Đánh giá kết quả kiểm soát đái tháo đường điều trị ngoại trú tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh Vĩnh Phúc năm 2012 - Pdf 24


Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

1
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC Y - DƢỢC
♣♦♣
LÊ XUÂN KHỞI
ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ KIỂM SOÁT ĐÁI THÁO
ĐƢỜNG ĐIỀU TRỊ NGOẠI TRÚ TẠI BỆNH VIỆN ĐA
KHOA TỈNH VĨNH PHÚC NĂM 2012
Chuyên ngành: NỘI KHOA
Mã số: 60.72.01.40
LUẬN VĂN THẠC SĨ Y HỌC
Hướng dẫn khoa học:


Nội tiết Trung ương vào năm 2006 cho thấy, tỷ lệ mắc đái tháo đường chung
cho cả nước là 2,7% , đáng lưu ý trong đó có tới 64,6% người bệnh không
biết mình mắc bệnh [4].
Đái tháo đường là bệnh không chữa khỏi hoàn toàn, chất lượng cuộc
sống của người bệnh phụ thuộc vào sự kiểm soát glucose máu và giảm thiểu
các biến chứng do đái tháo đường gây nên.

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

3
Vĩnh Phúc là tỉnh phát triển về công nghiệp và dịch vụ, cùng với sự
phát triển về kinh tế, xã hội đời sống nhân dân từng bước được cải thiện thì tỷ
lệ mắc bệnh đái tháo đường ngày càng gia tăng. Biện pháp hữu hiệu để làm
giảm tiến triển và biến chứng của bệnh, chi phí cho chữa bệnh ít tốn kém nhất
là phải phát hiện sớm quản lý và điều trị người bệnh kịp thời. Hiện nay trên
địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc nhiều đơn vị y tế tuyến tỉnh và tuyến huyện đã triển
khai công tác quản lý và điều trị đái tháo đường ngoại trú, đi đầu là bệnh viện
đa khoa tỉnh. Tuy nhiên, việc đánh giá kết quả kiểm soát đái tháo đường điều
trị ngoại trú và xác định các yếu tố liên qua đến kết quả kiểm soát đái tháo
đường hiện nay chưa được quan tâm đầy đủ tại Vĩnh Phúc.
Góp phần tìm hiểu vấn đề này, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài:
“Đánh giá kết quả kiểm soát đái tháo đường điều trị ngoại trú tại Bệnh
viện đa khoa tỉnh Vĩnh Phúc năm 2012”
Nhằm mục tiêu:
1. Đánh giá kết quả kiểm soát đái tháo đường điều trị ngoại trú
tại Bệnh viện đa khoa tỉnh Vĩnh Phúc năm 2012.
2. Xác định một số yếu tố ảnh hưởng đến kết quả kiểm soát
glucose máu.
UKPDS (được công bố năm 1998) đã mở ra một kỷ nguyên mới cho điều trị
bệnh đái tháo đường, đó là kỷ nguyên của sự kết hợp y tế chuyên sâu và y học
dự phòng, dự phòng cả về lĩnh vực hạn chế sự xuất hiện và phát triển bệnh
[5],[6],[62]. Đáng lưu ý là trong nghiên cứu UKPDS, bệnh nhân khi phát hiện
bệnh thì tỷ lệ đã có các biến chứng do đái tháo đường rất cao [53],[65],[66].
Điều này nhấn mạnh thêm tầm quan trọng của việc cần phải phát hiện quản lý
và điều trị sớm kiểm soát tốt glucose máu trong bệnh đái tháo đường.

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

5
1.2. Định nghĩa, chẩn đoán và phân loại bệnh đái tháo đƣờng
1.2.1 Định nghĩa
Theo Tổ chức Y tế Thế giới, “Đái tháo đường là một hội chứng có đặc
tính biểu hiện bằng sự tăng đường máu do hậu quả của việc mất hoàn toàn
insulin hoặc là do có liên quan đến sự suy yếu trong bài tiết hoặc hoạt động
của insulin". Người ta cho rằng ĐTĐ là một rối loạn của hệ thống nội tiết,
bệnh có thuộc tính là tăng glucose máu. Mức độ tăng glucose máu phụ thuộc
vào sự mất toàn bộ hay một phần khả năng bài tiết hoặc khả năng hoạt động
của insulin [4],[6].
1.2.2. Chẩn đoán
Tiêu chuẩn chẩn đoán xác định:
Theo ADA năm 1997 và được Tổ chức Y tế Thế giới công nhận năm
1998, tuyên bố áp dụng vào năm 1999, đái tháo đường được chẩn đoán xác
định khi có ít nhất một trong ba tiêu chuẩn sau:
- Tiêu chuẩn 1: Glucose máu bất kỳ ≥ 11,1 mmol/l. Kèm theo các triệu
chứng uống nhiều, đái nhiều, sút cân không có nguyên nhân.
- Tiêu chuẩn 2: Glucose máu lúc đói ≥ 7,0 mmol/l, xét nghiệm lúc
bệnh nhân đã nhịn đói sau 6 - 8 giờ không ăn.
- Tiêu chuẩn 3: Glucose máu ở thời điểm 2 giờ sau khi làm nghiệm

hụt tiết insulin tương đối. Đái tháo đường typ 2 thường được chẩn đoán rất
muộn vì giai đoạn đầu tăng glucose máu tiến triển âm thầm không có triệu
chứng. Khi có biểu hiện lâm sàng thường kèm theo các rối loạn khác về
chuyển hoá lipid, các biểu hiện bệnh lý về tim mạch, thần kinh, thận, nhiều
khi các biến chứng này đã ở mức độ rất nặng.
Đặc điểm lớn nhất trong sinh lý bệnh của đái tháo đường typ 2 là có sự
tương tác giữa yếu tố gen và yếu tố môi trường trong cơ chế bệnh sinh. Người
mắc bệnh đái tháo đường typ 2 có thể điều trị bằng cách thay đổi thói quen,

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

7
kết hợp dùng thuốc uống để kiểm soát glucose máu, tuy nhiên nếu quá trình
này thực hiện không tốt thì bệnh nhân cũng sẽ phải điều trị bằng cách dùng
insulin [31].
1.2.3.3. Đái tháo đường thai nghén
Đái tháo đường thai kỳ thường có xu hướng hay gặp ở người nhiều
tuổi, có thừa cân, béo phì, tần xuất mắc cũng tăng lên cùng với tuổi và chỉ số
khối cơ thể [6],[60]. Đái tháo đường thai nghén là nguyên nhân của các biến
chứng nguy hiểm cho thai phụ trong thời kỳ mang thai và trong chuyển dạ
như: hôn mê do tăng đường huyết, đẻ non, thai chết lưu, nhiễm trùng, tăng
huyết áp, suy thận và các biến chứng mạch máu khác. Đối với thai nhi thường
thấy các biến chứng chuyển hóa bao gồm hạ đường máu, hạ calci máu, thai to,
tăng nguy cơ bị dị dạng bẩm sinh, suy hô hấp. Tăng tỷ lệ bệnh tật ở trẻ sơ sinh
của phụ nữ đái tháo đường. Ảnh hưởng đến trẻ em không chỉ giới hạn ở thời
kỳ chu sinh mà còn ảnh hưởng rất lâu dài, khi trưởng thành những trẻ em này
sẽ sớm dẫn đến tình trạng kháng insulin, béo phì, giảm dung nạp glucose
chiếm tỷ lệ cao và là một trong những lý do dẫn tới đái tháo đường [31].
Ở Việt Nam các nghiên cứu cho thấy lứa tuổi đái tháo đường thai
nghén hay gặp nhất ở thai phụ thường trên 35 tuổi có thừa cân béo phì [6]. Tỷ

giữa 2 quá trình cung cấp và tiêu thụ glucose trong tuần hoàn [6].
Hôn mê tăng áp lực thẩm thấu là tình trạng rối loạn chuyển hóa glucose
máu nặng, glucose máu tăng cao. Tỷ lệ tử vong do hôn mê tăng áp lực thẩm
thấu thường rất cao ngay cả khi được cấp cứu kịp thời ở những tuyến chuyên
khoa [6].
1.3.2. Biến chứng mạn tính
1.3.2.1. Biến chứng tim - mạch
Biến chứng chính của đái tháo đường là bệnh tim mạch, trên 80% bệnh
nhân đái tháo đường sẽ tiến tới tử vong bởi một vài biến chứng tim mạch [1].
Mặc dù có nhiều yếu tố tham gia gây bệnh mạch vành, nhưng các nghiên cứu

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

9
cho thấy nồng độ glucose máu cao làm tăng nguy cơ mắc bệnh mạch vành và
các biến chứng tim mạch khác. Người đái tháo đường có nguy cơ mắc bệnh
tim mạch gấp 2 - 4 lần so với người bình thường [16].
Tăng huyết áp thường gặp ở bệnh nhân đái tháo đường, tỷ lệ mắc bệnh
chung của tăng huyết áp ở bệnh nhân đái tháo đường tăng gấp đôi so với
người bình thường [6],[35].
Ngoài ra, tỷ lệ biến chứng mạch não ở bệnh nhân đái tháo đường gấp 1,5 -
2 lần, viêm động mạch chi dưới gấp 5 - 10 lần so với người bình thường. Tỷ
lệ tăng các bệnh tim mạch có liên quan đến một số yếu tố nguy cơ ở người đái
tháo đường có béo phì, rối loạn lipid máu, tăng huyết áp [45].
Theo nghiên cứu của Trần Vĩnh Thủy (2007) tại Thái Nguyên biến
chứng tim mạch là 53,8% [47]. Bế Thu Hà (2009) nghiên cứu tại Bắc Cạn cho
tỷ lệ biến chứng tim mạch ở bệnh nhân đái tháo đường là 42,8% [16].
1.3.2.2. Biến chứng thận
Biến chứng thận do đái tháo đường là một trong những biến chứng
thường gặp, tỷ lệ biến chứng tăng theo thời gian mắc bệnh. Bệnh thận do đái

bệnh võng mạc đái tháo đường 60,5%, đục thủy tinh thể 59% [18].
Nghiên cứu của Đặng Văn Hòa, Nguyễn Kim Lương tại Bệnh viện Đa
khoa Trung ương Thái Nguyên cho thấy 52,94% bệnh nhân bị đục thuỷ tinh
thể, 22,94% bệnh nhân bị bệnh võng mạc đái tháo đường [22].
1.3.2.4. Bệnh thần kinh do đái tháo đường
Bệnh thần kinh do đái tháo đường gặp khá phổ biến, ước tính khoảng
30% bệnh nhân đái tháo đường có biểu hiện biến chứng này. Người bệnh đái
tháo đường typ 2 thường có biểu hiện tổn thương thần kinh ngay tại thời điểm
chẩn đoán [16].
Bệnh thần kinh do đái tháo đường thường được phân chia thành các hội
chứng lớn sau: Viêm đa dây thần kinh, bệnh đơn dây thần kinh, bệnh thần
kinh thực vật, bệnh thần kinh vận động gốc chi [16].

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

11
Tác giả Đỗ Trung Quân, Trần Thị Nhật nghiên cứu bệnh nhân đái tháo
đường typ 2 điều trị ngoại trú tại bệnh viện Bạch Mai năm 2011 cho kết quả
tỷ lệ biến chứng thần kinh ngoại vị ở bệnh nhân đái tháo đường typ 2 khá cao
63,4% [42].
1.3.3. Một số biến chứng khác
1.3.3.1. Bệnh lý bàn chân do đái tháo đường
Bệnh lý bàn chân đái tháo đường ngày càng được quan tâm do tính phổ
biến của bệnh. Bệnh lý bàn chân đái tháo đường do sự phối hợp của tổn
thương mạch máu, thần kinh ngoại vi và cơ địa dễ nhiễm khuẩn do glucose
máu tăng cao [16].
Một thông báo của WHO tháng 3 - 2005 cho thấy có tới 15% số người
mắc bệnh đái tháo đường có liên quan đến bệnh lý bàn chân, 20% số người
phải nhập viện do nguyên nhân bị loét bàn chân [6].
Ở Việt Nam, tỷ lệ tổn thương động mạch 2 chi dưới chiếm khoảng

triglycerid hạ thấp nếu tình trạng kiểm soát glucose máu được cải thiện, đặc
biệt khi mức glucose máu được bình thường hóa bằng sử dụng tiêm insulin
dưới da liên tục hoặc tiêm nhiều mũi insulin [6].
HDL-C cũng được cải thiện cùng với kết quả điều trị, HDL-C sẽ bình
thường hoặc thậm chí tăng lên ở những người bệnh đái tháo đường typ 1 được
quản lý tốt glucose máu [6].
Tác động của đái tháo đường typ 2 đối với lipid và lipoprotein khó
được đánh giá hơn vì sự không đồng nhất của các yếu tố tham gia vào chu
trình sinh bệnh học của bệnh, thậm chí cả vào phương pháp điều trị bệnh đái
tháo đường như ảnh hưởng của kiểm soát glucose máu, béo phì, tình trạng sử
dụng thuốc. Bệnh đái tháo đường typ 2 chưa được dùng insulin hoặc uống
thuốc hạ glucose máu thường tăng triglycerid máu và HDL-C thấp. Khi bắt
đầu sử dụng insulin hoặc sulfamid làm hạ glucose máu dẫn đến giảm VLDL
và tăng HDL-C [6],[32],[54].

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

13
Trong thực tế, tăng triglycerid máu và giảm mức HDL-C thường tồn tại
ở người đái tháo đường typ 2 đã được điều trị và đôi khi không phụ thuộc vào
mức độ kiểm soát glucose máu, những bất thường còn lại này được gọi là rối
loạn lipid trong đái tháo đường, chúng bao gồm các hạt LDL-C nhỏ, đậm đặc
đây là sự tích lũy tàn dư của các lipoprotein giàu triglycerid và các bất thường
trong thành phần của HDL-C. Tăng triglycerid máu là kết quả của tăng bài
tiết VLDL do quá trình dị hóa, VLDL có thể bị tổn thương mặc dù mức
lipoprotein lipase vẫn bình thường. Trong trường hợp này phần nhiều là do
hoạt tính của lipoprotein lipase bị giảm, ở những người bệnh dạng này thiếu
hụt insulin thường chiếm ưu thế và luôn đi kèm với kháng insulin
[6],[59],[61],[64].
Chuyển hóa LDL-C cũng bị rối loạn, với đái tháo đường typ 2 nhẹ

+ Thể trạng
+ Có lao động thể lực hay không
+ Tập quán ăn uống
+ Kinh tế gia đình
Dựa vào những yếu tố trên mà thầy thuốc có thể đưa ra những chế độ
ăn hợp lý cho người bệnh.
* Chế độ luyện tập
Mục đích nhằm điều chỉnh glucose máu thông qua việc làm giảm tình
trạng kháng insulin nhờ [31]:
+ Giảm cân nặng, nhất là những đối tượng thừa cân béo phì.
+ Giảm kháng insulin.
Những việc cần làm khi luyện tập:
+ Đánh giá sự kiểm soát glucose máu.
+ Có hay không các biến chứng của đái tháo đường
+ Tình trạng bàn chân và tuần hoàn vi mạch
+ Tình trạng đáy mắt
+ Hướng dẫn người bệnh trước và sau khi luyện tập.

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

15
1.5.2. Điều trị bằng viên hạ đường huyết [6].
Viên hạ glucose máu bao gồm có các nhóm thuốc sau:
* Sulphonylurea : sulphonylurea kích thích tụy tiết insulin. Tác động
làm giảm glucose trung bình 50-60mg/dl, giảm HbA1c tới 2%. Sulphonylurea
được dùng thận trọng với người già, người bị bệnh thận hoặc rối loạn chức
năng gan khi đó liều cần được giảm đi [6].
Các loại sulfonylurea:
- Thế hệ 1: Tolbutamid, Acetohexamid, Clopropamid.
- Thế hệ 2: Glibenclamid (Hemidaonil 2,5mg; Daonil 5mg), Gliclazide

Nghiên cứu của UKPDS cho thấy Metformin có tác dụng mạnh đối với
việc kiểm soát HbA1c, LDL-C, BMI [66].
* Nhóm ức chế α - glucosidase: Cơ chế tác dụng của thuốc không liên
quan đến sự bài tiết insulin ở tế bào beta của tụy mà thông qua sự ức chế α -
glucosidase ở bờ bàn chải niêm mạc ruột. Ngoài ra thuốc còn ức chế sachase,
glucoamylase, maltase ở ruột và làm giảm hấp thu đường. Các thuốc hiện
đang sử dụng là Glucobay 50 -100mg, Basen 0,2- 0,3mg, liều 25-100mg/mỗi
bữa ăn [6],[32].
* Meglitinide/Repaglinide : Những thuốc này kích thích tế bào beta
tuyến tụy tiết insulin. Có thể dùng đơn trị liệu hoặc phối hợp metformin,
insulin [6].
* Glitazone : Thuốc làm tăng nhạy cảm của cơ và tổ chức với insulin vì
vậy làm tăng thu nạp glucose từ máu . Thuốc làm tăng nhạy cảm của insulin ở
cơ vân, đồng thời ngăn cản quá trình bài tiết glucose từ gan. Nhóm này gồm
Pioglitazone, Rosiglitazone. Những thuốc này có thể dùng đơn độc hoặc phối
hợp với các loại thuốc uống khác hoặc insulin. Tác dụng phụ bao gồm tăng
cân, giữ nước, rối loạn chức năng gan. Khi dùng phải theo dõi chức năng gan
2 tháng một lần [6]. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

17
1.5.3. Điều trị bằng Insulin
Người bệnh đái tháo đường typ 1 phải được điều trị bằng insulin ngay,
người bệnh đái tháo đường typ 2 cũng cần điều trị bằng insulin khi tụy mất
khả năng bài tiết insulin dẫn đến thiếu hụt insulin, các trường hợp đái tháo
đường typ 2 mắc các nhiễm trùng nặng, nhồi máu cơ tim, tai biến mạch máu
não, cần phẫu thuật. Trong quá trình điều trị phải phối hợp chặt chẽ giữa điều
chỉnh chế độ ăn, chế độ luyện tập và liều lượng insulin [31].

điều chỉnh insulin phải dựa vào lượng đường máu hàng ngày. Việc thiết lập
chế độ luyện tập, chương trình làm việc phải được tính toán để có một chế độ
ăn, chế độ luyện tập phù hợp.
- Chế độ điều trị ngày một lần tiêm
Đối với người đái tháo đường typ 1 đây không phải là chế độ phổ biến,
chế độ này thường được áp dụng cho giai đoạn trăng mật, khi mà lượng
insulin do bản thân tế bào beta tiết ra còn có khả năng duy trì một phần nhiệm
vụ cân bằng đường máu.
Người ta có thể sử dụng insulin NPH đơn độc hoặc phối hợp với loại
nhanh (Regula =R) theo tỷ lệ khác nhau, hoặc 3/4 hoặc 2/3 (NPH/R), tùy theo
tình trạng bệnh và thời điểm tiêm thuốc.
- Chế độ ngày hai lần tiêm
+ Mũi tiêm buổi sáng, có thể có hai cách
Mũi tiêm buổi sáng là insulin tác dụng nhanh (Regula hoặc Lispro)
hoạt động mạnh nhất của insulin giữa bữa sáng và bữa trưa.
Mũi tiêm buổi sáng là insulin bán chậm (loại NPH hoặc Lente) hoạt
động mạnh nhất của insulin là vào khoảng thời gian giữa bữa sáng và bữa tối.
+ Mũi tiêm buổi tối: thường là loại insulin bán chậm, có tác dụng điều
hòa lượng đường máu ban đêm và sáng ngày hôm sau. Người ta thường chia
ra tỷ lệ khác nhau cho các mũi tiêm buổi sáng và buổi tối.
Chế độ tiêm ngày hai mũi có những lợi thế: giảm sự tăng đường máu
cơ sở và sau ăn, giảm đường máu qua đêm và buổi sáng.

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

19
Bất lợi hay gặp là: hạ đường máu và tăng đường máu thứ phát sau hạ
đường máu ban đêm (hiện tượng Dawn và hiệu ứng Somogyi).
- Chế độ ngày nhiều mũi tiêm
Trong chế độ này lượng insulin cơ bản chiếm tới 50% tổng liều insulin

+ Bữa ăn chính thường không đúng giờ.
+ Chọn loại insulin không phù hợp với sự phân bố bữa ăn.
+ Sang chấn tinh thần.
+ Uống rượu hoặc dùng các thuốc có ảnh hưởng đến sự thay đổi đường máu.
+ Mắc một bệnh nhiễm trùng.
+ Kỹ thuật tiêm insulin, vị trí tiêm có thể ảnh hưởng đến sự hấp thu.
+ Kỹ thuật kiểm tra đường máu.
Cân nhắc các yếu tố ảnh hưởng đến kết quả
+ Tăng đường máu lúc đói buổi sáng: Liều insulin bán chậm buổi sáng
quá lớn.
+ Hạ đường máu buổi chiều: liều insulin bán chậm buổi sáng quá lớn.
+ Hạ đường máu ban đêm: thường do liều insulin buổi chiều quá lớn
hoặc quá sớm.
- Theo dõi điều trị người bệnh đái tháo đường bằng insulin
Ban đầu việc theo dõi glucose máu được tiến hành đều đặn trong vài
ngày, vài tuần để điều chỉnh liều lượng. Sau khi đã kiểm soát được lượng
đương máu ở mức bình thường thì có thể kiểm tra glucose máu hàng tháng.
Định kỳ 3 tháng/1 lần phải kiểm tra toàn diện: tình trạng toàn thân, huyết áp,
đáy mắt, tình trạng bàn chân, xét nghiệm HbA
1
c.
- Sử dụng insulin trong những trường hợp đặc biệt
+ Trẻ em: Bệnh nhi là trẻ sơ sinh hoặc trẻ dưới 8 tuổi thường áp
dụng chế độ 1 mũi/ngày, dùng insulin bán chậm sẽ tránh được nguy cơ hạ
đường máu.

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

21
Bệnh nhi từ 8 tuổi trở lên nên áp dụng chế độ tiêm 2 mũi/ngày, kết hợp

+ Sulfonylurea + biguanid + insulin
Có rất nhiều cách điều trị phối hợp áp dụng cho tùy từng cơ thể, hiệu
quả điều trị phụ thuộc vào sự đáp ứng của từng cá thể và kinh nghiệm điều trị
của từng thầy thuốc. Ngày nay có rất nhiều loại thuốc từ những thuốc kinh
điển đến các thuốc mới đã được áp dụng vào điều trị.
1.6. Giá trị của HbA1c trong theo dõi điều trị bệnh đái tháo đƣờng
HbA1c được tạo thành từ phản ứng glycosyl hóa hemoglobin, phản ứng
không cần enzym. Tỷ lệ HbA1c phản ánh nồng độ glucose máu của bệnh

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

22
nhân trong thời gian 4 -8 tuần lễ trước thời điểm xét nghiệm. Ở người bình
thường HbA1c chiếm 4-6% tổng số hemoglobin huyết thanh, bệnh nhân đái
tháo đường HbA1c được coi là một tiêu chuẩn đánh giá kết quả điều trị.
HbA1c tăng cao là biểu hiện của mất cân bằng đường huyết kéo dài
[32],[34],[68].
Tỷ lệ HbA1c phản ánh nồng độ glucose máu ở thời gian 1-2 tháng
trước đó. Vì vậy việc xác định tỷ lệ HbA1c có ý nghĩa đánh giá nồng độ
glucose máu trước thời điểm xét nghiệm 2 -3 tháng, nhằm phát hiện sớm bệnh
nhân để điều trị, đánh giá kết quả điều trị, dự báo trước tình trạng thai sản, dự
báo nguy cơ biến chứng [32].
Tỷ lệ HbA1c ở bệnh nhân đái tháo đường từ 5-7% cho biết bệnh nhân
đã được ổn định, nếu HbA1c trên 9% tức là glucose máu của bệnh nhân
không được kiểm soát tốt từ 2-3 tháng trước đó. Trên bệnh nhân có glucose
máu cao, nếu điều trị tích cực giảm được glucose máu thì hàm lượng HbA1c
chỉ giảm sớm nhất sau 4 tuần điều trị. Ngày nay xét nghiệm HbA1c đã trở
thành một xét nghiệm thường quy và được xem là chỉ điểm chuẩn để đánh giá
kết quả kiểm soát glucose máu ở bệnh nhân đái tháo đường [31],[68].
Tuy nhiên, kết quả định lượng HbA1c sẽ bị ảnh hưởng bởi mốt số yếu tố:

điều trị nội trú đối với từng trường hợp cụ thể.
Một số kết quả nghiên cứu về quản lý, điều trị ngoại trú đái tháo đường
tại Việt Nam: Năm 2009 Nguyễn Thị Khang, Nguyễn Kim Lương nghiên cứu
trên 122 bệnh nhân được chẩn đoán xác định đái tháo đường typ 2 tại bệnh
viên C Thái Nguyên, được điều trị bằng Diamicron MR kết hợp với
Metformin, kết quả kiểm soát HbA1c tốt tăng từ 2,5% lên 35%; mức kém
giảm từ 86,9% xuống còn 33,6% sau 6 tháng điều trị [28].
Nghiên cứu của Lê Văn Chi, Trần Văn Trung (2010) tại bệnh viện
trung ương Huế cho kết quả nồng độ glucose máu trung bình từ 15,88 ± 6,09
sau khi điều trị giảm xuống còn 7,41 ± 3,92. Tỷ lệ kiểm soát glucose máu
mức tốt ở đối tượng phối hợp điều trị thuốc uống hạ đường huyết và insulin
44,9%; đối tượng dùng thuốc uống đơn trị liệu là 17,39% [7].

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

24
Nguyễn Ngọc Chất nghiên cứu tại Bình Định (2010) cho thấy kiểm
soát glucose mức tốt tăng từ 4,6% lên17,1%; kiểm soát HbA1c tăng từ 15,1%
lên 31,6% sau 6 tháng điều trị [8]. Đào Thị Dừa (2010) nghiên cứu tại bệnh
viện đa khoa trung ương Huế cho kết quả kiểm soát glucose máu lúc đói lần
lượt là tốt 26,67%; chấp nhận 55,09% và kém là 18,24% [10].
Tại Vĩnh Phúc, hiện nay công tác quản lý và điều trị đái tháo đường
ngoại trú đã được triển khai ở nhiều đơn vị y tế, công tác phòng chống đái
tháo đường đã thu được những kết quả nhất định, trong nghiên cứu này chúng
tôi tiến hành nghiên cứu trên 262 bệnh nhân điều trị ngoại trú tại phòng khám
nội tiết đái tháo đường bệnh viện đa khoa tỉnh Vĩnh Phúc. Hiện nay bệnh
nhân điều trị ngoại trú tại bệnh viện đa khoa tỉnh Vĩnh Phúc được áp dụng
điều trị theo 1 trong 6 phác đồ sau: Đơn trị liệu bằng một trong các thuốc
(Metformin, Diamicron MR, Insulin). Phối hợp Metformin và Diamicron
MR. Phối hợp Insulin và Metformin. Phối hợp Insulin với Diamicron MR.

pháp tăng glucose máu ≥ 11,1 mmol/l.
+ Loại khỏi đối tượng nghiên cứu các bệnh nhân mắc các bệnh về máu:
suy tủy, bệnh bạch cầu, huyết tán, xuất huyết giảm tiểu cầu, bệnh nhân thiếu
máu Hb < 11g/dl (nữ) , <12g/dl (nam) [32].
2.2. Thời gian và địa điểm nghiên cứu
- Thời gian: Từ tháng 3/2012 đến tháng 8/2012.
- Địa điểm: Bệnh viện Đa khoa tỉnh Vĩnh Phúc.
2.3. Phƣơng pháp nghiên cứu
2.3.1. Phương pháp nghiên cứu
Nghiên cứu mô tả, thiết kế nghiên cứu cắt ngang.
2.3.2. Kỹ thuật chọn mẫu
- Chọn mẫu có chủ đích.
- Cỡ mẫu : toàn bộ

Trích đoạn Chỉ tiêu nghiên cứu
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status