Đánh giá kết quả chuyển mục đích sử dụng từ đất nông nghiệp sang đất phi nông nghiệp trên địa bàn huyện Thanh Liêm, tỉnh Hà Nam giai đoạn 2006 đến 2010 - Pdf 24


1
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
o0o

NGUYỄN THỊ HOÀ

ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ CHUYỂN MỤC ĐÍCH SỬ
DỤNG TỪ ĐẤT NÔNG NGHIỆP SANG ĐẤT PHI
NÔNG NGHIỆP TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN
THANH LIÊM – TỈNH HÀ NAM
GIAI ĐOẠN 2006 – 2010
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC NÔNG NGHIỆP Chuyên ngành : Quản lý đất đai
Mã số : 60 85 01 03 Ngƣời hƣớng dẫn khoa học:
PGS.TS. LƢƠNG VĂN HINH

Để tiếp tục thực hiện công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp nông thôn
theo tinh thần Nghị quyết trung ương 5 khoá IX, Hà Nam cần ưu tiên cho đầu tư
xây dựng khu công nghiệp tập trung, phát triển các cụm công nghiệp làng nghề
truyền thống ở nông thôn, kết hợp với việc xây dựng một nền nông nghiệp sản xuất
hàng hoá, dịch vụ và kết cấu hạ tầng kinh tế xã hội hoàn chỉnh, giảm bớt khoảng
cách giữa thành thị và nông thôn theo hướng đô thị hoá nông thôn. Do vậy, việc
nghiên cứu thực trạng quá trình chuyển đổi cơ cấu sử dụng đất khi thực hiện công
nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp và nông thôn để tìm được nguyên nhân và

3
ảnh hưởng của quá trình này đã và đang tác động như thế nào tới quá trình phát
triển nông nghiệp, nông thôn trên các mặt: kinh tế - xã hội - môi trường hướng tới
phát triển bền vững, từ đó đề xuất những giải pháp quản lý, sử dụng đất hợp lý đem
lại hiệu quả cao và bền vững là rất cần thiết.
Xuất phát từ những lý do trên, tôi thực hiện nghiên cứu đề tài “Đánh giá kết
quả chuyển mục đích sử dụng từ đất nông nghiệp sang đất phi nông nghiệp trên
địa bàn huyện Thanh Liêm – tỉnh Hà Nam giai đoạn 2006 – 2010”
2. Mục đích và yêu cầu của đề tài
2.1. Mục đích
- Đánh giá thực trạng việc chuyển mục đích sử dụng từ đất nông nghiệp sang
đất phi nông nghiệp giai đoạn 2006 – 2010.
- Đánh giá tác động của quá trình chuyển đổi cơ cấu sử dụng đất đến phát triển
nông nghiệp, nông thôn về các mặt: kinh tế - xã hội - môi trường trên địa bàn huyện
Thanh Liêm.
- Đề xuất các giải pháp quản lý sử dụng đất nông nghiệp, phi nông nghiệp theo
hướng bền vững đáp ứng mục tiêu chiến lược phát triển kinh tế xã hội của địa
phương.
2.2. Yêu cầu
- Đề tài nghiên cứu trên cơ sở số liệu điều tra trung thực, chính xác, đảm bảo
độ tin cậy và phản ánh đúng thực trạng sử dụng đất trên địa bàn nghiên cứu.

Theo Thông tư 08/2007/TT-BTNMT ngày 02/8/2007 [7], đất phi nông nghiệp
là đất đang được sử dụng không thuộc nhóm đất nông nghiệp; bao gồm đất ở, đất
chuyên dùng, đất tôn giáo, tín ngưỡng, đất nghĩa trang, nghĩa địa; đất sông, ngòi,
kênh, rạch, suối và mặt nước chuyên dùng, đất phi nông nghiệp khác.
Theo Điều 13, Luật Đất đai [24], căn cứ vào mục đích sử dụng, đất phi nông
nghiệp được phân loại như sau:
- Đất ở gồm đất ở tại nông thôn, đất ở tại đô thị;
- Đất xây dựng trụ sở cơ quan, xây dựng công trình sự nghiệp;
- Đất sử dụng vào mục đích quốc phòng, an ninh;

5
- Đất sản xuất, kinh doanh phi nông nghiệp gồm đất xây dựng khu công
nghiệp; đất làm mặt bằng xây dựng cơ sở sản xuất, kinh doanh; đất sử dụng cho
hoạt động khoáng sản; đất sản xuất vật liệu xây dựng, làm đồ gốm;
- Đất sử dụng vào mục đích công cộng gồm đất giao thông, thuỷ lợi; đất xây
dựng các công trình văn hoá, y tế, giáo dục và đào tạo, thể dục thể thao phục vụ lợi
ích công cộng; đất có di tích lịch sử - văn hoá, danh lam thắng cảnh; đất xây dựng
các công trình công cộng khác theo quy định của Chính phủ.
- Đất do các cơ sở tôn giáo sử dụng.
- Đất có công trình là đình, đền, miếu, am, từ đường, nhà thờ họ.
- Đất làm nghĩa trang, nghĩa địa.
- Đất sông, ngòi, kênh, rạch, suối và mặt nước chuyên dùng.
- Đất phi nông nghiệp khác theo quy định của Chính phủ.
1.1.3. Hiệu quả sử dụng đất
Ngày nay, sử dụng đất bền vững, tiết kiệm và có hiệu quả đã trở thành chiến
lược quan trọng có tính toàn cầu. Nó đặc biệt quan trọng đối với sự tồn tại và phát
triển của nhân loại, bởi nhiều lẽ:
Một là, tài nguyên đất vô cùng quý giá. Bất kỳ nước nào, đất đều là tư liệu sản
xuất nông - lâm nghiệp chủ yếu, cơ sở lãnh thổ để phân bố các ngành kinh tế quốc
dân. Nói đến tầm quan trọng của đất, từ xa xưa, người Ấn Độ, người Ả-rập, người

héc-ta đất bị phèn hóa, mặn hóa mạnh. Ngoài ra tình trạng ô nhiễm do phân bón,
hóa chất bảo vệ thực vật, chất thải, nước thải đô thị, khu công nghiệp, làng nghề,
sản xuất, dịch vụ và chất độc hóa học để lại sau chiến tranh cũng đáng báo động.
Hoạt động canh tác và đời sống còn bị đe dọa bởi tình trạng ngập úng, ngập lũ, lũ
quét, đất trượt, sạt lở đất, thoái hóa lý, hóa học đất
Năm là, lịch sử đã chứng minh sản xuất nông nghiệp phải được tiến hành trên
đất tốt mới có hiệu quả. Tuy nhiên, để hình thành đất với độ phì nhiêu cần thiết cho
canh tác nông nghiệp phải trải qua hàng nghìn năm, thậm chí hàng vạn năm. Vì vậy,
mỗi khi sử dụng đất đang sản xuất nông nghiệp cho các mục đích khác cần cân nhắc
kỹ để không rơi vào tình trạng chạy theo lợi ích trước mắt [2].

7
1.1.4. Chuyển đổi mục đích sử dụng đất
Có nhiều tiêu chí tiếp cận khác nhau về chuyển đổi mục đích sử dụng đất
(CĐMĐSDĐ):
Về mặt nội dung công việc thì CĐMĐSDĐ bao gồm các bước cụ thể sau: thu
hồi đất đai để phục vụ cho các dự án đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt theo quy
hoạch; bồi thường, hỗ trợ cho các đối tượng có đất bị thu hồi; giải toả các công
trình, tài sản có trên mặt đất; thực hiện các chính sách tái định cư (TĐC) như: chỗ ở,
việc làm, thu nhập, ổn định cuộc sống; giao đất, cho thuê đất cho các chủ dự án để
họ sử dụng theo các mục đích đã được phê duyệt.
Về mặt mục đích thì CĐMĐSDĐ tạo điều kiện cần thiết cho sự phát triển. Ở
nước ta hiện nay đó là sự phát triển của các ngành công nghiệp và dịch vụ, chuyển
đổi cơ cấu kinh tế theo hướng hiệu quả hơn. Xây dựng hệ thống đô thị là xây dựng
những trung tâm kinh tế của một địa phương, một vùng lãnh thổ hay trên phạm vi
cả nước; chuyển từ sản xuất nông nghiệp với năng suất và hiệu quả thấp sang những
ngành nghề mới có năng suất và hiệu quả kinh tế cao.
Nếu tiếp cận theo tiêu chí “tính chất”, thì CĐMĐSDĐ không chỉ đơn thuần là
quá trình mang tính chất kỹ thuật: tạo mặt bằng cho quá trình triển khai xây dựng
công trình…mà đó là một quá trình mang tính kinh tế, chính trị, xã hội rộng lớn.

1.1.6. Tính tất yếu phải chuyển đổi đất nông nghiệp sang đất phi nông nghiệp
Khoa học công nghệ ngày nay phát triển nhanh như vũ bão, kinh tế tri thức
đang đi vào cuộc sống, toàn cầu hoá là xu thế tất yếu, công nghiệp hoá là con đường
giúp các nước chậm phát triển rút ngắn thời gian so với các nước đi trước. Công
nghiệp hoá là nhân tố quyết định làm thay đổi căn bản phương thức sản xuất,
chuyển nền kinh tế từ sản xuất nông nghiệp truyền thống sang phương thức sản xuất
mới, hiện đại nền kinh tế dựa trên nền đại công nghiệp và dịch vụ chất lượng cao.
CNH, HĐH phản ánh quá trình cơ cấu lại nền kinh tế theo hướng phát triển
mạnh khu vực công nghiệp và dịch vụ; chuyển dịch cơ cấu lao động đáp ứng yêu
cầu công nghiệp hoá, tăng nhanh lao động làm công nghiệp và dịch vụ, giảm mạnh
lao động làm nông nghiệp. Công nghiệp hoá diễn ra đồng thời với phát triển các
vùng kinh tế trọng điểm, khu kinh tế mở, khu công nghiệp tập trung, các trung tâm
dịch vụ lớn. Chuyển đổi đất nông nghiệp sang đất phi nông nghiệp làm thay đổi cơ
cấu sử dụng đất theo hướng thu hẹp dần diện tích đất nông nghiệp, mở rộng diện

9
tích đất phi nông nghiệp. Đất đai được chuyển đổi mục đích sử dụng nhằm đáp ứng
yêu cầu CNH, HĐH sử dụng đất phù hợp điều kiện kinh tế, xã hội của vùng, địa
phương góp phần phát triển mạnh nền kinh tế, xã hội.
Hiện nay, mức độ CNH, HĐH ở nước ta vẫn còn ở mức thấp để trở thành
nước công nghiệp, cơ cấu kinh tế chủ yếu phải là công nghiệp và dịch vụ và kéo
theo nó, đại bộ phận lao động làm việc trong ngành công nghiệp và dịch vụ Năm
2007, lao động làm nông nghiệp ở Việt Nam vẫn chiếm tới 50,2% tổng số lao động.
Vì vậy, đẩy nhanh hơn nữa quá trình CNH, HĐH là một yêu cầu khách quan và cấp
bách nhất của sự phát triển.
CNH, HĐH ở nước ta là quá trình cơ cấu lại nền kinh tế theo hướng phát triển
mạnh công nghiệp và dịch vụ. Để làm được công việc này, tất yếu phải phân bổ lại
các nguồn lực phát triển kinh tế, trong đó, trước hết là nguồn nhân lực, đất đai và
lao động, phải chuyển một bộ phận đất nông nghiệp sang phục vụ cho việc xây
dựng các khu công nghiệp, khu chế xuất, các nhà máy và cơ sở hạ tầng. Như một

phi nông nghiệp kéo theo chuyển đổi cơ cấu kinh tế, cơ cấu lao động.
Chuyển đổi mục đích sử dụng đất nông nghiệp sang đất phi nông nghiệp tạo
điều kiện thu hút, giải quyết việc làm ổn định cho hàng triệu lao động với thu nhập
tương đối khá, giúp họ từng bước cải thiện điều kiện và nâng cao đời sống vật chất
cũng như tinh thần của bản thân và gia đình, tăng tỉ lệ lao động trong ngành công
nghiệp, dịch vụ, giảm dần lao động trong ngành nông nghiệp nông thôn. Thực tế
cho thấy các khu công nghiệp, nhà máy sản xuất đi vào hoạt động thu hút một lượng
lớn lao động vào làm việc trong các xưởng sản xuất. Trước đây lao động trong nông
nghiệp chiếm đến 70%-80% tổng số lao động cả nước, lượng đất nông nghiệp có
hạn, cảnh đất chật người đông, thu nhập cả năm trông chờ vào 2 vụ lúa và phụ
thuộc nhiều vào thời tiết nên cuộc sống rất bấp bênh. Khi vào làm trong các nhà
máy, xí nghiệp thu nhập sẽ ổn định hơn. Họ sẽ được đào tạo trình độ cũng như tay
nghề, tiếp xúc với những phương thức sản xuất mới tiên tiến, mô hình chung làm
tăng trình độ dân trí cho người dân địa phương [22].
1.2. Lý luận về phát triển bền vững và sử dụng đất bền vững
1.2.1. Phát triển bền vững
Phát triển bền vững là một khái niệm mới nhằm định nghĩa một sự phát triển
về mọi mặt trong hiện tại mà vẫn phải bảo đảm sự tiếp tục phát triển trong tương lai

11
xa. Khái niệm này hiện đang là mục tiêu hướng tới nhiều quốc gia trên thế giới, mỗi
quốc gia sẽ dựa theo đặc thù kinh tế, xã hội, chính trị, địa lý, văn hóa riêng để
hoạch định chiến lược phù hợp nhất với quốc gia đó [17].
1.2.2. Vấn đề sử dụng đất bền vững
Ưu tiên sử dụng đất tốt cho nông nghiệp, dành đất xấu (có khả năng sản xuất
thấp) cho các mục đích phi nông nghiệp. Điều hòa giữa áp lực tăng dân số và tăng
trưởng về kinh tế nhằm đáp ứng yêu cầu sử dụng đất bền vững. Quản lý hệ thống
nông nghiệp nhằm đảm bảo có sản phẩm tối đa về lâu dài, đồng thời duy trì độ phì
nhiêu đất. Bảo đảm phát triển tài nguyên rừng nhằm thỏa mãn nhu cầu về thương
mại, chất đốt, xây dựng và dân dụng mà không làm mất nguồn nước và thoái hóa

vào tăng trưởng kinh tế. Ngay sau khi Cách mạng thành công, Nhà nước Trung
Quốc đã tiến hành cải cách ruộng đất. Đây là một bước vĩ đại công bằng hóa đời
sống nông thôn, 46 triệu ha tước đoạt của địa chủ được chia cho 300 triệu nông
nghèo, tạo nên động lực sản xuất to lớn, đáo ứng nguyện vọng ngàn đời của nông
dân, thu nhập của nông dân tăng dần, thu hẹp khoảng cách với cuộc sống thành thị.
Sau thời kỳ “nhảy vọt”, Trung Quốc theo hướng tập thể hóa đã làm mất đi
hiệu quả của cải cách ruộng đất, đất đai và các tư liệu sản xuất chính mà sinh hoạt
và kinh tế gia đình cũng bị tập thể hóa; đây là thời kỳ bình quân trong thiếu thốn
của nông thôn.
Trong giai đoạn đầu của cải cách kinh tế (từ năm 1978-1984) các chính sách
mới trong nông nghiệp (phi hợp tác hóa) được coi như một bước mới của “cải cách
ruộng đất”. Nông dân được trao quyền sử dụng đất trong 15 năm và quyền này được
phép thừa kế. Thu nhập bình quân nông hộ tăng 10%/năm, nhanh hơn mức thu nhập
của hộ thu gia đình ở thành phố.
Trong giai đoạn thứ hai của cuộc cải cách, hàng loạt các chính sách cải cách
về nông nghiệp được áp dụng: thị trường nông sản tự do hơn, chấm dứt độc quyền
trong kinh doanh phân bón đặc biệt là công nghiệp hương trấn (do địa phương:
huyện, xã, thị trấn quản lý) phát triển mạnh, tạo công ăn việc làm và thu nhập cho
nông dân. Từ năm 1980-1989 đã tạo được 80 triệu việc làm mới ở nông thôn, thu
nhập của nông dân tăng đều từ 2-3%/năm.
Quá trình chuyển dịch đất nông nghiệp sang các loại đất khác (chủ yếu là đất
công nghiệp và đất ở) của Trung Quốc tăng đã làm cho diện tích đất canh tác ngày

13
càng giảm, diện tích canh tác bình quân đầu người của Trung Quốc chỉ bằng 1/3
mức trung bình trên thế giới. Cạnh tranh giữa sản xuất nông nghiệp và sản xuất
công nghiệp, phát triển đô thị ngày càng nhanh về tài nguyên tự nhiên làm cho giá
thành sản xuất nông nghiệp ngày càng tăng nhanh; tốc độ tăng thu nhập của nông
thôn giảm dần (từ 3,09% năm 1980 xuống 2,47% năm 1997), ngày càng tụt hậu so
với mức tăng ngày càng nhanh của thu nhập cư dân thành phố. Khoảng cách chênh

điểm này rất giống với Việt Nam.
Trước công cuộc duy tân, như mọi nước châu Á, nền kinh tế của Nhật Bản là
nền nông nghiệp sản xuất nhỏ tiểu nông phong kiến, năng suất thấp, địa tô cao. Như
Việt Nam, Nhật Bản luôn bị giới hạn bởi tài nguyên đất đai ngày càng ít và dân số
ngày càng tăng. Diện tích trung bình 1 hộ nông dân Nhật Bản năm 1878 là 1 ha,
năm 1962 là 0,8 ha. Mặc dù lĩnh vực công nghiệp phát triển rất nhanh nhưng mức
độ thu hút lao động rất hạn chế. Từ năm 1878 đến 1912 là thời kỳ công nghiệp tăng
trưởng nhảy vọt, nhưng tổng số lao động nông nghiệp chỉ giảm rất ít, từ 15,5 triệu
xuống 14,5 triệu người. Công nghiệp tăng trưởng gần như chỉ thu hút phần lao động
thêm ra do tăng dân số tự nhiên.
Giống như các nước đang phát triển, ở thời kỳ đầu công nghiệp hóa, cần có
lương thực cung cấp cho đô thị, giai đoạn chuyển tiếp khi nông sản hàng hóa dư
thừa, nông nghiệp bắt đầu co lại nhanh, Chính phủ Nhật Bản có chủ trương một nền
“kinh tế liên kết”, kiên trì chính sách nông nghiệp phát triển song song công nghiệp
từ thời kỳ công nghiệp hóa thời Minh Trị thế kỷ XIX đến năm 1960. Khi kinh tế
Nhật Bản đạt đến điểm chuyển biến căn bản trong cơ cấu thì nông nghiệp bắt đầu
thu hẹp, chuyển tài nguyên nhanh sang các ngành khác (tỷ lệ lao động nông nghiệp
giảm tới 32% và bắt đầu giảm nhanh, nông nghiệp đóng góp cho GDP còn 13%,
năng suất lao động nông nghiệp tăng chậm lại so với công nghiệp).
Do chính sách phi tập trung hóa công nghiệp, đưa sản xuất công nghiệp về
nông thôn làm cho cơ cấu kinh tế nông thôn thay đổi, tỷ lệ đóng góp của các ngành
phi nông nghiệp trong thu nhập cư dân nông thôn ngày càng tăng (năm 1950 là
29%, năm 1990 là 85%). Năm 1990 phần thu nhập từ phi nông nghiệp cao hơn 5,6
lần phần từ nông nghiệp. Song thu nhập từ nông nghiệp của nông dân khi đó lại cao
gấp 9 lần so với năm 1950 là do Chính phủ trợ giá nông sản (mức hỗ trợ nông dân
tính bình quân theo 01 ha đất nông nghiệp thời kỳ 1997-1999 của Nhật Bản từ

15
10.600-11.800 USD. Đây là mức cao nhất trong các nước OECD). Tính cả thu nhập
từ nông nghiệp và phi nông nghiệp của nông dân khi đó, theo bình quân đầu người

Tỷ trọng của nông nghiệp trong GDP dần dần “nhường chỗ” cho công nghiệp
và dịch vụ phát triển; từ đó kết cấu kinh tế Nhật Bản đã chuyển dịch nhanh và vững
chắc sang công nghiệp.
Với chính sách tiết kiệm đất triệt để, chính sách bảo hộ sản xuất nông nghiệp
đồng nghĩa với sự hạn chế tối đa chuyển dịch đất nông nghiệp sang đất công nghiệp
và đất ở; các cơ chế chính sách uyển chuyển phù hợp với từng giai đoạn phát triển
kinh tế-xã hội của Nhật Bản [25].
1.3.3. Đài Loan
Cải cách ruộng đất ở Đài Loan được tiến hành từ năm 1949-1953 chia làm 3
thời kỳ: thời kỳ đầu nhằm hình thành tầng lớp tá điền chiếm đa số dân cư nông
thôn, nhưng địa tô còn rất cao (khoảng 50-70% sản lượng cây trồng); thời kỳ thứ 2,
Chính phủ bán cho nông dân những mảnh đất công có diện tích nhỏ tịch thu của địa
chủ, 20% nông hộ được nhận đất, chiếm 8% tổng diện tích đất canh tác; thời kỳ thứ
3 là thời kỳ quan trọng nhất, kết thúc năm 1953 với khẩu hiệu “đất cho người cày”,
toàn bộ địa chủ có quy mô vượt quá 2,9 ha được mua lại bằng công trái công cộng.
Công trái này có mức lãi 4% trong thời hạn 10 năm và là cổ phẩn của các doanh
nghiệp Nhà nước. Tổng số diện tích đất mua lại chiếm 14,6% diện tích đất canh tác
của toàn lãnh thổ và được chia cho 195.000 nông dân không có đất (chiếm 28%
tổng số nông hộ toàn lãnh thổ). Khi đó, đại địa chủ ở nông thôn có lượng vốn lớn
chuyển sang đầu tư vào công nghiệp và kinh doanh, hình thành hàng loạt doanh
nghiệp nhỏ ở các thị trấn nông thôn, làm cho kinh tế nông thôn chuyển đổi mạnh.
Cuối những năm 1960, kinh tế nông nghiệp Đài Loan đạt đến điểm huy động
hết lao động sẵn có ở nông thôn. Thu nhập nông hộ được bổ sung một phần lớn từ
thu nhập phi nông nghiệp, chính sách phân phối thu nhập công bằng ở nông thôn
được thực hiện, hiện tượng phân hóa giàu nghèo được giải quyết; cơ giới hóa được
áp dụng rộng rãi trong nông nghiệp, sản lượng nông nghiệp tăng nhanh, xuất khẩu
nông sản phát triển. Đó còn là thời kỳ Đài Loan chuyển nền kinh tế nông nghiệp
sang công nghiệp hóa thành công với việc phát triển khởi đầu từ công nghiệp chế
biến nông sản.


hiệu quả hoàn toàn khác nhau. Sự chuyển dịch đất nông nghiệp sang đất công

18
nghiệp đã được định hướng về nông thôn đã mang lại hiệu quả vô cùng to lớn ngay
trong cả ngắn hạn và dài hạn cho nền kinh tế đất nước.
Thực tế trên đã cho thấy: chính sách phát triển nông nghiệp (trong đó có sử
dụng đất nông nghiệp hay chuyển dịch đất nông nghiệp) thích hợp đã tác động rất
lớn, kích thích sự phát triển kinh tế-xã hội của một quốc gia có xuất phát điểm từ
một nền kinh tế nông nghiệp, ngược lại, sẽ phải gánh chịu một hậu quả nghiêm
trọng cho nền kinh tế-xã hội [25].
1.4. Hệ thống chính sách pháp luật của Đảng và Nhà nƣớc có liên quan đến
chuyển mục đích sử dụng đất.
- Luật đất đai năm 2003 [24] được Quốc hội nước cộng hoà xã hội chủ nghĩa
Việt Nam thông qua ngày 26-11-2003 và có hiệu lực thi hành từ ngày 1-7-2004.
- Nghị định 181/2004/NĐ-CP ngày 29/10/2004 về thi hành Luật đất đai.[10]
- Nghị định số 197/2004/NĐ-CP ngày 03/12/2004 của Chính phủ về bồi
thường, hỗ trợ và TĐC khi Nhà nước thu hồi đất vì mục đích an ninh, quốc phòng,
lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng: quy định về bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi
Nhà nước thu hồi đất để sử dụng vào đích an ninh, quốc phòng, lợi ích quốc gia, lợi
ích công cộng. Nghị định này được áp dụng đối với các tổ chức, cộng đồng dân cư,
cơ sở tôn giáo, hộ gia đình, cá nhân trong nước, người Việt Nam định cư ở nước
ngoài, tổ chức, cá nhân nước ngoài đang sử dụng đất bị Nhà nước thu hồi đất.
Người bị thu hồi đất, bị thiệt hại tài sản gắn liền với đất bị thu hồi, được bồi thường
đất, tài sản, được hỗ trợ và bố trí tái định cư theo quy định của Nghị định này.
- Thông tư 116/2004/TT-BTC ngày 07/12/2004 của Bộ Tài chính hướng dẫn
thực hiện Nghị định số 197/2004/NĐ-CP [4]. Thông tư này hướng dẫn cụ thể và có
thêm một số nội dung về bồi thường đất, bồi thường tài sản, chính sách hỗ trợ, tái
định cư và tổ chức thực hiện bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi
đất đối với các trường hợp quy định tại Nghị định số 197/2004/NĐ-CP; hướng dẫn
cách xác định chi phí đầu tư vào đất còn lại được quy định tại khoản 3 Điều 9 Nghị

tư, kinh doanh khi có đất bị thu hồi. Có chính sách giải quyết tốt vấn đề đất ở, nhà ở,
việc làm cho người bị thu hồi đất; có quy hoạch và cơ chế bảo vệ vững chắc đất trồng
lúa, triển khai công tác quy hoạch xây dựng nông thôn gắn với quy hoạch phát triển đô thị.
- Nghị định số 69/2009/NĐ-CP ngày 13 tháng 8 năm 2009 của Chính phủ quy
định bổ sung về quy hoạch sử dụng đất, giá đất, thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ và tái

20
định cư. Nghị định này quy định về nội dung quy hoạch sử dụng đất các cấp, bồi
thường, hỗ trợ và tái định cư khi nhà nước thu hồi đất, các căn cứ khi giao đất, cho thuê
đất và chuyển mục đích sử dụng đất.
- Thông tư số 19/2009/TT-BTNMT ngày 22 tháng 11 năm 2009 quy định chi tiết
việc lập, điều chỉnh và thẩm định quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất.
- Nghị định số 42/2012/NĐ-CP [14] ngày 11 tháng 5 năm 2012 của Chính phủ
về quản lý và sử dụng đất trồng lúa tại các vùng trồng lúa trên cả nước. Nghị định
này hạn chế tối đa việc chuyển đất chuyên trồng lúa nước sang sử dụng vào các mục
đích phi nông nghiệp; khuyến khích việc khai hoang mở rộng diện tích đất trồng
lúa, cải tạo đất lúa khác thành đất chuyên trồng lúa nước. Đất chuyên trồng lúa nước
phải được bảo vệ nghiêm ngặt trong kỳ quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất; chỉ được
điều chỉnh quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất chuyên trồng lúa nước trong trường
hợp phải chuyển đất chuyên trồng lúa nước sang sử dụng vào các mục đích quốc
phòng, an ninh, lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng và phải được cơ quan nhà nước
có thẩm quyền xét duyệt. Nghị định này cũng quy định về các điều kiện chuyển
mục đích sử dụng đất trồng lúa bao gồm: Phù hợp với quy hoạch, kế hoạch sử dụng
đất đã được phê duyệt; phải có phương án sử dụng đất tiết kiệm tối đa, thể hiện
trong thuyết minh tổng thể của dự án; đối với các tổ chức, cá nhân được Nhà nước
giao, cho thuê đất để sử dụng vào mục đích phi nông nghiệp từ đất chuyên trồng lúa
nước phải có phương án sử dụng lớp đất mặt và bù bổ sung diện tích đất chuyên
trồng lúa nước bị mất do chuyển mục đích sử dụng.
Ngoài ra, còn một số các Nghị định, Thông tư và Chỉ thị khác liên quan.
* Một số văn bản quy phạm pháp luật trên địa bàn tỉnh Hà Nam

nông dân ước tính hơn 60 triệu người). Đất giành cho trồng lúa là 4,1 triệu ha, bình
quân mỗi nông dân có khoảng 480 m2 đất canh tác [20].
Trong những năm qua, nhiều diện tích đất đã chuyển làm khu công nghiệp.
Chỉ tính từ năm 2004 đến nay, theo báo cáo của 49 tỉnh, thành phố đã thu hồi gần
750 nghìn ha đất để thực hiện 29 nghìn dự án đầu tư. Điều đáng nói, trong 750
nghìn ha đó thì có tới 80% là đất nông nghiệp. Khoảng 50% diện tích đất nông
nghiệp bị thu hồi nằm trong vùng kinh tế trọng điểm, đây là những khu vực đất màu
mỡ trồng hai vụ lúa một năm. Điều tra của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn
tại 16 tỉnh, thành phố trọng điểm cho thấy, diện tích đất nông nghiệp bị thu hồi

22
chiếm 89%, hầu hết là đất lúa, thuộc diện "bờ xôi ruộng mật". Với diện tích này,
hằng năm sản lượng lúa cả nước có thể giảm hơn một triệu tấn [20].
Đất nông nghiệp bị thu hồi vô tội vạ, đất lúa bị thu hồi làm Khu công nghiệp
(KCN) nhưng nhiều KCN lại để trống. Cơn sốt gạo khiến nhiều người dân Việt
Nam vô cùng hoảng hốt đã trôi qua nhưng những vấn đề đặt ra sau đó lại nóng hơn
bao giờ hết. Đó là vấn đề bảo đảm an ninh lương thực cũng như cuộc sống cho hơn
70% dân số nông nghiệp trong bối cảnh tốc độ đô thị hoá, công nghiệp hoá ngày
càng cao. Cùng với tốc độ tăng trưởng kinh tế khá cao và ổn định trong nhiều năm
qua, diện tích đất nông nghiệp của nước ta từ Nam chí Bắc đang dần bị thu hẹp lại.
Phải khẳng định chủ trương đẩy mạnh công nghiệp hoá, đô thị hoá, rút bớt khoảng
cách giữa nông thôn và thành thị là đúng đắn nhưng khi thực hiện đã nảy sinh
những bất cập. Trong khi nhiều nông dân không còn đất để sản xuất thì nhiều KCN
lại để trống, gây nên sự lãng phí lớn.
Trong những năm gần đây, các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long đua nhau xây
KCN. Tỉnh nào cũng có ít nhất một KCN, trong đó nhiều nhất là Long An với 16
KCN chiếm hơn 10 ngàn ha. Thành phố Cần Thơ cũng không thua kém với năm
KCN chiếm 924 ha. Tất cả các khu này đều nằm dọc triền sông Hậu Mới đây, Cần
Thơ đang triển khai mở rộng và xây mới bốn KCN, cũng chạy dọc bờ sông Hậu và
rộng hơn một ngàn ha [23] .

2005
2006-
2010
2001-
2010
(1)
(2)
(3)
(4)
(5)
(6)
(7)=(5)-
(4)
(8)=(6)-
(5)
(9)=(6)-
(4)

TỔNG DIỆN TÍCH TỰ NHIÊN

33.121
33.121
33.095

-26
-26
I
ĐẤT NÔNG NGHIỆP
NNP
21.532

-45
-348
1.1.2
Đất trồng cây hàng năm còn lại
NHK
2.292
2.205
2.317
-87
112
25
1.2
Đất trồng cây lâu năm
CLN
2.810
3.046
3.689
236
643
879
2
Đất lâm nghiệp
LNP
11.575
14.677
15.366
3.102
689
3.791
2.1

700
690
332
-10
322
4
Đất làm muối
LMU
19
14
18
-5
4
-1
5
Đất nông nghiệp khác
NKH

15
26
15
11
26
II
ĐẤT PHI NÔNG NGHIỆP
PNN
2.850
3.227
3.705
377

Đất chuyên dùng
CDG
1.072
1.385
1.824
313
439
752
2.1
Đất trụ sởCQ, công trình sự nghiệp
CTS
19
23
20
4
-3
1
2.2
Đất quốc phòng
CQP
192
252
288
60
36
96
2.3
Đất an ninh
CAN
29

NTD
94
97
101
3
4
7
5
Đất sông suối và mặt nƣớc
chuyên dùng
SMN
1.143
1.130
1.078
-13
-52
-65
6
Đất phi nông nghiệp khác
PNK
98
3
4
-95
1
-94
III
ĐẤT CHƢA SỬ DỤNG
CSD
8.739

2005 giảm 87 nghìn ha, giai đoạn 2006-2010 tăng 112 nghìn ha và năm 2010 diện
tích đất trồng cây hàng năm là 2317 nghìn ha tăng 25 nghìn ha so với năm 2000.
Đất trồng cây hàng năm tăng chủ yếu do mở rộng diện tích trồng ngô, lạc, đậu
tương phục vụ cho chăn nuôi. Trong cây ngắn ngày, cơ cấu cây trồng biến động
nhiều, phụ thuộc vào giá cả, thị trường, kể cả cây trồng được quy hoạch là vùng
nguyên liệu cho các cơ sở chế biến. Tuy nhiên, đất trồng lúa vẫn chiếm tỷ trọng cao
64 % (năm 2010) trong tổng diện tích của đất trồng cây hàng năm.
+ Đất trồng cây lâu năm tăng 879 nghìn ha trong giai đoạn 2000-2010, trong
đó tăng mạnh ở giai đoạn 2006-2010 tăng 643 nghìn ha. Đất trồng cây lâu năm tăng
chủ yếu do tăng diện tích trồng cà phê, cao su, cây ăn quả và điều.

25
+ Đất lâm nghiệp do khoanh nuôi, bảo vệ rừng tốt hơn nên diện tích rừng tăng
từ 11,6 triệu ha năm 2000 lên 15,4 triệu ha rừng năm 2010, trung bình diện tích đất
lâm nhiệp tăng mỗi năm là 380 nghìn ha. Với kết quả này, độ che phủ của rừng
được nâng lên từ 33,2% năm 2001 lên 37% năm 2005 và 39,5% năm 2010.
+ Đất nuôi trồng thuỷ sản có xu hướng tăng giảm khác nhau ở hai giai đoạn,
giai đoạn 2000-2005 tăng 332 nghìn ha, tuy nhiên giai đoạn 2006-2010 đất nuôi
trồng thuỷ sản không tăng mà lại bị giảm 10 nghìn ha. Diện tích đất nuôi trồng thuỷ
sản bị chi phối mạnh bởi thị trường tiêu thụ các sản phẩm thuỷ sản.
+ Đất làm muối cũng có xu hướng tăng giảm khác nhau ở các giai đoạn. Cụ
thể năm 2005 đất làm muối giảm nhẹ so với năm 2000 từ 19 nghìn ha xuống còn 14
nghìn ha, nhưng đến năm 2010 diện tích đất nuôi trồng thuỷ sản tăng lên 18 nghìn ha.
- Đất phi nông nghiệp: Giai đoạn 2000-2010, diện tích đất phi nông nghiệp
tăng 855 nghìn ha trong đó giai đoạn 2001-2005 tăng 377 nghìn ha, giai đoạn 2006-
2010 tăng 478 nghìn ha. Diện tích đất phi nông nghiệp tăng chủ yếu lấy từ
đất nông nghiệp.
- Đất chưa sử dụng năm 2010 giảm 2,76 lần so với năm 2000. Cụ thể, giai
đoạn 2001-2005, diện tích đất chưa sử dụng giảm 3.667 nghìn ha, giai đoạn 2006-
2010 giảm 1.908 nghìn ha.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status