ĐÁNH GIÁ kết QUẢ CAN THIỆP GIÁO dục sức KHỎE về KIẾN THỨC CHĂM sóc bàn CHÂN của NGƯỜI BỆNH đái THÁO ĐƯỜNG điều TRỊ NGOẠI TRÚ tại BỆNH VIỆN đa KHOA TỈNH bắc NINH - Pdf 57

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y HÀ NỘI

BỘ Y TẾ

NGUYỄN THỊ THÙY VÂN

ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ CAN THIỆP GIÁO DỤC SỨC KHỎE
VỀ KIẾN THỨC CHĂM SÓC BÀN CHÂN CỦA NGƯỜI BỆNH
ĐÁI THÁO ĐƯỜNG ĐIỀU TRỊ NGOẠI TRÚ
TẠI BỆNH VIỆN ĐA KHOA TỈNH BẮC NINH

Chuyên ngành : Điều dưỡng
Mã số
: 60720501

ĐỀ CƯƠNG LUẬN VĂN THẠC SĨ

HÀ NỘI - 2018


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y HÀ NỘI

BỘ Y TẾ

NGUYỄN THỊ THÙY VÂN

ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ CAN THIỆP GIÁO DỤC SỨC KHỎE
VỀ KIẾN THỨC CHĂM SÓC BÀN CHÂN CỦA NGƯỜI BỆNH
ĐÁI THÁO ĐƯỜNG ĐIỀU TRỊ NGOẠI TRÚ

1.3.4. Nguyên nhân khác.............................................................................7
1.4. Triệu chứng của biến chứng bàn chân đái tháo đường................................................7

1.4.1. Các loại vết loét: Có 3 loại...............................................................8
1.4.2. Phân độ bàn chân theo wagner và Meggit.......................................9
1.5. Các nghiên cứu về kiến thức, thực hành chăm sóc bàn chân ĐTĐ đã được thực hiện
..................................................................................................................................10

1.5.1. Trên thế giới....................................................................................10
1.5.2. Tại Việt Nam....................................................................................11
1.6. Hậu quả của loét bàn chân ở bệnh nhân đái tháo đường [3].....................................11
1.7. Các biện pháp làm giảm biến chứng bàn chân..........................................................13

1.7.1. Kiểm soát đường máu, huyết áp.....................................................13
1.7.2. Kiến thức tự chăm sóc.....................................................................14
1.8. Một số yếu tố ảnh hưởng đến kiến thức về tự chăm sóc loét bàn chân.....................15


1.8.1. Giới.................................................................................................15
1.8.2. Tuổi.................................................................................................16
1.8.3. Thời gian mắc bệnh........................................................................16
1.8.4. Mức thu nhập..................................................................................16
1.8.5. Tôn giáo..........................................................................................16
1.8.6. Trình độ học vấn.............................................................................17
1.8.7. Tham gia các lớp học về phòng chống loét bàn chân.....................17
1.8.8. Nghề nghiệp....................................................................................18
CHƯƠNG 2.....................................................................................................19
ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU.....................................19
2.1. Đối tượng, địa điểm và thời gian nghiên cứu............................................................19



BCBC

Biến chứng bàn chân

BMI

Body Mass Index

BN

Bệnh nhân

CSBC

Chăm sóc bàn chân

ĐH

Đường huyết

ĐTĐ

Đái tháo đường

ĐTNC

Đối tượng nghiên cứu

IDF

ĐẶT VẤN ĐỀ
Bệnh đái tháo đường là bệnh rối loạn chuyển hóa không đồng nhất, có đặc
điểm tăng glucose huyết do khiếm khuyết về tiết insulin, liên quan đến tác động của
insulin, hoặc cả hai. Tăng glucose mạn tính trong thời gian dài gây nên những rối
loạn chuyển hóa carbohydrate, protide, lipid, dẫn đến gây tổn thương ở nhiều cơ
quan khác nhau, đặc biệt ở tim và mạch máu, thận, mắt, thần kinh.
Đái tháo đường còn là một bệnh mạn tính với những biến chứng nguy hiểm,
diễn biến phức tạp và có tỉ lệ tử vong cao . Loét bàn chân là một trong những biến
chứng mạn tính thường gặp ở bệnh nhân đái tháo đường, được khởi đầu từ những
vết thương rất đơn giản nhưng do lơ là thiếu chăm sóc mới tạo nên vết loét. Khi
xuất hiện loét bàn chân thì việc chăm sóc trở nên khó khăn, tốn kém và kết quả điều
trị thường không khả quan, dẫn đến hoại tử bàn chân và phải cắt cụt chi bệnh nhân.
Đây là một gánh nặng cho người bệnh, gia đình người bệnh, cho hệ thống chăm sóc
sức khỏe và nguồn lực của hệ thống y tế. Trong khi đó những biến chứng ở bàn
chân của bệnh nhân đái tháo đường có thể hạn chế, phòng ngừa được nếu người
bệnh có kiến thức và tự chăm sóc đôi bàn chân của mình. Với những bệnh nhân đã
có tổn thương bàn chân nếu đươc chăm sóc và điều trị đúng có thể giúp bệnh nhân
tránh được nguy cơ phải cắt cụt. Nguy cơ bị cắt cụt chi của người bệnh đái tháo
đường có thể giảm từ 49% đến 85% nếu có những biện pháp phòng ngừa đúng, giáo
dục cho người bệnh biết cách tự chăm sóc . Vấn đề điều trị và kiểm soát tốt đường
huyết của bệnh nhân đái tháo đường quan trọng bao nhiêu thì việc phòng ngừa các
biến chứng, nhất là biến chứng loét bàn chân đái tháo đường càng trở nên cấp thiết
bấy nhiêu.
Các hiệp hội về đái tháo đường trên thế giới đã đưa ra các chương trình
phòng chống loét bàn chân đái tháo đường và đã có rất nhiều nghiên cứu về kiến
thức cũng như hiệu quả giáo dục người bệnh về kiến thức chăm sóc đôi bàn chân
của mình trên thế giới. Tuy vậy, tại Việt Nam hiện nay có rất ít các nghiên cứu đặc


2

insulin hoặc do có liên quan đến sự suy yếu trong bài tiết và hoạt động của insulin”
Theo hiệp hội đái tháo đường Hoa Kỳ đã đưa ra định nghĩa về đái tháo
đường:“là rối loạn mạn tính, có những thuộc tính sau: (1) tăng glucose máu; (2)
kết hợp với những bất thường về chuyển hóa carbohydrat, lipid và protein; (3) bệnh
luôn gắn liền với xu hướng phát triển các bệnh lý về thận, đáy mắt, thần kinh và
các bệnh tim mạch khác”.
Tháng 1/2003 các chuyên gia thuộc ủy ban chẩn đoán và phân loại bệnh đái
đường Hoa Kỳ lại đưa ra một định nghĩa mới về bệnh đái tháo đường: “là một nhóm
các bệnh chuyển hóa có đặc điểm là tăng glucose máu, hậu quả của sự thiếu hụt bài
tiết insulin; khiếm khuyết trong hoạt động của insulin; hoặc cả hai. Tăng glucose
máu mãn tính thường kết hợp với sự hủy hoại, sự rối loạn chức năng và sự suy yếu
chức năng của nhiều cơ quan đặc biệt là mắt, thận, thần kinh, tim và mạch máu”.
1.1.2. Tiêu chuẩn chẩn đoán bệnh ĐTĐ
Bộ Y Tế ban hành năm 2014, tiêu chuẩn chẩn đoán bệnh ĐTĐ - WHO; IDF 2012, dựa vào một trong các tiêu chí:
- Mức glucose huyết tương lúc đói ≥ 7,0 mmol/l (≥126mg/dl). Hoặc:
- Mức glucose huyết tương ≥ 11,1 mmol/l (200mg/dl) ở thời điểm 2 giờ sau
nghiệm pháp dung nạp glucose bằng đường uống. Hoặc:
- HbA1c ≥ 6,5% (48 mmol/mol theo Liên đoàn Sinh hóa Lâm sàng Quốc tếIFCC). Hoặc:
- Có các triệu chứng của đái tháo đường (lâm sàng); mức glucose huyết tương
ở thời điểm bất kỳ ≥ 11,1 mmol/l (200mg/dl).
1.1.3. Định nghĩa bàn chân đái tháo đường


4
Bàn chân đái tháo đường theo định nghĩa của WHO và sự thống nhất của
nhóm chuyên gia quốc tế về bàn chân đái tháo đường là nhiễm trùng, loét và/ phá
hủy các mô sâu có kết hợp với những bất thường về thần kinh và các mức độ khác
nhau của bệnh mạch máu ngoại biên ở chi dưới .
1.2. Dịch tễ học
1.2.1. Trên thế giới

Ước tính rằng, vào thời điểm chẩn đoán bệnh đái tháo đường týp 2, hơn 10%
bệnh nhân có một hoặc hai yếu tố nguy cơ bệnh chân như bệnh lý thần kinh ngoại
biên (PN) hoặc bệnh mạch ngoại vi (PVD) . Gánh nặng bệnh tiểu đường chân được
dự kiến sẽ tăng lên khi tỷ lệ hiện mắc toàn cầu tăng lên của đái tháo đường type 2.
Trên toàn thế giới, 3% -10% người bị tiểu đường có loét chân (DFU); nguy cơ suốt
cuộc đời phát triển DFU là 15% . Tỷ lệ loét chân ở Châu Phi khác nhau giữa các
vùng và đã được ước tính là từ 4% đến 19% .
1.2.2. Tại Việt Nam
Ở Việt Nam, năm 1990 của thế kỷ trước, tỷ lệ bệnh ĐTĐ chỉ là 1,1% (ở
thành phố Hà nội), 2,25% (ở thành phố Hồ Chí Minh), 0,96% (thành phố Huế),
nghiên cứu năm 2012 của Bệnh viện Nội tiết trung ương cho thấy: tỷ lệ hiện mắc
ĐTĐ trên toàn quốc ở người trưởng thành là 5.42%, tỷ lệ đái tháo đường chưa được
chẩn đoán trong cộng đồng là 63.6%. Tỷ lệ rối loạn dung nạp glucose toàn quốc
7,3%, rối loạn glucose máu lúc đói toàn quốc 1,9% (năm 2003). Theo kết quả điều
tra STEPwise về các yếu tố nguy cơ của bệnh không lây nhiễm do Bộ Y tế thực hiện
năm 2015, ở nhóm tuổi từ 18-69, cho thấy tỷ lệ ĐTĐ toàn quốc là 4,1%, tiền ĐTĐ
là 3,6% .
ĐTĐ gây ra rất nhiều các biến chứng một trong số các biến chứng chiếm tỷ
lệ rất cao…% (TL tham khảo) là biến chứng loét bàn chân. Theo một thông báo của
WHO tháng 3 - 2005 cho thấy có tới 15% số người bị bệnh ĐTĐ có bệnh lý bàn
chân, 20% số người nhập viện do loét bàn chân. Trong số đó có 40 - 70% phải cắt
cụt chi không do chấn thương .
Tại Việt Nam tỷ lệ cắt cụt chi của người bị biến chứng bàn chân ĐTĐ cũng
khá cao chiếm khoảng 40% tổng số người có bệnh lý bàn chân ĐTĐ . Đối với bệnh
nhân ĐTĐ khi đã có biến chứng và phải cắt cụt chi, đây là một vấn đề nan giải cả về


6
mặt kinh tế, xã hội và y tế. Chi phí cho điều trị tăng cao do phải kiểm soát đường
huyết tốt, kèm theo kháng sinh phòng nhiễm khuẩn, chăm sóc bàn chân. Đặc biệt,

1.3.3. Nhiễm trùng
Bệnh nhân ĐTĐ có loét bàn chân nguy cơ tiến triển đến cắt cụt là 10 -30%
nhưng khi có nhiễm trùng thì tiên lượng cắt cụt lên đến 60% .
Lượng đường trong máu cao góp phần làm cho sự phát triển của vi khuẩn
được thuận lợi hơn. Do đó, các vết thương trên bệnh nhân đái tháo đường dễ bị
nhiễm trùng và lâu lành hơn so với người bình thường. Đồng thời, đường máu cao
và tuần hoàn máu kém làm cho các phản ứng bảo vệ chống nhiễm trùng ở các bệnh
nhân này diễn ra chậm hơn và kém hiệu quả hơn. Đa số các bệnh nhân đái tháo
đường ở Việt Nam là những người lao động trực tiếp tại các cánh đồng hoặc nhà
máy, họ tiếp xúc với nguồn vi khuẩn rất lớn, vì vậy chỉ cần một vết thương nhỏ
cũng có thể gây ra nguy cơ loét và lan rộng ổ nhiễm trùng.
1.3.4. Nguyên nhân khác
- Đi giày, tất không phù hợp dễ gây tổn thương cho bàn chân. Kèm với nó là
tổn thương mạch máu, làm mạch máu bị xơ cứng, máu đến nuôi những vùng xa cơ
thể như lòng bàn chân kém… quá trình lành vết thương kém.
- Bệnh nhân không kiểm soát được đường huyết thường suy giảm khả năng
đề kháng của cơ thể, làm tăng nguy cơ các biến chứng.
- Béo phì làm tăng áp lực lên bàn chân.
- Biến chứng về mắt trên bệnh nhân đái tháo đường dẫn đến giảm thị lực,
làm người bệnh dễ ngã, gây tổn thương bàn chân và khó phát hiện những biến đổi
trên bàn chân.
- Đa số trên bệnh nhân đái tháo đường có rối loạn mỡ máu, gây xơ vữa các
động mạch cấp máu cho chân.
1.4. Triệu chứng của biến chứng bàn chân đái tháo đường
- Thần kinh:
+ Cảm giác: nóng rát, châm chích, dị cảm, nhiều khi mất cảm giác đau, nóng
hoặc ngược lại đau buốt nhiều.
+ Triệu chứng ở bàn tay.
+ Vận động: yếu cơ.
+ Tự động: giảm tiết mồ hôi -> da khô, dày.

chai chân dễ hình thành và phát triển; rồi thiếu máu thêm vào đó sẽ hình thành ổ
loét và hoại tử.
+ Mép ổ loét do tổn thương thần kinh thường dày; nền vết loét có mô hạt
màu đỏ; dịch tiêt từ ít đến trung bình.
+ Bệnh nhân bị mất cảm giác đau.
+ Khám thấy mạch nảy
- Xử trí vết loét thần kinh:


9
+ Dùng miếng xốp rộng hơn vết thương 2 cm để làm giảm áp lực lên vùng
tổn thương.
+ Nếu vết loét có nhiều dịch thì không nên sử dụng đệm giảm áp.
+ Thoa gels vào chỗ da bị dày lên (lưu ý không thoa gels vào kẽ ngón chân).
+ Cắt lọc chai chân.
+ Không dùng loại băng kín.
+ Dùng miếng đệm phụ sẽ làm tăng áp lực và kín vết thương.
+ Giảm áp lực bằng đệm giảm áp, giày dép phù hợp, khuôn xơ chế.
+ Bệnh nhân cần được giữ chân khô ráo. Khi tắm hướng dẫn bệnh nhân rửa
riêng chân.
+ Bệnh nhân hạn chế đi lại.
* Loét do thiếu máu cục bộ:
- Dấu hiệu:
+ Thường xuất hiện ở các ngón chân và mép bàn chân.
+ Ổ loét khô, có mô hạt màu xanh xám hoặc đóng vảy
+ Bệnh nhân có cảm giác đau
+ Mạch đập yếu hoặc không sờ thấy
- Xử trí vết loét do bệnh lý mạch máu:
+ Gels được chống chỉ định khi có thiếu máu cục bộ
+ Không cắt lọc

Một nghiên cứu cắt ngang dựa vào cộng đồng của Dinesh về kiến thức và
phương pháp tự chăm sóc bệnh tiểu đường ở bệnh nhân tiểu đường tuýp 2 ở nông
thôn Sullia, Karnataka. Kết quả chỉ có 24,25% có kiến thức tốt. Trong số các
phương pháp chăm sóc bản thân, chăm sóc bàn chân là khu vực bị bỏ rơi nhiều nhất
. Cũng trong nghiên cứu khác khoảng 29,3% số người được hỏi có kiến thức tốt,
40% có kiến thức thỏa đáng và 30,7% có kiến thức kém về chăm sóc bàn chân.
Trong khi chỉ có 14% người trả lời có thực hành tốt về chăm sóc bàn chân, 54% có
thực hành thỏa đáng và 32% có thực hành kém .


11
Theo nghiên cứu của Desalu , Trong số 352 bệnh nhân tiểu đường, 30,1% có
kiến thức tốt và 10,2% có thực hành tốt về chăm sóc bàn chân. Đa số (78,4%) bệnh
nhân thực hành kém có kiến thức về chăm sóc bàn chân kém.
Một nghiên cứu nữa cho thấy 67,2% người bệnh có kiến thức kém về chăm
sóc bàn chân. Các vấn đề về chân như hoại tử, loét chân xảy ra ở 27,2% và điểm số
thấp hơn ở những người có các biến chứng này. Nói chung điểm số về nhận thức về
các nguyên tắc chung về chăm sóc chân và các sự kiện cơ bản về biến chứng chân
là rất thấp.
1.5.2. Tại Việt Nam
Nghiên cứu của Trần Thị Thanh Vân kết quả kiến thức chăm sóc bàn chân
ĐTĐ của BN đạt mức tốt chiếm tỷ lệ (84,5%), bệnh nhân có kiến thức ở mức độ
trung bình chiếm (12,2%), bệnh nhân cho kết quả về kiến thức chăm sóc bàn chân ở
mức kém chiếm tỷ lệ thấp (3,3%).
Theo nghiên cứu của Nguyễn Thị Bích Đào về kiến thức, thái độ và hành vi tự
chăm sóc bàn chân của người bệnh kết quả là 41,5% người bệnh có kiến thức đúng.
Nghiên cứu về các yếu tố liên quan đến hành vi chăm sóc bàn chân ở bệnh
nhân ĐTĐ type 2 tại Thái Nguyên tỷ lệ bệnh nhân có kiến thức tốt về chăm sóc bàn
chân là 21,3% .
1.6. Hậu quả của loét bàn chân ở bệnh nhân đái tháo đường [3]

đường và gấp 3 lần (32,2%) ở bệnh nhân cắt cụt chi dưới so với bệnh nhân không
có biến chứng bàn chân đái tháo đường (10,7%).
Việt Nam là một nước đang phát triển, việc tuyên truyền giáo dục cho BN
phòng chống biến chứng của bệnh ĐTĐ chưa được nổi bật, đặc biệt là BCBC.
Trong quá trình theo dõi 5 năm tại Bệnh viện Trung ương Huế, Nguyễn Hải Thủy
và cộng sự đã thấy rằng tỷ lệ bệnh lý chung của bàn chân ở bệnh nhân ĐTĐ là
9,8%. Năm 2004 tại Bệnh viện Nội tiết Trung ương, trong tổng số BN nhập viện tỷ
lệ loét bàn chân là 1,9% và tăng lên 4,1% vào năm 2007 . Nghiên cứu về BCBC của
Bệnh viện Nội tiết trung ương cho thấy người Việt Nam có BCBC vào viện ở những
giai đoạn muộn. Tỷ lệ cắt cụt chi do BCBC ở Việt Nam cũng rất cao, xấp xỉ 40%
trên tổng số người có biến chứng bàn chân ĐTĐ. Điều này dẫn đến những hậu quả


13
nặng nề, ngoài việc chi phí điều trị cao, thì thời gian điều trị ngoại trú cũng dài hơn
người bị ĐTĐ không bị BCBC trung bình là 2 tháng .
1.7. Các biện pháp làm giảm biến chứng bàn chân
1.7.1. Kiểm soát đường máu, huyết áp
Một nghiên cứu trên động vật về ảnh hưởng của tăng đường huyết trên sự
nhạy cảm của mô thiếu máu cục bộ đến hoại tử, sử dụng mô hình động vật chân sau
thiếu máu cục bộ nghiêm trọng. Nhà nghiên cứu gây ra cùng một mức độ thiếu máu
cục bộ ở cả chuột tăng đường huyết gây tăng bạch cầu và gây tăng đường huyết
bằng cách phục hồi các động mạch bên ngoài, xương đùi và các động mạch nguy
hiểm. Lưu lượng kế Doppler laser sau phẫu thuật của bàn chân thiếu máu cục bộ
cho thấy mức độ giảm tưới máu da ở cả hai động vật tăng đường huyết và
euglycemic. Tuy nhiên, nghiên cứu đã tìm thấy tỷ lệ hoại tử chân tay cao hơn đáng
kể ở chuột tăng đường huyết so với chuột euglycemic (71% so với 29%, hô hấp).
Trong nghiên cứu đã tiết lộ rằng tăng đường huyết mỗi lần làm tăng tính nhạy cảm
với hoại tử chân tay trong điều kiện thiếu máu cục bộ. Kết quả của nghiên cứu có
thể giúp hiểu rõ hơn về bệnh lý của các vết thương tiểu đường tiến triển và nhấn

tháo đường (khoảng tin cậy 95% 2,42 đến 3,92; p = 0,0001). Điều tra quan sát hồi
cứu hiện tại đã chứng minh sự kiểm soát đường huyết ảnh hưởng đến tỷ lệ biến
chứng sau mổ trong phẫu thuật mắt cá chân và phẫu thuật mắt cá chân .
Một nghiên cứu về áp lực xung và dự đoán bệnh loét chân trong bệnh tiểu
đường tuýp 2 (áp lực xung được tính toán là sự khác biệt giữa huyết áp tâm thu và
huyết áp tâm trương) cho thấy áp lực mạch tăng cao có liên quan đến tăng nguy cơ
bệnh động mạch ở chi dưới, tăng nguy cơ loét bàn chân ngay cả sau khi điều chỉnh
huyết áp trung bình. Trong thời gian theo dõi trung bình ± SD 4.2 ± 2.2 năm, có 86
vết loét. Sau khi điều chỉnh cho những người gây nhiễu, bệnh nhân ở nhóm tứ áp
cao nhất có nguy cơ bị loét bàn chân gấp 2,39 lần (95% CI 1,14-5,02) so với phần
còn lại của mẫu (P = 0,022) .
1.7.2. Kiến thức tự chăm sóc
Trong nghiên cứu của Đặng Thị Hằng Thi cho thấy tỷ lệ người bệnh biết các
yếu tố nguy cơ dẫn đến loét bàn chân chỉ đạt 34%, điều này phản ánh hiểu biết của
bệnh nhân về biến chứng bàn chân còn kém. Hơn nữa tỷ lệ người bệnh biết cách


15
phát hiện sớm biến chứng bàn chân bằng khám chân định kỳ và kiểm tra bàn chân
thường xuyên chỉ đạt 32,3%. Như vậy có thể thấy kiến thức về nhận biết dấu hiệu
sớm của loét bàn chân và cách phát hiện sớm biến chứng bàn chân giúp người bệnh
đi khám sớm là rất kém. Cũng trong nghiên cứu này khi xét mối tương quan giữa
kiến thức chung và thực hành chăm sóc bàn chân cho kết quả tỷ lệ thực hành chung
không đạt yêu cầu ở nhóm có kiến thức chung không đạt yêu cầu cao gấp 5,65 lần
so với nhóm có kiến thức chung đạt yêu cầu (p < 0,05). Như vậy những người bệnh
có kiến thức đạt yêu cầu thì thực hành tốt hơn những bệnh nhân có kiến thức chưa
đạt yêu cầu. Do đó cần tăng cường giáo dục kiến thức về bệnh đến người bệnh đái
tháo đường .
1.8. Một số yếu tố ảnh hưởng đến kiến thức về tự chăm sóc loét bàn chân
1.8.1. Giới

5 năm. Cụ thể là kiến thức đúng về chăm sóc bàn chân khi da bị khô, về việc lựa
chọn giầy cho bệnh nhân ĐTĐ cũng như vấn đề kiểm tra bàn chân hàng ngày và
vấn đề điều trị khi có loét bàn chân ở nhóm bệnh nhân ĐTĐ ≥ 5 năm cao gấp 2 -3
lần so với nhóm ≤ 5 năm.
Bên cạnh đó có một số nghiên cứu lại cho kết quả đó là chưa có sự khác biệt
có ý nghĩa thống kê về thời gian mắc bệnh như nghiên cứu của Trần Thị Thanh Vân
và thời gian mắc bệnh đái tháo đường có mối liên quan không đáng kể với kiến
thức và hành vi chăm sóc bàn chân trong nghiên cứu của Nguyễn Tiến Dũng .
1.8.4. Mức thu nhập
Từ kết quả của một nghiên cứu cho thấy thu nhập bình quân đầu người không
có mối liên hệ thống kê đáng kể với kiến thức và thực tiễn về chăm sóc chân .
1.8.5. Tôn giáo
Một số nước thế giới thứ ba do niềm tin văn hoá - xã hội, phụ nữ không
được phép đạt được trình độ học vấn cao hơn so với nam giới trong gia đình, dẫn
đến kết quả là phụ nữ ít hiểu biết về chăm sóc chân đái tháo đường. Nghiên cứu này
cũng cho thấy một tỷ lệ rất nhỏ bệnh nhân tiểu đường (10,2%) có thực hành tốt về
chăm sóc chân tiểu đường trong khi gần một nửa (49,4%) có thực hành chăm sóc
chân tiểu đường kém .


17
Một nghiên cứu cắt ngang dựa vào cộng đồng về kiến thức và thực hành tự
chăm sóc bệnh tiểu đường ở những bệnh nhân mắc bệnh tiểu đường tuýp 2 ở nông
thôn Sullia, Karnataka: Phần lớn trong số họ là tôn giáo Hindu và thuộc tầng lớp
trung lưu, thượng lưu chỉ 24,25% trong số họ có kiến thức tốt .
1.8.6. Trình độ học vấn
Mù chữ đã gây ra những thách thức đáng kể đối với sự chú ý của bệnh đái
tháo đường và gây ra các biến chứng ở chân . Bệnh nhân mù chữ ít có khả năng
thực hiện chăm sóc chân (p = 0.002), nhận ra các yếu tố nguy cơ chân (p = 0.004),
sử dụng giày dép thích hợp (p = 0.010) và hoạt động thể chất (p
chân và tự hiệu quả của bệnh nhân bị loét chân do tiểu đường . Kết quả cho thấy sự
khác biệt có ý nghĩa thống kê (p


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status