Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
1
LUẬN VĂN THẠC SĨ GIÁO DỤC HỌC
THÁI NGUYÊN - 2012
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
2
VŨ THỊ THANH THỦY TÁC ĐỘNG CỦA PHƢƠNG TIỆN TRUYỀN THÔNG
ĐỐI VỚI VIỆC CHỌN NGHỀ CỦA HỌC SINH
TRUNG HỌC PHỔ THÔNG CHUYÊN NGÀNH: GIÁO DỤC HỌC
MÃ SỐ: 60.14.01
LUẬN VĂN THẠC SĨ GIÁO DỤC HỌC
Thái Nguyên, tháng 9 năm 2012
Vũ Thị Thanh Thuỷ
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
4
MỤC LỤC
Trang
Mở đầu
1
Chƣơng 1: Cơ sở lý luận của vấn đề nghiên cứu
1.1. Tổng quan nghiên cứu vấn đề
1.1.1. Sơ lược về lịch sử nghiên cứu vấn đề trên thế giới………… 5
1.1.2. Các nghiên cứu ở Việt Nam…………………………………
7
1.2. Cơ sở lý luận của vấn đề nghiên cứu
1.2.1. Một số khái niệm cơ bản
2.1. Vài nét về khách thể điều tra……………………………… 35
2.2. Thực trạng chọn nghề của HS lớp 12 dưới tác động của PTTT
(khảo sát tại tỉnh Thái Nguyên)
2.2.1. Thực trạng nhận thức và sự tác động của các PTTT đến việc
chọn nghề của HS lớp 12 ở tỉnh Thái Nguyên……………………
36
2.2.2. Ý kiến của GV làm công tác hướng nghiệp về tác động của các
PTTT đối với sự chọn nghề của HS lớp 12 ………………………
69
2.2.3. Ý kiến của cha, mẹ đối với việc lựa chọn nghề nghiệp của HS
lớp 12 hiện nay………………………………………………………
76
2.3. Kết luận chương 2
80
Chƣơng 3: Các biện pháp tổ chức hoạt động GDHN cho học sinh
lớp 12 dƣới sự tác động của PTTT
3.1. Những cơ sở có tính nguyên tắc để xây dựng biện pháp……. 82
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
85
3.2.2. Tổ chức tọa đàm trên lớp với chủ đề “Internet với nghề nghiệp
và lựa chọn nghề nghiệp”…………………………………………….
87
3.2.3. Tổ chức cho HS tìm hiểu thông tin nghề nghiệp qua bản tin,
phóng sự truyền hình hay một đoạn video…………………………….
88
3.2.4. Tổ chức hội nghị để trao đổi với cha mẹ HS về nghề nghiệp
tương lai của con em họ………………………………………………
89
3.2.5. Lập hồ sơ hướng nghiệp chi tiết cho mỗi HS…………………
91
3.3. Mối quan hệ giữa các biện pháp………………………………
93
3.4. Khảo nghiệm các biện pháp
3.4.1. Mục đích khảo nghiệm………………………………………….
95
3.4.2. Đối tượng khảo nghiệm……………………………………
95
3.4.3. Quá trình tiến hành khảo nghiệm……………………………
95
3.4.4. Kết quả khảo nghiệm…………………………………………
95
3.5. Kết luận chương 3
Nhà xuất bản
NXB
Giáo sư - Tiến sĩ khoa học
GS-TSKH
Đại học
ĐH
Cao đẳng
CĐ
Trung học chuyên nghiệp
THCN
Số lượng
SL
Trung bình
TB
Công nghiệp hoá - Hiện đại hoá
CNH - HĐH
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
7
DANH MỤC CÁC BẢNG SỐ LIỆU
54
Bảng 2.9
Mức độ quan tâm của HS lớp 12 đối với những lĩnh vực trên các
PTTT
56
Bảng 2.10
Vai trò của gia đình trong việc lựa chọn nghề nghiệp của HS lớp 12
58
Bảng 2.11
Những vấn đề HS lớp 12 có nhu cầu hoặc hứng thú
60
Bảng 2.12
Những khó khăn HS lớp 12 gặp phải khi lựa chọn nghề nghiệp
63
Bảng 2.13
Yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến việc lựa chọn nghề của HS lớp 12
64
Bảng 2.14
Quyết định lựa chọn nghề của HS lớp 12
67
Bảng 2.15
Thực tế và hiệu qủa của việc tổ chức GDHN trong trường THPT
theo sự đánh giá của GV
70
Bảng 2.16
Những yếu tố tác động đến việc chọn nghề của HS lớp 12 theo ý
kiến của GV
71
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
9
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
GDHN và tư vấn học đường là một nhu cầu không thể thiếu của HS, đặc
biệt là đối với HS lớp 12 bậc THPT. HS THPT cần được hướng nghiệp để có
nền tảng vững chắc bước vào tương lai với nghề nghiệp ổn định. Chương trình
GDHN đã được đưa vào học đường cung cấp cho HS các kiến thức cơ bản của
việc lựa chọn ngành nghề, mục đích của GDHN là giúp cho HS với vai trò là
hướng nghiệp trên các PTTT chưa tập trung, chưa đầy đủ gây khó khăn cho
GV, HS và phụ huynh HS trong việc tìm hiểu và tư vấn hướng nghiệp cho HS
lớp 12. Do vậy, để tránh những luồng thông tin không chính thống mang lại
những thông tin sai lệch làm ảnh hưởng tới quá trình lựa chọn nghề nghiệp
của các em thì việc tìm ra các biện pháp tổ chức hoạt động GDHN cho HS lớp
12 dưới sự tác động của PTTT là nhiệm vụ hết sức cấp thiết trong giai đoạn
hiện nay. Từ những lý do trên, chúng tôi chọn đề tài "Tác động của PTTT đối
với việc chọn nghề của HS THPT" (Khảo sát tại tỉnh Thái Nguyên).
2. Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở lý luận và thực tiễn, nghiên cứu các tác động của PTTT đối
với việc cung cấp thông tin nghề cho HS, từ đó đề xuất một số biện pháp tổ
chức hoạt động hướng nghiệp cho HS lớp 12 dưới sự tác động của PTTT, giúp
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
11
cho HS có cách tiếp nhận và xử lý tối ưu trước những thông tin do PTTT
mang lại để có những định hướng nghề một cách đúng đắn.
3. Khách thể - Đối tƣợng nghiên cứu
* Khách thể nghiên cứu: Tác động của PTTT đối với sự chọn nghề của
HS THPT.
* Đối tượng nghiên cứu: Các biện pháp tổ chức hoạt động hướng
nghiệp cho HS lớp 12 dưới sự tác động của PTTT, nhằm giúp HS THPT có
cách tiếp nhận và xử lý tối ưu trước những tác động của PTTT mang lại trong
việc chọn nghề.
4. Giả thuyết khoa học
Chất lượng và hiệu quả của công tác GDHN cho HS phụ thuộc vào rất
nhiều yếu tố như: GV, phụ huynh HS, công tác quản lý, lãnh đạo của nhà
trường, sự phát triển kinh tế - xã hội của địa phương…, trong đó phải kể đến đó
* Nhóm phương pháp xử lý số liệu: thống kê toán học.
8. Cấu trúc luận văn
Luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận về vấn đề chọn nghề của HS THPT dưới sự tác động
của phương tiện truyền thông.
Chương 2: Thực trạng những tác động của PTTT đối với HS THPT trong việc
lựa chọn nghề nghiệp.
Chương 3: Các biện pháp tổ chức hoạt động GDHN cho HS lớp 12 dưới sự tác
động của PTTT
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
13
Ngoài ra, luận văn còn có phần Mở đầu, Kết luận, Danh mục các tài liệu
tham khảo và Phụ lục
CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ VẤN ĐỀ CHỌN NGHỀ CỦA HỌC SINH
THPT DƢỚI SỰ TÁC ĐỘNG CỦA PHƢƠNG TIỆN TRUYỀN THÔNG
1.1. Tổng quan nghiên cứu vấn đề
Nghề nghiệp là một thành phần quan trọng trong sự phát triển xã hội
cũng như đời sống cá nhân. Sự phong phú, đa dạng, phức tạp của nghề nghiệp
phản ánh trình độ văn minh, đời sống vật chất của con người cũng như xã hội
đó. Vì vậy, xung quanh vấn đề này đã có nhiều tác giả trong và ngoài nước
quan tâm nghiên cứu.
1.1.1. Sơ lƣợc về lịch sử nghiên cứu vấn đề trên thế giới
Những tư tưởng về định hướng nghề nghiệp cho thế hệ trẻ đã có từ thời
cổ đại, tuy nhiên ở dưới dạng rất sơ khai và biểu hiện thông qua việc phân
chia, phân cấp lao động tuỳ thuộc vào địa vị, nguồn gốc xuất thân của mỗi
người trong xã hội. Điều này thể hiện rõ tính áp đặt của giai cấp thống trị và
khoa học kỹ thuật, làm quen với cơ sở của nền sản xuất hiện đại.
N.K.Crupxkaia - nhà giáo dục lỗi lạc đã từng nêu lên luận điểm "Tự do chọn
nghề" cho mỗi thanh, thiếu niên. Theo bà, thông qua hướng nghiệp, mỗi trẻ
em phải nhận thức sâu sắc hướng phát triển kinh tế của đất nước, những nhu
cầu của nền sản xuất cần được yêu cầu mà xã hội đề ra đối với các em trong
lĩnh vực lao động sản xuất. Mặt khác, công tác hướng nghiệp lại phải giúp cho
trẻ em phát triển được hứng thú và năng lực nghề nghiệp, giáo dục cho các em
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
15
thái độ lao động đúng đắn, động cơ chọn nghề trong sáng. Từ đó các em có
thái độ tự giác trong việc chọn nghề.
Trên cơ sở các luận điểm về hướng nghiệp của C.Mác và V.I.Lênin, các
nhà giáo dục Liên Xô như: B.F.Kapêep, X.A.Sapôrinxki, V.A.Pôliacốp trong
các tác phẩm và công trình nghiên cứu của mình đã chỉ ra mối quan hệ giữa
hướng nghiệp và các hoạt động sản xuất xã hội, và nếu sớm thực hiện GDHN
cho thế hệ trẻ thì đó sẽ là cơ sở để họ chọn nghề đúng đắn, có sự phù hợp giữa
năng lực, sở thích cá nhân với nhu cầu xã hội. Đồng thời các tác giả này cũng
đã trình bày những nguyên tắc, phương pháp thực hành lao động nghề nghiệp
cho HS phổ thông tại các cơ sở học tập - lao động liên trường.
Trong xu thế phát triển hiện nay, nền sản xuất công nghiệp và hậu công
nghiệp đã có những bước phát triển vượt bậc, trong xã hội xuất hiện nhiều
ngành nghề mới, sự phân hoá lao động đã khiến nhiều quốc gia trên thế giới
đều phải quan tâm đến công tác hướng nghiệp. Đẩy mạnh nghiên cứu khoa
học hướng nghiệp, mở các trung tâm tư vấn hướng nghiệp và đào tạo GV,
chuyên gia tư vấn hướng nghiệp trong và ngoài trường đại học.
1.1.2. Các nghiên cứu ở Việt Nam
Vấn đề hướng dẫn HS chọn nghề ở Việt Nam được rất nhiều tác giả
quan tâm nghiên cứu. Thực tiễn đã có những công trình nghiên cứu được đưa
hướng nghiệp - sự lựa chọn cho tương lai".
GS. Nguyễn Văn Hộ cũng là một trong những người rất tâm đắc và
nghiên cứu chuyên sâu về GDHN. Trong cuốn sách "Hoạt động GDHN và
giảng dạy kỹ thuật trong trường THPT" tác giả đã trình bày một cách hệ thống
về cơ sở lý luận của GDHN, về cấu trúc của hệ thống hướng nghiệp bao gồm
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
17
các bộ phận hợp thành của hệ thống hướng nghiệp như: khai sáng nghề, giáo
dục nghề, thông tin nghề, chuẩn đoán nghề, tư vấn nghề, lựa chọn nghề, tuyển
chọn nghề và thích ứng nghề.
Đặc điểm, xu hướng nghề nghiệp của HS thành phố đã được nghiên cứu
trong các công trình của tác giả Nguyễn Quang Uẩn và những người khác [5].
Bằng cách tiếp cận xu hướng nghề theo các chỉ số như: Mức độ nhận thức
nghề nghiệp, thái độ đối với nghề, tính ổn định của thái độ, tác giả đã chỉ ra
đặc điểm chung, xu hướng nghề nghiệp của HS trung học. Qua nghiên cứu tác
giả đã có kết luận sau: Nhận thức về nghề của HS còn yếu, số nghề và các
trường chuyên nghiệp được HS biết chưa nhiều, hứng thú nghề nghiệp hình
thành muộn, chưa tập trung, chưa rõ nét.
Tuy nhiên, công tác hướng nghiệp mới chỉ dừng lại ở khâu định hướng
nghề, còn khâu tư vấn và tuyển chọn nghề chưa được chú trọng thích đáng.
Ngoài ra còn nhiều tác giả khác quan tâm, nghiên cứu về lĩnh vực này có thể
kể đến:
- Lê Khắc Thìn (luận văn thạc sĩ) năm 1996 đã nghiên cứu: "Tìm hiểu
thực trạng lựa chọn nghề nghiệp của HS lớp 12 và công tác hướng nghiệp ở
trường PTTH". Tác giả nhận xét: Nhận thức về nghề nghiệp của HS mới chỉ
dừng lại ở những biểu hiện bề ngoài của nghề mà chưa đi sâu tìm hiểu những
yêu cầu đặc trưng riêng của từng nghề, sự hiểu biết của các em đều mang tính
chất cảm tính vì các em chưa có thông tin chính xác, đầy đủ về thế giới nghề
của xã hội "; còn "nghề nghiệp là nghề nói chung" [8]. Từ điển Tiếng Việt
(Văn Tân chủ biên, NXB khoa học xã hội - 1991) thì định nghĩa: "Nghề là
công việc hàng ngày làm để sinh nhai", còn "Nghề nghiệp: là nghề làm để
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
19
mưu sống". Theo từ điển Larousse của Pháp định nghĩa: "Nghề nghiệp
(Professtion) là hoạt động thường ngày được thực hiện bởi con người nhằm tự
tạo nguồn thu nhập cần thiết để tồn tại" [10].
Theo E.A.Klimôp: "Nghề nghiệp là một lĩnh vực sử dụng sức mạnh vật
chất và tinh thần của con người một cách có giới hạn, cần thiết cho xã hội (do
sự phân công lao động xã hội mà có). Nó tạo ra cho mỗi con người khả năng
sử dụng phương tiện cần thiết cho việc tồn tại và phát triển" [12].
Theo GS. TSKH Nguyễn Văn Hộ: "Nghề nghiệp như là một dạng lao
động xã hội vừa mang tính xã hội (sự phân công xã hội), vừa mang tính cá
nhân (nhu cầu bản thân) trong đó con người với tư cách là chủ thể hoạt động
đòi hỏi để thoả mãn những nhu cầu nhất định của xã hội và cá nhân" [10].
Từ một số quan niệm về nghề nghiệp nêu trên, có thể hiểu một cách
ngắn gọn, nghề nghiệp là một dạng lao động đòi hỏi con người phải trải qua
quá trình đào tạo chuyên biệt, có kiến thức, kỹ năng, kỹ xảo chuyên môn nhất
định, có phẩm chất, đạo đức phù hợp với yêu cầu của dạng lao động tương
ứng. Nhờ quá trình hoạt động nghề nghiệp, con người có thể tạo ra sản phẩm
thoả mãn những nhu cầu vật chất, tinh thần của cá nhân và xã hội.
Nghề nghiệp của một người có thể do được đào tạo chính thức về nghề
đó vì nghề đỏi hỏi một trình độ tri thức, kỹ năng, kỹ xảo nhất định. Cũng có
thể nghề được hình thành tự phát do tích luỹ kinh nghiệm xã hội hoặc do
truyền và học nghề theo cách kèm cặp giữa người biết nghề và người chưa
biết nghề. Các nghề này chưa có quy trình đào tạo rõ rệt.
Nghề được đào tạo có đặc trưng là người làm nghề phải được cung cấp
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
21
thời, không ổn định do con người bỏ sức lao động giản đơn và được trả công
để sinh sống thì không phải là nghề nghiệp [20] [10].
* Định hướng nghề nghiệp
Tuỳ thuộc vào đặc trưng cho mỗi lĩnh vực hoạt động khoa học mà khi xem
xét hoạt động hướng nghiệp có thể có những quan điểm khác nhau về vấn đề này.
Các nhà tâm lý học cho rằng đó là hệ thống các biện pháp sư phạm, y
học giúp cho thế hệ trẻ chọn nghề có tính đến nhu cầu của xã hội và năng lực
của bản thân; các nhà kinh tế học thì cho rằng đó là những mối quan hệ kinh tế
giúp cho mỗi thành viên trong xã hội phát triển năng lực đối với lao động và
đưa họ vào một lĩnh vực hoạt động cụ thể, phù hợp với việc phân bố lực lượng
lao động xã hội.
Nhà Tâm lý học K.K.Platônôp cho rằng: "Hướng nghiệp, đó là một hệ
thống các biện pháp tâm lý - giáo dục, y học, Nhà nước nhằm giúp cho con
người đi vào cuộc sống thông qua việc lựa chọn cho mình một nghề nghiệp
vừa đáp ứng nhu cầu xuất hiện, vừa phù hợp với hứng thú, năng lực của bản
thân. Những biện pháp này sẽ tạo nên sự thống nhất giữa quyền lợi của xã hội
với quyền lợi của cá nhân". Còn viện sĩ X.Ia.Batưsep xác định: Hướng nghiệp
là một hoạt động hợp lý gắn với sự hình thành ở thế hệ trẻ hứng thú và sở
thích nghề nghiệp vừa phù hợp với những năng lực cá nhân, vừa đáp ứng đòi
hỏi của xã hội đối với nghề này hay nghề khác [6] [10].
Theo GS.TS Phạm Tất Dong: "Hướng nghiệp như là một hệ thống tác
động của xã hội về giáo dục, về y học, xã hội học, kinh tế học nhằm giúp
cho thế hệ trẻ chọn được nghề vừa phù hợp với hứng thú, năng lực, nguyện
vọng, sở trường của cá nhân vừa đáp ứng nhu cầu nhân lực của các lĩnh vực
sản xuất trong nền kinh tế quốc dân" [7].
23
Đề cập tới việc chọn được nghề phù hợp, trước hết ta phải làm rõ khái
niệm phù hợp nghề. Sự phù hợp nghề được xem là sự hoà hợp, sự ăn khớp, sự
tương xứng trong cặp "Con người - Nghề nghiệp" mà cụ thể hơn, là sự tương
ứng giữa những phẩm chất, đặc điểm tâm - sinh lý của con người với những
yêu cầu của công việc trong nghề đối với người lao động. Nói như vậy ta có
thể thấy rằng, sự phù hợp nghề thường thể hiện ở 3 dấu hiệu sau:
- Bảo đảm tốc độ làm việc, tức là bảo đảm được yêu cầu về số lượng
công việc theo định mức lao động. Người ta có thể đo đếm được các động tác
lao động để kết luận về sự phù hợp nghề.
- Bảo đảm độ chính xác của công việc. Đây là yêu cầu về chất lượng
sản phẩm. Người lao động phải làm ra mặt hàng đúng quy cách, không có số
lượng phế phẩm quá con số cho phép, không để công cụ lao động bị hư hỏng
- Không bị công việc của nghề nghiệp gây nên những độc hại cho cơ thể
của bản thân.
Mức độ hiệu quả hoạt động nghề nghiệp chịu sự chi phối của mức độ sự
phù hợp nghề. Thông thường, người ta chia làm 3 phần mức độ phù hợp đối
với một nghề đó là: phù hợp hoàn toàn, phù hợp từng phần và không phù hợp.
Trên thực tế, ít có ai sinh ra mà phù hợp với nghề này hay nghề khác. Bởi vậy
khó có sự phù hợp tuyệt đối với nghề (phù hợp hoàn toàn), để đạt tới mức độ
này, bản thân mỗi người phải có sự rèn luyện để hình thành cho mình những
gì mà nghề nghiệp đòi hỏi [20].
Có thể nói, mỗi cá nhân đều tiềm ẩn những năng lực, những sở trường
đặc biệt để tạo nên sự phù hợp nghề. Nếu biết lợi dụng đầy đủ những cơ sở ấy,
đặc biệt là những sở trường sẵn có, kiên trì luyện tập, kết hợp với sự học hỏi ở
những người có kinh nghiệm thì sự phù hợp nghề sẽ nhanh đến với bản thân.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
24
Quá trình lựa chọn nghề nghiệp của HS diễn ra với sự chi phối của
những mối quan hệ xã hội phức tạp (giữa HS với gia đình; HS với tập thể lớp,
trường, đoàn đội, HS với cộng đồng ). Những mối quan hệ này tác động tới
nhận thức, nhu cầu, động cơ, hứng thú, sở thích nghề nghiệp của HS. Tuy
nhiên để đi tới một quyết định lựa chọn nghề thì hầu hết đó là quyết định do
chính chủ thể đưa ra và khẳng định. Tỷ lệ ảnh hưởng của những tác động
khách quan tới sự lựa chọn trên mỗi cá nhân là ít nhiều khác nhau, song quyết
định cuối cùng của quá trình lựa chọn nghề bao giờ cũng thuộc về một con
người cụ thể.
* Tính khách thể của quá trình lựa chọn nghề
Khi nói đến quá trình lựa chọn nghề là nói tới sự kết hợp giữa nhu cầu,
nguyện vọng cá nhân với yêu cầu do nghề nghiệp và xã hội đòi hỏi. Không
phải bất cứ nguyện vọng nghề nghiệp nào của chủ thể lựa chọn cũng được xã
hội chấp nhận. Trong xã hội, mỗi cá nhân có một vị trí xác định, với vị trí đó,
cá nhân vừa được hưởng quyền lợi đồng thời cũng cần có trách nhiệm đối với
cộng đồng và xã hội.
Mối quan hệ giữa quyền lợi và trách nhiệm trong lựa chọn nghề được
biểu hiện thông qua mối quan hệ giữa nguyện vọng cá nhân (tôi muốn) với đòi
hỏi về số lượng và chất lượng mà nhu cầu nguồn lực hoạt động trong các lĩnh
vực nghề nghiệp đòi hỏi (tôi cần phải). Khi đó chủ thể của sự lựa chọn trở
thành đối tượng của sự lựa chọn. Phần chính yếu thuộc vào những gì có được
nhờ vào hoạt động của chủ thể lựa chọn (tôi có thể).
* Tính mục đích của quá trình lựa chọn nghề