hiệu quả truyền thông giáo dục sức khỏe liên kiến thức thực hành về bệnh sỏi thận của người dân xã an lão huyện bình lục tỉnh hà nam - Pdf 37

B GIO DC V O TO

B Y T

TRNG I HC Y H NI

PHM TH DIM QUNH

HIệU QUả CAN THIệP TRUYềN THÔNG GIáO DụC SứC KHỏE
LÊN KIếN THứC, THựC HàNH Về BệNH SỏI THậN CủA
NGƯờI DÂN Xã AN LãO, HUYệN BìNH LụC, TỉNH Hà NAM

KHểA LUN TT NGHIP BC S Y KHOA
KHểA 2010 - 2016

NGI HNG DN KHOA HC:
PGS.TS.NGUYN VN HIN

H NI 2016
LI CM N


Em xin chân thành cảm ơn Đảng ủy, Ban giám hiệu, Phòng đào tạo đại
học và toàn thể các thầy cô giáo trường Đại học Y Hà Nội đã tận tình dạy dỗ
và chỉ bảo cho em trong suốt sáu năm học tập tại trường.
Em xin gửi lời cảm ơn tới toàn thể thầy cô Bộ môn Giáo dục sức khỏe
- Viện Đào tạo Y học Dự phòng và Y tế công cộng - Trường Đại học Y Hà
Nội đã tạo mọi điều kiện thuận lợi và giúp đỡ em hoàn thành bản khóa luận
của mình.
Em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới PGS.TS Nguyễn Văn Hiến, cùng
PGS.TS Lê Thị Tài đã luôn tận tình hướng dẫn chỉ bảo, đôn đốc và giúp đỡ


-

Hội đồng chấm luận văn tốt nghiệp.
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu được tiến hành nghiêm

túc, trung thực. Kết quả nghiên cứu chưa được công trong công trình, tài liệu
nào. Số liệu của luận văn là một phần của đề tài Độc lập cấp Nhà nước:
“Nghiên cứu thực trạng, xây dựng mô hình dự báo, kiểm soát một số
nhóm bệnh có liên quan đến biến đổi khí hậu ở Việt Nam” do PGS.TS Lê
Thị Tài làm chủ nhiệm. Tôi đã được chủ nhiệm đề tài cho phép tham gia và
sử dụng số liệu để thực hiện luận văn tốt nghiệp.
Người cam đoan

Phạm Thị Diễm Quỳnh


DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
BĐKH:

Biến đổi khí hậu.

CBYT:

Cán bộ y tế.

CSHQ:

Chỉ số hiệu quả.


Nghiên cứu

TT-GDSK:

Truyền thông - Giáo dục sức khỏe.


MỤC LỤC


DANH MỤC BẢNG


DANH MỤC BIỂU ĐỒ


DANH MỤC HÌNH ẢNH


9

ĐẶT VẤN ĐỀ
Sỏi thận tiết niệu là tình trạng bệnh lý đã được đề cập đến từ rất lâu
trong y văn và là một bệnh thường gặp, dễ gây biến chứng như nhiễm trùng,
suy thận cấp hoặc mạn tính và rất dễ tái phát.
Suy thận mạn tính là biến chứng nguy hiểm gây nên do tiến triển của
sỏi thận, hẹp tắc đường tiết niệu, theo thống kê của Derot là 8%, Legrain là
16%. Ở Việt Nam biến chứng suy thận mạn tính do sỏi gặp tương đối nhiều
tại khoa phẫu thuật Bệnh viện Việt Đức. Yếu tố nhiễm trùng làm bệnh sỏi
thận nặng thêm, nếu không được phát hiện sớm và dự phòng bệnh sỏi thận có

phòng chống các bệnh có liên quan đến biến đổi khí hậu, trong đó có nghiên
cứu về bệnh sỏi thận, nhưng các nghiên cứu được thực hiện còn rất ít. Hiện nay
chủ yếu các nghiên cứu về bệnh sỏi thận là các nghiên cứu trong lĩnh vực lâm
sàng nhằm đánh giá hiệu quả của các biện pháp can thiệp điều trị sỏi thận.
Thực tế kiến thức của người dân biết về bệnh sỏi thận khá cao, nhưng thực
hành đúng của người dân để phòng bệnh sỏi thận thì còn nhiều hạn chế. Theo
nghiên cứu của Phùng Thị Thảo, tỷ lệ người dân biết đến bệnh sỏi thận là
83,9% trong đó 24% cho rằng bệnh sỏi thận có liên quan đến thời tiết. Tuy
nhiên, tỷ lệ người dân cho rằng có thể phòng tránh được bệnh sỏi thận bằng
uống nhiều nước còn ít (chưa đến 50%) [8]. Hoạt động truyền thông giáo dục
sức khỏe (TT-GDSK) qua việc cung cấp các kiến thức, hướng dẫn, hỗ trợ thực
hành giúp cho mọi người có thể: hiểu biết và nhận ra được vấn đề và nhu cầu
chăm sóc và bảo vệ sức khỏe chính họ; nhận rõ trách nhiệm cá nhân và cộng
đồng trong chăm sóc và bảo vệ sức khỏe; hiểu được những việc có thể làm để
giải quyết vấn đề sức khỏe của cá nhân và cộng đồng bằng chính nỗ lực cá
nhân, nhóm và cộng đồng; quyết định hành động thích hợp nhất để bảo vệ và
nâng cao sức khỏe [9]. Do đó mà TT-GDSK ảnh hưởng không nhỏ không
những đến việc phòng, chống bệnh sỏi thận mà còn nhiều bệnh khác tại cộng
đồng. Xuất phát từ nhu cầu thực tiễn, để góp phần trả lời các câu hỏi này,
chúng tôi tiến hành đề tài nghiên cứu: “Hiệu quả can thiệp truyền thông giáo
dục sức khỏe lên kiến thức, thực hành về bệnh sỏi thận của người dân tại
xã An Lão, huyện Bình Lục, tỉnh Hà Nam” với các mục tiêu như sau:
1. Mô tả kiến thức, thực hành liên quan đến bệnh sỏi thận của người dân
xã An Lão, huyện Bình Lục, tỉnh Hà Nam năm 2015.
2. Đánh giá một số hiệu quả can thiệp truyền thông giáo dục sức khỏe
đến kiến thức, thực hành về bệnh sỏi thận của người dân tại xã An Lão,
huyện Bình Lục, tỉnh Hà Nam năm 2014- 2015


11

-

Nhu mô thận gồm hai phần: vùng vỏ ngoài, vùng tủy ở trong bao quanh xoang
thận. Cầu thận nằm chủ yếu ở vùng vỏ thận, ống thận chủ yếu nằm sâu vào trong
tủy thận. Tháp Malpighi được tạo bởi các ống góp tạo thành khối hình nón mà
đỉnh quay về phía xoang thận, đáy hướng về phía vỏ thận.


13

Hình 1.3: Sơ đồ vị trí thường gặp sỏi thận
1.1.2. Khái quát về bệnh sỏi thận
Sỏi thận là một hiện tượng chất khoáng trong nước tiểu lắng đọng lại ở
thận, lâu ngày kết lại tạo sỏi. Sỏi thận là một trong những nguyên nhân phổ
biến dẫn đến suy thận. Sỏi thận được hình thành khi lượng nước tiểu quá ít
hay nồng độ chất khoáng trong nước tiểu tăng cao, lắng đọng lại ở thận, lâu
ngày tạo thành sỏi [10].
Nếu sỏi thận nhỏ, có thể tự đẩy ra ngoài theo đường nước tiểu. Nhưng
nếu sỏi thận lớn, viên sỏi di chuyển cọ xát vào đường niệu có thể gây ra
những cơn đau lưng, tiểu ra máu. Nếu sỏi thận bị kẹt trong cuống đài thận,
gây bế tắc, làm giãn nở và tạo ra áp lực tác động lên dây thần kinh thận và vỏ
thận gây ra cơn đau quặn thận… Sỏi có thể làm tắc nghẽn đường tiểu và giảm
chức năng co bóp đường tiểu gây nên các lỗ rò ở bàng quang, niệu quản gây
ra suy thận [11]. Sỏi có thể gặp ở nhiều vị trí khác nhau của hệ tiết niệu, tùy
theo vị trí của sỏi mà trên lâm sàng sẽ có các tên gọi khác nhau như: sỏi nhu
mô thận, sỏi bể thận, sỏi niệu quản, sỏi bàng quang [12].
Những bệnh nhân bị sỏi thận nếu không được điều trị sớm và kịp thời,
sẽ có nguy cơ bị suy thận và nguy hiểm đến tính mạng.



Giới:


15

Sỏi thận thường gặp ở nam giới có tỷ lệ mắc cao hơn nữ từ 2 - 3 lần [12].
Tại Mỹ, có khoảng 12% ở nam và 7% ở nữ sẽ bị sỏi thận ở một giai
đoạn nào đó trong cuộc đời. Nam giới bị ảnh hưởng tới sức khỏe do sỏi thận
nhiều hơn phụ nữ [16].
-

Di truyền
Tiền sử gia đình bị sỏi thận cũng là yếu tố nguy cơ của sự hình thành

sỏi. Nếu trong gia đình có sỏi thận, nhiều khả năng để phát triển các loại sỏi
và nếu đã có một hay nhiều, đang có nguy cơ phát triển khác.
-

Dị dạng bẩm sinh
Các dị dạng thường gặp như: hẹp chỗ nối niệu quản bể thận, phùng to

niệu quản,niệu quản đôi…là nguyên nhân thuận lợi tạo sỏi do ứ đọng nước
tiểu và nhiễm khuẩn [17].
1.1.3.2. Yếu tố ngoại sinh
- Địa lý, khí hậu
Mối liên quan giữa yếu tố địa lý, khí hậu và nguy cơ mắc bệnh sỏi thận
là một mối liên quan rất phức tạp và chưa có cơ chế rõ ràng. Những người
sinh sống ở những nơi khí hậu nóng và khô cằn tỷ lệ mắc sỏi cao hơn. Hiện
nay vấn đề biến đổi khí hậu có ảnh hưởng đến bệnh sỏi thận.
Nghiên cứu của Tasian và cộng sự trên 60.000 người dân Mỹ, đã đưa

-

Nguồn nước
Tại Việt Nam thường sử dụng ba nguồn nước, đó là: nước mưa; nước

bề mặt gồm ao, hồ…; và nước ngầm. Nước bề mặt thường không có độ cứng
cao như nước ngầm. Nước cứng gây ảnh hưởng tới sức khỏe và chất lượng
cuộc sống. Nước cứng là nước mà trong thành phần có sự góp mặt của các
muối Ca và Mg, vượt quá tiêu chuẩn cho phép. Do đó sử dụng nước cứng làm
tăng nguy cơ gây bệnh sỏi thận [20].
1.1.4. Các biến chứng thường gặp của sỏi thận.
Các biến chứng thường gặp nhất của sỏi thận tiết niệu là nhiễm trùng
đường thận tiết niệu (42% bệnh nhân). Biến chứng nặng cũng gặp ở một tỷ lệ
đáng kể, đặc biệt nhất là tình trạng suy thận chiếm 62,6% bệnh nhân trong đó
có 20,2% bệnh nhân suy thận độ IIIb và IV [14].


17

1.2. Tình hình mắc bệnh sỏi thận trên thế giới và Việt Nam
1.2.1. Tình hình mắc bệnh sỏi thận trên thế giới
Sỏi thận là một trong các bệnh không lây nhiễm, theo ước tính của
WHO, có khoảng 58 triệu trường hợp tử vong năm 2005. Trong đó có khoảng
35 triệu trường hợp (tương ứng với 60%) là do bệnh không lây nhiễm [21].
Sỏi thận là một bệnh phổ biến và đang gia tăng trên nhiều nước. Theo
nghiên cứu trên thế giới, bệnh sỏi thận làm giảm từ 10 - 12% tuổi thọ của nam
giới và 5 - 6% ở phụ nữ [4].
Ở những vùng công nghiệp phát triển, sỏi thận thường gặp là sỏi bàng
quang. Ngược lại, ở những nước đang phát triển thì sỏi thận thường gặp là sỏi
đường tiết niệu [3].

Để phòng bệnh sỏi thận, có 55,7% người dân uống nhiều nước; thực hiện ăn ít
muối, ăn nhiều rau, rèn luyện thể lực chiếm 20% [19].
Theo một nghiên cứu, tần suất mắc bệnh sỏi mật ở người ≥ 50 tuổi ở
thành phố Hồ Chí Minh là 6,3% [22].
Trong nghiên cứu của Nghiêm Cẩm Tú Trang năm 2008, tại 2 xã thuộc
tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu cho thấy có 83,9% đối tượng nghiên cứu quan tâm
những ảnh hưởng của sỏi thận đến sức khỏe [23].
1.3. Một số khái niệm liên quan đến truyền thông giáo dục sức khỏe
1.3.1. Khái niệm về truyền thông
Shannon và Weaver (1949) định nghĩa truyền thông là tất cả những gì
xảy ra giữa hai hoặc nhiều người. Davis và Newstrom (1985) định nghĩa
truyền thông là “Truyền thông tin và giải thích thông tin từ một người đến
những người khác”. Truyền thông là cầu nối giữa người với người, là hoạt
động thường xuyên hằng ngày của mỗi người. Như vậy truyền thông là hoạt
động không thể thiếu trong cuộc sống xã hội. Trong xã hội mạng lưới truyền
thông có thể đơn giản (từ một người đến một người) và cũng có thể rất phức
tạp (từ một người đến nhiều người hay nhiều người đến nhiều người)


19

Johnson (1986) coi truyền thông là phương tiện qua đó một người chuyển
thông điệp của mình đến người khác và mong nhận được sự đáp lại (thông
tin phản hồi) [24].
1.3.2. Khái niệm về truyền thông giáo dục sức khỏe
Truyền thông giáo dục sức khỏe là quá trình tác động có mục đích, có
kế hoạch đến người dân, giúp họ nâng cao sự hiểu biết để thay đổi thái độ,
chấp nhận và duy trì thực hiện những hành vi lành mạnh, có lợi cho sức khỏe
cá nhân và cộng đồng. GDSK là một phần chính, quan trọng nâng cao sức
khỏe nói riêng và công tác chăm sóc sức khỏe nói chung [25].

mong đợi, đem lại lợi ích và đạt mục tiêu bảo vệ và chăm sóc sức khỏe.
Mục đích quan trọng nhất của hoạt động can thiệp chăm sóc sức khỏe,
trong đó có TT-GDSK là làm cho đối tượng có hành vi đúng đắn trong vấn đề
bảo vệ sức khỏe cho bản thân, gia đình và toàn xã hội. Ví dụ về thực hành
bệnh quan trọng trong bảo vệ sức khỏe: chương trình tiêm chủng mở rộng cho
trẻ em và phụ nữ mang thai, đã mang lại rất nhiều lợi ích cho cá nhân và cộng
đồng, một số bệnh nguy hiểm đã được thanh toán và không chế như bại liệt,
uốn ván, bạch hầu...
Cụm từ “thực hành” trong đời sống thực tế rất đa dạng và phong phú.
Vì vậy mà nhu cầu đào tạo thực hành đúng về phòng bệnh, chữa bệnh, chăm
sóc và bảo vệ sức khỏe cho mỗi người, cho mỗi gia đình và cả cộng đồng là
rất cần thiết.
1.3.5. Ý nghĩa của việc nghiên cứu về kiến thức, thái độ, thực hành trong
truyền thông giáo dục sức khỏe
Hiện nay có rất nhiều các vấn đề sức khỏe cộng đồng cần được quan tâm
giải quyết. Một trong các giải pháp được chọn là thực hiện truyền thông giáo
dục sức khỏe (TT-GDSK) cùng với các can thiệp khác, nhằm tác động vào 3
lĩnh vực của đối tượng về vấn đề sức khỏe. Đó là tác động nhằm nâng cao
kiến thức (K) hay hiểu biết của đối tượng về vấn đề sức khỏe, tác động vào


21

thái độ (A) nhằm làm cho đối tượng có thái độ tích cực, quan tâm đúng mức
đến tìm hiểu các biện pháp giải quyết vần đề và tác động vào thực hành (P)
làm cho đối tượng thực hành các hành vi mong muốn để giải quyết được vấn
đề của họ. Nói ngắn gọn là các chương trình và hoạt động TT-GDSK đều
nhằm tác động vào KAP của đối tượng về vấn đề sức khỏe mà họ đang phải
đối mặt. Như vậy muốn làm thay đổi và đánh gía được các thay đổi về KAP
của đối tượng thì việc tìm hiểu KAP của đối tượng trước khi can thiệp, cũng

1.4. Một số nghiên cứu về kiến thức, thái độ thực hành về bệnh sỏi thận
Theo tác giả Miranda Hitti cảnh báo khí hậu nóng có thể làm cho bệnh
sỏi thận ở Hoa Kỳ tăng lên theo nghiên cứu của các tác giả của Trường Đại học
Texas và Trung tâm Y học khu vực Tây Nam của Trường Đại học Texas ở
Dallas [27]. Giả thuyết của các nhà nghiên cứu là do nhiệt độ nóng lên nhiều
nước bị mất, làm cho sỏi thận dễ xảy ra hơn. Tác giả Vahe Bakunts nghiên cứu
kiến thức, thái độ và thực hành về dự phòng bệnh sỏi thận tại Yerevan Armenia
năm 2011 [28]. Kết quả nghiên cứu trên 96 bệnh nhân đã điều trị tại khoa thận
viện ngoại khoa Mikaelyan trong thời gian năm 2009-2011 cho thấy có 54% số
người đang bị sỏi thận vào thời gian nghiên cứu, 94,4% đã được tiếp nhận các
thông tin về phòng sỏi thận thường xuyên. Điểm trung bình về kiến thức của
đối tượng nghiên cứu là 15,6/19 với độ lệch chuẩn (SD) là 1,8. Có 67% cho là
khẩu phần ăn đặc biệt có thể phòng được sỏi thận. Điểm thực hành trung bình
về phòng sỏi thận thấp 9,1/19 với độ lệch chuẩn SD là 1,2. Thực hành phổ biến
là tập quán ăn rau hàng ngày: 83,3%, sử dụng hoa quả tươi: 71,9%; uống trên 2
lít nước mỗi ngày: 79,1%; giảm muối 73,3%; giảm thực phẩm béo 81,2%. Chỉ
có khoảng 1/4 đối tượng đề cập đến uống thuốc dự phòng bệnh sỏi thận. Kết
quả phân tích hồi quy đơn biến cho thấy điểm kiến thức và thời gian bị bệnh có
mối liên quan với điểm thực hành (p
huyện: Ý Yên, Vụ Bản và Mỹ Lộc. Trong địa bàn huyện có các con sông nhỏ
như: sông Sắt, sông Liêm Phong (trên ranh giới với huyện Thanh Liêm),...
đều là các sông nhánh của sông Châu Giang và sông Đáy, thuộc hệ thống
sông Hồng. Huyện Bình Lục có điều kiện khí hậu mang đầy đủ các đặc trưng
chung của khí hậu tỉnh Hà Nam.

Bản đồ huyện Bình Lục tỉnh Hà Nam


25

An Lão là xã thuộc huyện Bình Lục, tỉnh Hà Nam. Xã An Lão có diện
tích 11,9km2, dân số khoảng 14000 người, mật độ dân số đạt 928 người/1km2.
Xã An Lão cách trung tâm huyện Bình Lục 10km, có hơn 3600 hộ, 12 nghìn
nhân khẩu, sinh sống ở 11 thôn. Xã có gần 1200 ha đất tự nhiên, trong đó,
hơn 900ha là đất nông nghiệp.
Khí hậu
Hà Nam có điều kiện thời tiết, khí hậu mang đặc trưng của khí hậu
nhiệt đới gió mùa, nóng và ẩm ướt.
Nhiệt độ trung bình hàng năm vào khoảng 23-24oC, số giờ nắng trung
bình khoảng 1300-1500 giờ/năm. Trong năm thường có 8-9 tháng có nhiệt độ
trung bình trên 20oC (trong đó có 5 tháng có nhiệt độ trung bình trên 25 oC) và
chỉ có 3 tháng nhiệt độ trung bình dưói 20 oC, nhưng không có tháng nào nhiệt
độ dưới 16oC.
Hai mùa chính trong năm (mùa hạ, mùa đông) với các hướng gió thịnh
hành: về mùa hạ gió nam, tây nam và đông nam; mùa đông gió bắc, đông và
đông bắc.
Khí hậu có sự phân hóa theo chế độ nhiệt với hai mùa tương phản nhau
là mùa hạ và mùa đông cùng với hai thời kỳ chuyển tiếp tương đối là mùa
xuân và mùa thu. Mùa hạ thường kéo dài từ tháng 5 đến tháng 9, mùa đông


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status