Quy hoạch cấp huyện phải phù hợp và hài hoà với quy hoạch cấp tỉnh. Quy
hoạch cấp huyện là giao điểm giữa quy hoạch quản lý vĩ mô và vi mô, quy
hoạch cấp xã là quy hoạch vi mô và làm cơ sở để thực hiện quy hoạch thiết kế
chi tiết.
1.2.5.2. Quan hệ giữa quy hoạch sử dụng đất với dự báo chiến lược
dài hạn sử dụng tài nguyên đất
Nhiệm vụ đặt ra cho Quy hoạch sử dụng đất đai chỉ có thể được thực
hiện thông qua việc xây dựng các dự án quy hoạch với đầy đủ cơ sở về mặt kỹ
thuật, kinh tế và pháp lý. Trong thực tế, việc sử dụng các tài liệu điều tra và
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
cũng như trong công tác điều tra khảo sát. Việc phức tạp hoá vấn đề sẽ làm nảy
sinh các chi phí không cần thiết về lao động và vật tư, đồng thời gây cản trở
cho việc thực hiện các dự án quan trọng và bức xúc hơn trong cuộc sống.
1.2.5.3. Quan hệ giữa quy hoạch sử dụng đất với quy hoạch tổng thể
phát triển kinh tế - xã hội
Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội là một trong những tài liệu
tiền kế hoạch cung cấp căn cứ khoa học cho việc xây dựng các kế hoạch phát
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn13
triển kinh tế - xã hội. Trong đó, có đề cập đến dự kiến sử dụng đất đai ở mức
độ phương hướng với một số nhiệm vụ chủ yếu. Còn đối tượng của quy hoạch
sử dụng đất đai là tài nguyên đất. Nhiệm vụ chủ yếu của nó là căn cứ vào yêu
cầu của phát triển kinh tế và các điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội điều chỉnh
cơ cấu và phương hướng sử dụng đất; xây dựng phương án quy hoạch phân
phối sử dụng đất đai thống nhất và hợp lý. Như vậy, quy hoạch sử dụng đất đai
là quy hoạch tổng hợp chuyên ngành, cụ thể hoá quy hoạch tổng thể phát triển
kinh tế - xã hội, nhưng nội dung của nó phải được điều hoà thống nhất với quy
hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội.
1.2.5.4. Quan hệ giữa quy hoạch sử dụng đất với quy hoạch các ngành
* Quan hệ giữa quy hoạch sử dụng đất đai với quy hoạch phát
triển nông nghiệp:
Quy hoạch phát triển nông nghiệp là một trong những căn cứ chủ yếu
của quy hoạch sử dụng đất đai. Quy hoạch sử dụng đất đai tuy dựa trên quy
hoạch và dự báo yêu cầu sử dụng đất của các ngành trong nông nghiệp, nhưng
chỉ có tác dụng chỉ đạo vĩ mô, khống chế và điều hoà quy hoạch phát triển
nông nghiệp. Hai loại quy hoạch này có mối quan hệ qua lại vô cùng mật thiết
và không thể thay thế lẫn nhau.
* Quan hệ giữa quy hoạch sử dụng đất đai với quy hoạch đô thị:
được quyết định, xét duyệt của kỳ quy hoạch trước;
- Xác định phương hướng, mục tiêu sử dụng đất trong kỳ quy hoạch và
định hướng cho kỳ tiếp theo phù hợp với chiến lược, quy hoạch tổng thể phát
triển kinh tế - xã hội của cả nước, của các ngành và các địa phương;
- Xây dựng các phương án phân bổ diện tích các loại đất cho nhu cầu
phát triển kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh trong kỳ quy hoạch;
- Phân tích hiệu quả kinh tế, xã hội, môi trường của từng phương án
phân bổ quỹ đất;
- Lựa chọn phương án phân bổ quỹ đất hợp lý căn cứ vào kết quả phân
tích hiệu quả kinh tế, xã hội, môi trường;
- Thể hiện phương án quy hoạch sử dụng đất được lựa chọn trên bản đồ
quy hoạch sử dụng đất;
- Xác định các biện pháp sử dụng, bảo vệ, cải tạo đất và bảo vệ môi
trường cần phải áp dụng đối với từng loại đất, phù hợp với địa bàn quy hoạch;
- Xác định giải pháp tổ chức thực hiện quy hoạch sử dụng đất phù hợp
với đặc điểm của địa bàn quy hoạch.
1.2.7. Quy trình lập phƣơng án quy hoạch sử dụng đất cấp huyện
Quy trình lập phương án quy hoạch sử dụng đất cấp huyện gồm 06
bước, cụ thể như sau:
- Bước 1: Điều tra, thu thập các thông tin, dữ liệu và bản đồ;
- Bước 2: Phân tích, đánh giá điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội và biến
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn15
đổi khí hậu, các chỉ tiêu quy hoạch phát triển các ngành, lĩnh vực tác động
đến việc sử dụng đất;
- Bước 3: Phân tích, đánh giá tình hình quản lý, sử dụng đất, biến động
sử dụng đất, kết quả thực hiện quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất kỳ trước và
tiềm năng đất đai;
16
- Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương xét duyệt quy
hoạch, kế hoạch sử dụng đất của đơn vị hành chính cấp dưới trực tiếp;
- Ủy ban nhân dân huyện, thị xã, thành phố thuộc tỉnh xét duyệt quy
hoạch, kế hoạch sử dụng đất của xã không thuộc khu vực quy hoạch phát triển
đô thị. [8]
1.3. KHÁI QUÁT VỀ QUY HOẠCH SỬ DỤNG ĐẤT TRÊN THẾ
GIỚI, TẠI VIỆT NAM VÀ TỈNH TUYÊN QUANG
1.3.1. Quy hoạch sử dụng đất trên thế giới
Quản lý đất đai là một việc phức tạp không nơi nào giống nhau nên
mỗi một quốc gia, vùng lãnh thổ đều có một chính sách và công cụ quản lý
đất đai khác nhau; trong đó quy hoạch sử dụng đất là một công cụ rất quan
trọng giúp cho việc quản lý nhà nước về đất đai hiệu quả. Công tác quy
hoạch sử dụng đất đã được tiến hành từ nhiều năm trước đây với đầy đủ cơ
sở khoa học, một số quốc gia ngay từ những năm trước công nguyên họ đã
có quy hoạch xây dựng quốc gia mình theo những mô hình hoá. Ở một số
nước như: Anh, Pháp, Liên Bang Nga đã xây dựng cơ sở lý luận của ngành
quản lý đất đai tương đối hoàn chỉnh và ngày càng tiến bộ. Các dự án phát
triển vùng đều tiến hành trên sơ đồ cơ cấu kiến trúc - quy hoạch vùng gắn
với quy hoạch sử dụng đất, dựa trên phương hướng mục tiêu phát triển của
vùng vĩ mô. Theo tổ chức Nông Lương Thế giới (FAO), quy hoạch sử dụng
đất là bước kế tiếp của phương pháp đánh giá đất. Kết quả của việc đánh giá
đất sẽ đưa ra một loại hình hợp lý nhất đối với đất đai trong vùng. Phương
pháp quy hoạch đất đai tuỳ thuộc vào đặc điểm đất đai của từng nước, tuy
nhiên có hai loại hình quy hoạch:
- Tiến hành quy hoạch tổng thể kinh tế xã hội đảm bảo phát triển các
mục tiêu một cách hài hoà, sau đó mới đi sâu vào nghiên cứu quy hoạch
chuyên ngành. Tiêu biểu cho trường phái này là Anh, Úc, Đức;
- Tiến hành quy hoạch nông nghiệp là nền tảng sau đó làm quy hoạch
cơ bản, lập sơ đồ phát triển và phân bố lực lượng sản xuất theo yêu cầu của cơ
vùng, tiểu vùng và đô thị. Trong đó, quy hoạch sử dụng đất được gắn liền với
quy hoạch phát triển không gian ở cấp đô thị.
Trong quy hoạch sử dụng đất ở Cộng hoà Liên bang Đức, cơ cấu sử
dụng đất [7]: Đất nông nghiệp và lâm nghiệp vẫn là chủ yếu, chiếm khoảng
85% tổng diện tích; diện tích mặt nước, đất hoang là 3%; đất làm nhà ở, địa
điểm làm việc, giao thông và cơ sở hạ tầng cung cấp dịch vụ cho dân chúng
và nền kinh tế - gọi chung là đất ở và đất giao thông chiếm khoảng 12% tổng
diện tích toàn Liên bang. Tuy nhiên, cũng giống như bất kỳ quốc gia công
nghiệp nào có mật độ dân số cao, diện tích đất ở và giao thông ở Đức đang
ngày càng gia tăng. Diện tích đất giao thông tăng đặc biệt cao từ trước tới
giữa thập kỷ 80, trong khi đó, diện tích nhà chủ yếu tăng trong hai thập kỷ
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn18
vừa qua, đặc biệt là đất dành làm địa điểm làm việc như thương mại, dịch vụ,
quản lý hành chính phát triển một cách không cân đối. Quá trình ngoại ô hoá
liên tục và tốn kém về đất đai cũng góp phần quan trọng vào thực tế này.[5]
1.3.1.3. Quy hoạch sử dụng đất ở Nhật Bản
Quy hoạch sử dụng đất ở Nhật Bản được phát triển từ rất lâu, đặc biệt
được đẩy mạnh vào đầu thập kỷ 70 của thế kỷ 20. Quy hoạch sử dụng đất ở
Nhật Bản không những chú ý đến hiệu quả kinh tế, xã hội, mà còn rất chú
trọng đến bảo vệ môi trường, tránh các rủi ro của tự nhiên như động đất, núi
lửa… Quy hoạch sử dụng đất ở Nhật bản được chia ra: Quy hoạch sử dụng
đất tổng thể và Quy hoạch sử dụng đất chi tiết.
- Quy hoạch sử dụng đất tổng thể được xây dựng cho một vùng lãnh
thổ rộng lớn tương đương với cấp tỉnh, cấp vùng trở lên. Mục tiêu của Quy
hoạch sử dụng đất tổng thể được xây dựng cho một chiến lược sử dụng đất dài
hạn khoảng từ 15 - 30 năm nhm đáp ứng các nhu cầu sử dụng đất cho sự
nghiệp phát triển kinh tế, xã hội. Quy hoạch này là định hướng cho quy hoạch
Quốc sau gần 30 năm nỗ lực, cuối cùng vẫn đối mặt với thất bại. Dùng “chính
sách đai xanh” lại làm cho giá nhà tăng cao, tạo thành tiền bồi thường đất đai
quá cao, việc thu hồi đất đai để xây dựng công trình công cộng của chính phủ
gặp khó khăn và bế tắc.[23]
1.3.1.5. Quy hoạch sử dụng đất đô thị ở Anh
Để bắt tay vào công việc xây dựng lại sau chiến tranh, năm 1947
chính phủ Anh đã sửa đổi và công bố Luật kế hoạch đô thị và nông thôn,
trong đó điều thay đổi quan trọng nhất là xác lập chế độ quốc hữu về quyền
phát triển và xây dựng chế độ cho phép khai thác. Quy định mọi loại đất đều
phải đưa vào chế độ quản lý, mọi người nếu muốn khai thác đất đai, trước
hết phải được cơ quan quy hoạch địa phương cho phép khai thác, cơ quan
quy hoạch địa phương căn cứ vào quy định của quy hoạch phát triển để xem
liệu có cho phép hay không. Chế độ cho phép khai thác trở thành biện pháp
chủ yếu của chế độ quản lý quy hoạch đất đai.[23]
1.3.1.6. Quy hoạch sử dụng đất ở Trung Quốc
Trung Quốc là nước nm trong vùng Đông Á có diện tích tự nhiên là
9.597 nghìn km
2
, dân số hơn 1,2 tỷ người. Trung Quốc coi trọng việc phát
triển kinh tế - xã hội bền vững, công tác bảo vệ môi trường luôn được quan
tâm lồng ghép và thực hiện đồng thời với phát triển kinh tế - xã hội. Trong kế
hoạch hàng năm, kế hoạch dài hạn của Nhà nước, của các địa phương đều
được dành một phần hoặc một chương mục riêng về phương hướng, nhiệm vụ
và biện pháp để phát triển bền vững, bảo vệ môi trường sử dụng tiết kiệm và
hợp lý các nguồn tài nguyên thiên nhiên đặc biệt là tài nguyên đất.
Đến nay Trung Quốc đã tiến hành lập quy hoạch sử dụng đất từ tổng
thể đến chi tiết cho các vùng và địa phương theo hướng phân vùng chức năng
(khoanh định sử dụng đất cho các mục đích) gắn với nhiệm vụ bảo vệ môi
trường. Để quy hoạch tổng thể phù hợp với phân vùng chức năng, các quy
định liên quan của pháp luật Trung Quốc đã yêu cầu mọi hoạt động phát triển
quan tâm chỉ đạo một cách chặt chẽ bng các văn bản pháp luật và coi như là
một luận chứng cho phát triển của nền kinh tế đất nước, điều này thể hiện rõ
trong từng giai đoạn.
* Thời kỳ 1975 - 1980:
Sau năm 1975, trong cơ chế bao cấp, công tác quy hoạch sử dụng đất
đã được đẩy mạnh gắn liền với việc hợp tỉnh huyện và xây dựng thành pháo
đài. Cả nước đi vào sắp xếp lại đất nước, tạo ra các vùng kinh tế lớn.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn21
Hội đồng chính phủ đã thành lập ban chỉ đạo phân vùng quy hoạch
nông lâm nghiệp. Trung ương để triển khai công tác này trên phạm vi cả
nước. Kết quả là đến cuối năm 1978 các phương án phân vùng nông lâm
nghiệp công nghệ chế biến nông sản của cả nước trong 7 vùng kinh tế và của
tất cả các tỉnh đã lập và được chính phủ phê duyệt, trong các phương án trên
đều đề cập đến quy hoạch sử dụng đất nông, lâm nghiệp và coi đó là một luận
chứng quan trọng để phát triển ngành.
Tuy nhiên do mục đích đề ra ngay từ đầu là chỉ để phục vụ phát triển
nông, lâm nghiệp cho nên các loại đất khác chưa đề cập đến và còn khoảng 3
triệu ha ở miền núi cao chưa tiến hành phân bổ sử dụng, mặt khác do còn
thiếu nhiều tài liệu điều tra cơ bản và chưa tính được khả năng đầu tư nên tính
khả thi của các phương án còn thấp.
* Thời kỳ 1981- 1986:
Thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ V trong đó đã nêu
rõ: „„xúc tiến công tác điều tra cơ bản, dự báo, lập tổng hợp sơ đồ phát triển và
phân bố lực lượng sản xuất nghiên cứu chiến lược kinh tế xã hội, dự thảo kế
hoạch triển vọng để chuẩn bị cho kế hoạch 5 năm lần thứ 4 (1986 - 1990)‟‟.
Chủ tịch Hội đồng bộ trưởng đã yêu cầu các ban ngành, các địa
phương, các cơ quan khoa học tập trung chỉ đạo triển khai chương trình tổng
khác, công tác quy hoạch sử dụng đất đai ở xã là vấn đề cấp bách về giao đất,
cấp đất giãn dân và một số nơi có xu hướng đô thị hoá rõ rệt.
Đây là mốc đầu tiên triển khai quy hoạch sử dụng đất đai ở cấp xã
diễn ra hầu hết khắp phạm vi cả nước nhưng còn nhiều hạn chế về nội dung
và phương pháp.
* Thời kỳ sau Luật Đất đai năm 1993 đến Luật Đất đai năm 2003:
Ngày 14/07/1993 Luật Đất đai được công bố. Trong luật này các điều
khoản nói về quy hoạch đã được cụ thể hoá hơn so với Luật Đất đai năm 1988, và
từ năm 1993 trở đi công tác quy hoạch đã được chú trọng nhiều hơn.
Luật sửa đổi bổ sung một số điều Luật Đất đai ngày 02/12/1988 và Luật
sửa đổi bổ sung một số điều Luật Đất đai ngày 29/06/2001 cũng như công tác ban
hành. Các điều khoản trong luật này đã khẳng định công tác quy hoạch và kế
hoạch sử dụng đất đai là cần thiết.
- Nghị định số 04/2000/NĐ-CP quy định về thi hành Luật sửa đổi bổ sung
một số điều Luật Đất đai ban hành ngày 02/12/1998.
- Sau Đại hội Đảng lần thứ VII năm 1992, Nhà nước ta triển khai công tác
nghiên cứu chiến lược phát triển, quy hoạch tổng thể kinh tế xã hội ở hầu hết 53
tỉnh, thành phố trực thuộc TW, 8 vùng kinh tế, các vùng trọng điểm và quy hoạch
phát triển ngành ở hầu hết các bộ, ngành.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn23
- Các công trình nghiên cứu này tính đến 2020 phù hợp với yêu cầu phát
triển kinh tế - xã hội trong vòng 10 - 15 năm tới. Việc nghiên cứu triển khai quy
hoạch sử dụng đất đai trên phạm vi cả nước đang là vấn đề bức xúc của các ngành
các cấp và mọi thành viên xây dựng hưởng ứng.
- Đây là mốc bắt đầu của thời kỳ công tác quản lý đất đai vào nề nếp, sau
một thời gian dài tuyệt đối hoá về công hữu đất đai ở miền Bắc và buông lỏng
công tác này ở các tỉnh phía Nam dẫn đến tình trạng quá nhiều diện tích đất không
được thông qua tại Nghị quyết số 29/2004/QH11 ngày 15/6/2004; kế hoạch sử
dụng đất 5 năm 2006 - 2010 của cả nước đã được Quốc hội Khóa XI, Kỳ họp
thứ 9 thông qua tại Nghị quyết số 57/2006/QH11 ngày 29/6/2006.
Cả nước chỉ có 07 tỉnh, thành phố cơ bản hoàn thành việc lập quy
hoạch, kế hoạch sử dụng đất ở 3 cấp xã, huyện, tỉnh; ngoài ra còn có 13 tỉnh
đang hoàn thành việc lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất ở 2 cấp xã, huyện.
Có 16 tỉnh đã triển khai lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất cấp xã nhưng
kết quả đạt được còn thấp (dưới 50% số xã) gồm Lai Châu, Yên Bái, Cao
Bng, Hà Nội, Hà Nam, Nghệ An, Thừa Thiên Huế, Đà Nẵng, Bình Định,
Phú Yên, Gia Lai, thành phố Hồ Chí Minh, Bến Tre, Cần Thơ, Hậu Giang,
Sóc Trăng.
Đối với đất quốc phòng, an ninh: Chính phủ đã chỉ đạo Bộ Tài nguyên
và Môi trường phối hợp với Bộ Quốc phòng, Bộ Công an và Ủy ban nhân dân
các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương tiến hành rà soát quy hoạch sử dụng
đất đối với tất cả các đơn vị trực thuộc Bộ Quốc phòng và Bộ Công an, đến
nay đã hoàn thành trên phạm vi cả nước.
* Quy hoạch sử dụng đất cấp tỉnh:
Trên cơ sở quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất của cả nước, các tỉnh đã
tiến hành lập quy hoạch sử dụng đất đến năm 2010 và kế hoạch sử dụng đất 5
năm của địa phương. Đến nay cả nước đã có 64/64 tỉnh, thành phố trực thuộc
Trung ương hoàn thành việc lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đến năm
2010 được Chính phủ xét duyệt.
* Quy hoạch sử dụng đất cấp huyện:
Cả nước có 531/681 huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh (gọi
chung là huyện) hoàn thành việc lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đến
năm 2010 (chiếm 77,97%); 98 huyện đang triển khai (chiếm 14,4%); còn lại
52 huyện chưa triển khai (chiếm 7,64%), phần lớn là các đô thị (quận, thị xã,
thành phố thuộc tỉnh). Đến nay có 20 tỉnh đã hoàn thành việc lập quy hoạch,
kế hoạch sử dụng đất cấp huyện. Một số tỉnh triển khai chậm như Phú Thọ,
Gia Lai, Bình Định, Đồng Tháp, An Giang và thành phố Cần Thơ.
chính) thực hiện.
Trong quá trình tổ chức thực hiện có sự sửa đổi, bổ sung của hệ thống
pháp luật về đất đai, trong đó có thay đổi về nội dung và trình tự lập quy
hoạch sử dụng đất. Do vậy, ngày 16/8/2005 Ủy ban nhân dân tỉnh có Tờ trình
số 31/TTr-UBND trình Chính phủ phê duyệt quy hoạch sử dụng đất tỉnh
Tuyên Quang đến năm 2010 và đã được Chính phủ phê duyệt tại Nghị quyết
số 08/2006/NQ-CP ngày 26/5/2006.
* Về quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất cấp huyện, cấp xã:
Thực hiện Nghị quyết số 08/2006/NQ-CP ngày 26/5/2006 của Chính
phủ Ủy ban nhân dân tỉnh đã chỉ đạo và bố trí kinh phí 12.472 triệu đồng từ
nguồn ngân sách tỉnh, phân bổ cho các huyện, thành phố và các xã, phường,
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn