Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
1 ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM
oo0oo PHAN THỊ THU HƢƠNG SỬ DỤNG KÊNH HÌNH TRONG DẠY HỌC
ĐỊA LÍ LỚP 10 THPT – BAN CƠ BẢN CHUYÊN NGÀNH: LL & PP DẠY HỌC ĐỊA LÍ
Mã số: 601410
LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC GIÁO DỤC
Ngƣời hƣớng dẫn khoa học
TS: NGUYỄN PHƢƠNG LIÊN Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
3
tượng Địa lí, trên cơ sở đó hình thành các khái niệm Địa lí, đồng thời học sinh
học tập tích cực, chủ động sáng tạo hơn trong việc tiếp thu tri thức. Dạy học
địa lí không chỉ là truyền đạt kiến thức và mô tả các sự vật hiện tượng địa lí
mà còn giúp HS biết cách biết phân tích, so sánh, tổng hợp, giải thích…
những sự khác biệt của các sự vật hiện tượng địa lí, đồng thời chỉ ra được mối
quan hệ giữa chúng. Sử dụng kênh hình sẽ giúp GV thực hiện công việc đó dễ
dàng hơn. Sử dụng kênh hình trong giảng dạy chính là việc tìm ra những cách
thức sử dụng chúng làm phong phú hơn bài giảng, tạo hứng thú cho các em
học tập, như vậy đã đem lại hiệu quả to lớn trong dạy và học.
Trên cơ sở kế thừa các kết quả nghiên cứu trước và nhận thức được
hiệu quả của việc sử dụng kênh hình trong dạy học Địa lí, phát huy tính tích
cực của kênh hình, tôi đã chọn đề tài “ Sử dụng kênh hình trong dạy học
địa lí lớp 10 – ban cơ bản” nhằm đưa ra một số những kinh nghiệm của bản
thân, góp phần vào việc trao đổi làm phong phú phương pháp dạy học Địa lí
nói chung và phương pháp dạy học Địa lí lớp 10 THPT nói riêng.
2. Mục tiêu, nhiệm vụ nghiên cứu.
2.1. Mục tiêu
Trên cơ sở nghiên cứu những vấn đề lí luận và thực tiễn của việc sử
dụng kênh hình, phân tích hệ thống kênh hình trong SGK Địa lí lớp 10, đề
xuất các phương pháp sử dụng kênh hình trong dạy học Địa lí lớp 10.
2.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục tiêu nghiên cứu đề ra, đề tài thực hiện các nhiệm vụ
sau đây:
- Nghiên cứu cơ sở lí luận và thực tiễn của việc sử dụng kênh hình trong
SGK Địa lí lớp 10 – ban cơ bản.
- Tìm hiểu các phương pháp sử dụng kênh hình trong dạy học Địa lí lớp
10 THPT – ban cơ bản.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
5
- Điều tra, khảo sát lấy ý kiến của giáo viên (GV) và học sinh (HS)
nhằm tìm hiểu thực trạng việc sử dụng kênh hình trong dạy học địa lí ở phổ
thông hiện nay.
- Tiến hành thực nghiệm sư phạm để kiểm chứng những nghiên cứu lí
thuyết của đề tài.
5. Lịch sử nghiên cứu.
Ứng dụng các phương pháp dạy học địa lí nói chung cũng như sử dụng
kênh hình trong dạy học địa lí nói riêng đã được các giáo viên và các nhà
khoa học quan tâm, nghiên cứu, và được đề cập qua các tài liệu như:
- Tiến sĩ Hoàng Việt Anh, Vn dụng phương pháp Graph vo giảng
dạy địa lí lớp 6 v lớp 8, Luận án tiến sĩ khoa học giáo dục, năm 1993.
- PGS.TS Nguyễn Trọng Phúc, Phương pháp sử dụng các phương tiện
dạy học địa lí ở trưng phổ thông, NXB Giáo Dục, năm 1998.
- PGS.TS Nguyễn Trọng Phúc, Phương tiện, thiết bị k thut trong dạy học
địa lí, NXB Đại học quốc gia Hà Nội, năm 2000
- Nguyễn Đức Vũ, Phạm thị Sen, Đổi mới phương pháp dạy học Địa lí
ở THPT, NXB Giáo Dục, năm 2004.
- ThS. Nguyễn Thị Dung, Phương pháp khai thác kênh hnh trong dạy học
địa lí lớp 11 THPT theo hướng tích cc, Luận văn thạc sĩ Khoa học giáo
dục, 2005.
- Nguyễn Dược, Nguyễn Trọng Phúc, Lí lun dạy học Địa Lí, NXB
Giáo Dục, năm 2006.
- Ths. Hà Phúc Thuận, Vn dụng mt số phương pháp dạy học tích cc
trong môn Địa lí 10 THPT tại tỉnh Yên Bái, Luận văn thạc sĩ Khoa học giáo
dục, 2009.
- PGS-TS Lâm Quang Dốc, Nguyễn Quang Vinh, Hướng dẫn sử dụng
PHẦN 2
NỘI DUNG VÀ KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
Chƣơng 1:
CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIẾN CỦA VIỆC SỬ DỤNG KÊNH HÌNH
TRONG DẠY HỌC ĐỊA LÍ LỚP 10 – BAN CƠ BẢN.
1.1. Cơ sở lí luận
1.1.1 Khái niệm về kênh hình
Có rất nhiều quan niệm khác nhau về kênh hình. Hiện nay, khái niệm
kênh hình vẫn chưa hoàn toàn thống nhất. Một số tác giả coi kênh hình là
phương tiện phục vụ cho dạy học địa lí. Một số khác thì cho rằng đây là
phương tiện trực quan, là các vật tượng trưng và các vật tạo hình được sử
dụng để dạy Địa lí. Lại có tác giả coi kênh hình là những mô hình vật chất
được dựng lên một cách nhân tạo, giống đối tượng gốc về một số mặt nhất
định, qua đó nó giúp ta nghiên cứu đối tượng khi không có điều kiện tri giác
trực tiếp.
Tuy nhiên, trong giới hạn nghiên cứu của luận văn là tìm hiểu về sử
dụng kênh hình trong dạy học Địa lí lớp 10 – BCB thì chúng ta có thể hiểu
Kênh hình như sau:
“Kênh hình là một hệ thống các bản đồ, lược đồ, tranh ảnh, bảng số liệu
thống kê, biểu đồ…bổ sung, minh họa cho các bài viết (kênh chữ). Nhiệm vụ
chủ yếu của nó không chỉ là minh họa cho bài học mà có giá trị tương tương
với kênh chữ, là một nguồn thông tin dưới dạng trực quan” [8].
Kênh hình trong SGK vừa là nguồn tài liệu minh họa vừa là nguồn tri
thức quan trọng giúp cho quá trình dạy học đạt hiệu quả cao hơn. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
8
9
+ Átlat giáo khoa địa lí: là tập bản đồ thu nhỏ hoàn chỉnh thể hiện các
nội dung khác nhau về các đối tượng hành chính, tự nhiên, kinh tế - xã hội
được sắp xếp theo một logic chặc chẽ. Nó có tác dụng giúp cho quá trình dạy
học cụ thể, sâu sắc hơn và HS nắm kiến thức, thực hành, làm bài tập dễ dàng,
thuận lợi hơn.
+ Lược đồ, bản đồ trong SGK.
Lược đồ: Là loại bản đồ được vẽ sơ lược các nội dung chính cần thiết,
còn các nội dung chi tiết thường không được biểu hiện
Đối với các bản đồ trong SGK do khuân khổ thể hiện hạn chế về nội
dung, thời lượng dạy học nên chúng được cấu tạo đơn giản, không triệt để
tuân theo các nguyên tắc trong việc thành lập bản đồ. Như vậy thực chất
chúng chỉ là những lược đồ. Do đó chúng thường không có tỉ lệ, thước tỉ lệ,
khung bản đồ cũng thường đơn giản và cũng có tính chất tương đối về mặt
khoa học.
Bản đồ và lược đồ trong SGK thường có một số đặc điểm sau:
- Chỉ biểu hiện những đối tượng địa lí cần thiết, bỏ qua những đối
tượng không liên quan tới bài, và thường dùng để minh họa cho các kiến thức
nên bố cục bản đồ thường rất thoáng, dễ sử dụng, HS dễ dàng nhận biết các
đối tượng địa lí được biểu hiện trên bản đồ.
- Bản đồ trong SGK có số lượng khá lớn, có ở tất cả các khối lớp học.
- Các kí hiệu chú giải của bản đồ bên cạnh việc đảm bảo tuân thủ theo
những quy ước chung, có nhiều điểm tương đồng với các bản đồ treo tường
và Atlat thì một số yếu tố cũng được đơn giản hóa giúp cho bản đồ bớt rườm
rà và dễ đọc hơn.
Từ những đặc điểm trên cho thấy các loại bản đồ có vai trò cực kì quan
trọng, đã và đang phục vụ đắc lực cho việc dạy và học Địa lí. Nó vừa là
phương tiện dùng làm minh họa, chứng minh, vừa là nguồn tri thức. Nó là kết
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
11
đường biểu diễn, nhiều đường biểu diễn có cùng một đại lượng, nhiều đường
biểu diễn có hai đại lượng, biểu đồ đường chỉ số phát triển), hình vuông, hình
tròn, miền (“chồng nối tiếp”, “Chồng từ gốc tọa độ” – cùng một đại lượng),
biểu đồ kết hợp (đường và cột)…
Trong môn học địa lí, biểu đồ trở thành một phần quan trọng không thể
thiếu trong kênh hình. Có thể nói, biểu đồ là một trong những “ ngôn ngữ đặc
thù” của khoa học địa lí. Nó có tính trực quan cao, cho phép mô tả:
- Động thái phát triển của một hiện tượng địa lí như: Biểu đồ thể hiện
sản lượng lương thực thế giới qua các năm, thể hiện tốc độ tăng dân số…
- Thể hiện quy mô, độ lớn của một đại lượng nào đó như : Biểu đồ
diện tích gieo trồng cây công nghiệp hàng năm và cây công nghiệp lâu
năm của nước ta…
- Thể hiện tỷ lệ cơ cấu thành phần trong một tổng thể hoặc nhiều tổng
thể có cùng một đại lượng.
- So sánh tương quan về độ lớn giữa các đại lượng như: Biểu đồ cơ cấu
lao động theo khu vực kinh tế của một quốc gia, một khu vực…
- Thể hiện quá trình chuyển dịch cơ cấu thành phần qua một số năm
như: Biểu đồ cơ cấu sử dụng năng lượng trên thế …
Tuy có nhiều loại biểu đồ khác nhau, nhưng đối với HS phổ thông, các
biểu đồ được thể hiện trong SGK và dùng làm bài tập cho HS thường là các
loại biểu đồ đường, biểu đồ cột, biểu đồ hình tròn, biểu đồ miền và biểu đồ
kết hợp giữa cột và đường. Mỗi loại biểu đồ đều có thể thể hiện được những
yêu cầu nội dung riêng. Ví dụ như biểu đồ đường biểu diễn (đồ thị) thường
thể hiện tiến trình động thái phát triển của các hiện tượng theo chuỗi thời
gian, còn biểu đồ hình cột lại thường thể hiện quy mô, khối lượng của một đại
lượng. So sánh tương quan về độ lớn giữa một số đại lượng. Biểu đồ tròn và
tóm tắt các nội dung trong bài học, các mối liên hệ bằng sơ đồ giúp học sinh
dễ học, dễ nhớ.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
13
- Lát cắt địa hình: Là hình vẽ đơn giản về cấu trúc cắt ngang của địa
hình một lãnh thổ nào đó và nó thường được dùng trong phần Địa lí tự nhiên.
* Nhóm các mô hình, mẫu vật, các video địa lí.
Tương tự như bản đồ, lược đồ, nhóm các tranh ảnh, sơ đồ, các mô hình
(Quả địa cầu), mẫu vật ( Đá, đất các loại, cây…) và các video có nội dung địa
lí cũng có nhiều vai trò trong quá trình dạy học địa lí. Nó vừa giúp người học
hình thành biểu tượng và có mối liên hệ thực tế, vừa giúp cho việc phân tích,
so sánh, lý giải những kiến thức lý thuyết.
Như vậy, hệ thống kênh hình rất phong phú và đa dạng, không chỉ có
trong SGK mà ở các kênh thông tin khác. Chính vì thế, trong quá trình dạy
học, GV nên triệt để khai thác những hình ảnh đã có trong SGK và khai thác
có chọn lọc những hình ảnh từ các kênh thông tin khác.
1.1.3. Vai trò của kênh hình trong dạy học Địa lí.
Hệ thống kênh hình là một bộ phận quan trọng trong nội dung môn
học địa lí, là thành phần làm nên cấu trúc hoàn chỉnh của SGK. Với ưu
điểm có tính trực quan cao, dễ sử dụng nên số lượng kênh hình được dùng
trong dạy học Địa lí khá phong phú. Qua nghiên cứu, tác giả thấy hệ thống
kênh hình trong SGK địa lí nói chung và SGK Địa lí lớp 10 THPT có
những vai trò cơ bản sau:
1.1.3.1. Vai trò minh họa
Kênh hình là một dạng thông tin trực quan, sinh động nên nó thường
được sử dụng để minh họa cho bài viết và làm cho những kiến thức được trình
bày có tính thuyết phục cao hơn.
Đối với GV, kênh hình là một phương tiện dạy học cần thiết cho việc
(nguồn: Hình 8.2 [20, tr. 30])
Đối với phần lớn HS miền núi, khi được học về gió biển và gió đất (bài
12. Sự phân bố khí áp. Một số loại gió chính) [20], nếu không có hình minh
họa kèm theo trong quá trình giảng dạy (hình 1.4 – Gió biển và gió đất) thì
việc hình dung của HS về quá trình hình thành gió biển và gió đất sẽ khó khăn
vì các em rất ít được ra biển. Cho nên, trong trường hợp này hình vẽ minh họa
cho việc hình thành của gió biển và gió đất sẽ giúp HS hình dung cụ thể hơn
các hiện tượng trên.
Hình 1.4 – Gió biển và gió đất
(Nguồn: Hình 12.4 [20, tr.47])
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
16
Hay khi giảng về quá trình phát triển của một hiện tượng, một vấn đề
địa lí nào đó như sự gia tăng dân số, cơ cấu lao động theo khu vực kinh tế…
có kèm theo biểu đồ minh họa thì sẽ làm cho các số liệu trở nên sinh động
hơn, HS dễ nhận biết sự tăng giảm, quá trình phát triển… của các sự vật hiện
tượng địa lí và có được sự liên hệ rõ ràng hơn.
1.1.3.2. Vai trò l ngun tri thc.
SGK THPT hiện nay nói chung và SGK Địa lí lớp 10 nói riêng có sự thay
đổi: Giảm bớt những thông tin mang tính thụ động, khuôn mẫu từ kênh chữ, thay
vào đó là hệ thống kênh hình phong phú, đa dạng, được chọn lọc, có tính giáo dục
cao, chứa đựng nhiều thông tin bổ ích và quan trọng kèm theo những câu hỏi định
hướng giúp học sinh có thể tự giác, tích cực làm việc với các nguồn tri thức để
khai thác các thông tin cần thiết trên cơ sở những kĩ năng, phương pháp đã được
hướng dẫn.
Ví dụ 1. Khi dạy bài 15. Thủy quyển. Một số nhân tố ảnh hưởng tới
hướng dẫn HS dựa vào hình để nhận xét tình hình tỉ suất sinh thô của
thế giới. Từ hình vẽ, GV hướng dẫn HS quan sát biểu đồ đặt những câu
hỏi nhỏ HS trả lời để từ đó các em rút ra kết luận tỉ suất sinh thô của
thế giới nhìn chung có xu hướng giảm nhưng có sự khác biệt giữa các
nước phát triển và các nước đang phát triển. Các nước phát triển tỉ suất
sinh thô giảm nhanh hơn các nước đang phát triển. Tỉ suất sinh thô của
các nước phát triển thấp hơn các nước đang phát triển…
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
18
Hình 1.6 – Tỉ suất sinh thô thời kì 1950 – 2005
(Nguồn: Hình 22.1 [20, tr.83]
1.1.3.3. Vai trò phát trin tư duy địa lí.
- Tư duy về không gian lãnh thổ là đặc trưng quan trọng hàng đầu
trong tư duy địa lí.
Khi nói về không gian, cần phải hiểu đối tượng đó ở đâu (vị trí) bao
gồm: ở các giới hạn vĩ tuyến nào, đới nào, phía nào… còn khi xét về tính lãnh
thổ, chúng ta lại phải hiểu nó có quy mô rộng hay hẹp, kéo dài hay đều đặn…
GV trong quá trình dạy học địa lí phải hướng dẫn HS trả lời được các
câu hỏi: Nằm ở đâu? Quy mô như thế nào? Dẫn tới nắm được các đặc điểm
đặc trưng hay tính phân hóa, độc đáo của các đối tượng địa lí. SGK địa lí nói
chung và sách THPT nói riêng có rất nhiều kênh hình để giúp GV minh họa
cho kiến thức địa lí này.
Ví dụ: Bài 17 “Thổ nhưỡng quyển. Các nhân tố hình thành thổ nhưỡng”
[20] hình 17 - Vị trí lớp ph thổ nhưng ở lục địa - cho chúng ta biết vị trí của
lớp phủ thổ nhưỡng nằm ở bề mặt lục địa – nơi tiếp xúc với khí quyển, thạch
quyển, sinh quyển.
một đối tượng địa lí, nhưng được phân bố ở những không gian khác nhau thì
có đặc trưng khác nhau. Ví dụ trong bài 19: Sự phân bố sinh vật và đất trên
Trái Đất [20] các hình từ 19. 3 đến 19.10 cho chúng ta thấy sự phân hóa của
các thảm thực vật và nhóm đất khác nhau ở mỗi đới khí hậu, như hình 19.5 –
Rừng lá rng ôn đới - cho biết khu vực ôn đới vĩ độ trung bình có nhiệt ẩm
dồi dào nên thảm thực vật xanh tốt, thân cao to, lá rộng còn hình 19.6 – Thảo
nguyên ôn đới - lại cho biết cùng là khu vực ôn đới nhưng vì lượng ẩm ít nên
thảm thực vật ở đây là thân bụi, thấp… vì được phân bố khác nhau như vậy
nên chúng có những đặc trưng khác nhau. Nhiệm vụ của người GV giúp HS
nắm được tư duy này.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
21
Hình 1. 9 – Rừng lá rộng ôn đới
(Nguồn: Hình 19.5 [20,tr.71])
Hình 1.10 – Thảo nguyên ôn đới
(Nguồn: Hình 19.6 [20,tr.71])
- Kênh hình còn giúp cho GV phát triển được tư duy về mối quan hệ
nhân quả cho HS.
Tư duy về mối quan hệ nhân quả là tư duy quan trọng trong dạy học địa
lí. Bất kì một hiện tượng địa lí nào hình thành trên mặt đất đều do các thành
phần có mối quan hệ tác động lẫn nhau. Mối quan hệ được thể hiện giữa tự
nhiên với tự nhiên, ví dụ: Bài 7. Cấu trúc của Trái Đất. Thạch quyển. Thuyết
kiến tạo mảng [19] hình 7.3 – Các mảng kiến tạo lớn ca Thạch quyn - cho
chúng ta biết vì có những vận động kiến tạo xảy ra trong lòng đất mà vỏ Trái
Đất đã tạo thành những mảng lớn khác nhau và xuất hiện các sống núi lửa…
ra trong tực tiễn xã hội. Thế giới quan có cấu trúc phức tạp, gồm nhiều yếu tố,
trong đó hạt nhân là tri thức.
- Nhân sinh quan là “ quan niệm về cuộc đời, thành hệ thống bao gồm
lý tưởng, lẽ sống”. Theo đó, nhân sinh quan là sự xem xét, suy nghĩ về sự
sống con người, hoặc nói cách khác, nhân sinh quan là quan niệm của chúng
ta về những định luật diễn hóa trong đời sống nhân loại và sự sống con người.
Trong thời kỳ mở cửa, hội nhập quốc tế, với những thời cơ và vận hội
lớn, đan xen với những thách thức không nhỏ đó là những mặt trái của nền
kinh tế thị trường gây ra nhiều khó khăn ảnh hưởng xấu tới nhiều mặt trong
đời sống xã hội Việt Nam. Tác động không nhỏ tới thế giới quan và nhân sinh
quan của chúng ta. Ngành giáo dục không ngoại lệ. Cũng đang phải đối mặt
với không ít tình trạng HS vi phạm pháp luật; thiếu lễ độ với người lớn, với
các thày cô giáo; ham chơi; nói tục; đặc biệt là tình trạng bạo lực học đường.
Trước thực trạng đáng quan tâm như đã nêu trên, các nhà giáo dục càng phải
quan tâm tới nguồn lực con người, nhất là đối với HS – một nhân tố vô cùng
quan trọng xây dựng đất nước.
Trong chương trình giáo dục, đã có rất nhiều hình thức, môn học nhằm
giáo dục thế giới quan và nhân sinh quan đúng đắn cho HS như môn Giáo dục
công dân, Văn học, Lịch sử…tất cả những môn học này ngoài việc cung cấp
kiến thức cho HS thì thông qua đó phải coi trọng và đặt lên hàng đầu nhiệm
vụ giáo dục này.
Môn Địa lí có nhiệm vụ cung cấp những tri thức về tự nhiên, kinh tế - xã
hội, về mối quan hệ nhân quả của các sự vật hiện tượng địa lí với nhau. Việc
giáo dục, bồi dưỡng thế giới quan và nhân sinh quan theo lý tưởng cách
mạng, truyền thống đạo đức và lối sống lành mạnh, có tình yêu quê hương,
đất nước, bạn bè, có ý thức bảo vệ môi trường… không chỉ dừng lại ở những
chương – điều trong sách vở mà quan trong là giáo dục bằng chính thực tế.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
+ Lớp 7 và một phần lớp 8: Địa lí các châu lục và khu vực
+ Lớp 8: Tự nhiên Việt Nam
+Lớp 9: Kinh tế Việt Nam
- Khối THPT:
+ Lớp 10: Địa lí tự nhiên đại cương và Địa lí kinh tế - xã hội đại cương
+ Lớp 11: Địa lí Kinh tế thế giới, châu lục và khu vực, các nước.
+ Lớp 12: Địa lí Việt Nam
Qua sự thống kê đó, ta thấy chương trình Địa lí có 2 mảng: Địa lí tự nhiên và
Địa lí kinh tế - xã hội. Chương trình thường được cấu tạo theo đường thẳng và vòng
tròn đồng tâm nâng cao.
- Cấu tạo theo đường thẳng là cấu tạo từ lớp thấp lên lớp cao, từ khái
niệm chung đến khái niệm riêng; từ cái khái quát đến cụ thể, chi tiết; từ kiến
thức về địa lí tự nhiên rồi mới đến các kiến thức về kinh tế - xã hội. Kiến thức
về thế giới và các châu lục, khu vực được học trước sau mới đến Địa lí Tổ
quốc. Các kiến thức được trang bị dần cho HS theo hướng nâng cao từ bậc
THCS đến THPT. Chương trình cấu tạo theo đường thẳng là sự thể hiện lớp
trước là cơ sở nhận thức của lớp sau. Lớp sau là cái cụ thể của lớp trước. Đi
từ dễ đến khó, từ khái niệm đơn giản đến khái niệm phức tạp. Chính vì vậy
mặc dù có sự tách biệt giữa tự nhiên và kinh tế - xã hội, giữa đại cương và
khu vực nhưng các kiến thức luôn có mối quan hệ chặt chẽ với nhau.
- Cấu tạo theo vòng tròn đồng tâm: Thể hiện mối quan hệ ngang giữa
các kiến thức địa lí tự nhiên, kinh tế. Chúng ta có thể thấy rõ điều đó qua hình
sau: