Đánh giá thực trạng công tác di dân tái định cư dự án thủy điện Tuyên Quang - Pdf 24



1 ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜ NG ĐẠ I HỌ C NÔNG LÂM NGUYỄN HỮU PHƢƠNG

ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG CÔNG TÁC
DI DÂN TÁI ĐỊNH CƯ DỰ ÁN THUỶ ĐIỆN
TUYÊN QUANG

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC NÔNG NGHIỆP

đất rất lớn; với tính chất đặc thù của công trình thủy điện là được xây dựng
chủ yếu ở khu vực thuộc địa bàn miền núi, vùng sâu, vùng xa, nơi có nhiều
đồng bào dân tộc thiểu số sinh sống theo cộng đồng, mỗi dân tộc có phong
tục tập quán riêng, nên việc thu hồi đất sẽ làm nảy sinh nhiều vấn đề kinh tế -
xã hội liên quan tới ba đối tượng đó là: Nhà nước, các doanh nghiệp và
người dân có đất bị thu hồi.
Dự án đầu tư xây dựng nhà máy thuỷ điện Tuyên Quang được Thủ
tướng Chính phủ phê duyệt tại Quyết định số 288/QĐ-TTg ngày 19 tháng 4
năm 2003, bắt đầu triển khai xây dựng từ năm 2003 trên sông Gâm, công
trình hoàn thành đưa vào khai thác năm 2007. Nhiệm vụ chính của dự án 3

Thuỷ điện Tuyên Quang là cung cấp điện năng để phát triển kinh tế - xã
hội, phục vụ công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước với điện lượng bình
quân hàng năm E0 = 1.295 triệu KWh; đồng thời góp phần chống lũ về mùa
mưa và cung cấp nước tưới cho sản xuất nông nghiệp về mùa khô cho vùng
hạ du (cắt lũ tại thành phố Tuyên Quang từ 2,5 m đến 2,7 m và giảm mực
nước lũ tại Hà Nội từ 0,4 m đến 0,42 m; tăng lưu lượng nước mùa khô cho
vùng hạ du từ 49 m
3
/s đến 52 m
3
/s).
Để hoàn thành xây dựng công trình, tỉnh Tuyên Quang phải di dời và
tái định cư gần 4.200 hộ dân với 20.138 khẩu vùng lòng hồ và mặt bằng công
trường đến 125 điểm tái định cư trên địa bàn 36 xã thuộc 04 huyện của tỉnh
Tuyên Quang (Na Hang, Chiêm Hoá, Hàm Yên, Yên Sơn). Đến nay, cơ bản
đã hoàn thành công tác di dân, tái định cư; bước đầu cuộc sống của các hộ tái

3. Yêu cầu của đề tài
- Nắm vững chính sách pháp luật về đất đai, môi trường và các lĩnh
vực có liên quan.
- Công tác điều tra thu thập tài liệu, số liệu phải đầy đủ, chính xác
trung thực, khách quan, có nguồn gốc rõ ràng.
- Áp dụng đúng đối tượng, đúng mục đích và phạm vi cần nghiên cứu
từ đó đánh giá được những tồn tại, khó khăn do nguyên nhân từ đâu, để đưa
ra những giải pháp nhằm tháo gỡ những khó khăn.
- Các giải pháp đề xuất phải phù hợp với thực tế ở địa phương và có
tính khả thi cao.

5

Chƣơng 1
TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

1.1. Tình hình bồi thƣờng, hỗ trợ và tái định cƣ trên thế giới
1.1.1. Chính sách bồi thường, hỗ trợ giải phóng mặt bằng khi thu
hồi đất của một số tổ chức quốc tế
1.1.1.1. Ngân hàng thế giới (WB)
Ngân hàng thế giới (WB) là tổ chức đầu tiên đưa ra chính sách tái
định cư không tự nguyện, và được từng bước, nghiên cứu phát triển (chu kỳ
4 năm). Năm 1980 WB đưa ra Chính sách chung cho tái định cư không tự
nguyện trong Bản hướng dẫn hoạt động về những vấn đề xã hội trong tái
định cư không tự nguyện trong các dự án do WB đầu tư. Năm 2004 WB đưa
ra bản hướng dẫn hoạt động về tái định cư không tự nguyện. Chính sách tái
định cư không tự nguyện của WB dựa trên nguyên tắc lựa chọn phương án

chủ, bình đẳng giữa hai bên với sự gắn kết quyền lợi lâu dài.
Nguyên tắc Chia sẻ lợi ích giữa các bên liên quan đến dự án đã được
áp dụng trong nhiều dự án đã triển khai ở các nước trên thế giới, đặc biệt các
dự án thủy điện [1].
1.1.2. Tình hình bồi thường, hỗ trợ và tái định cư ở một số nước
trên thế giới
1.1.2.1. Trung Quốc
Trung Quốc thi hành chế độ công hữu xã hội chủ nghĩa về đất đai, gồm 7

hai dạng là: Đất đô thị thuộc sở hữu nhà nước; đất nông thôn, ngoại thành, ngoại
thị thuộc sở hữu tập thể. Hiến pháp lần sửa đổi mới nhất năm 2005 quy định
“Quốc gia do sự cần thiết vì lợi ích công cộng, có thể căn cứ vào pháp luật mà
trưng thu hay trưng dụng đất đai và trả bồi thường”. Các nhà làm luật giải thích
rằng trưng thu áp dụng đối với đất thuộc sở hữu tập thể do phải chuyển quyền
sở hữu tập thể sang sở hữu nhà nước, còn trưng dụng thì áp dụng đối với đất
thuộc sở hữu nhà nước vì chỉ thay đổi mục đích sử dụng đất mà thôi [19].
Luật Đất đai ra đời năm 1986, đã qua nhiều lần sửa đổi bổ sung vào
các năm 1988, 1998 và 2004, chia đất đai thành đất nông dụng, đất dùng vào
xây dựng (kiến thiết) và đất chưa lợi dụng. Luật quy định mọi đơn vị và cá
nhân khi cần đất đai để tiến hành xây dựng thì phải căn cứ vào pháp luật mà
xin sử dụng đất thuộc sở hữu nhà nước, trừ trường hợp xây dựng nhà ở nông
thôn, cơ sở hạ tầng và công ích hương trấn. Nếu Nhà nước chấp nhận đề nghị
đó thì trưng dụng đất thuộc sở hữu nhà nước để cung ứng (trong một số
trường hợp thì gọi là thu hồi quyền sử dụng đất), khi không có hoặc không đủ
loại đất này thì trưng thu đất thuộc sở hữu tập thể để chuyển đổi thành đất
thuộc sở hữu nhà nước [19].
Trung Quốc rất coi trọng việc bảo vệ đất canh tác, đặc biệt là “đất

phải di dời nhà cửa, vì vậy năm 1991 Quốc vụ viện ban hành Điều lệ quản lý
di dời nhà cửa đô thị, đến năm 2001 thì thay bằng Điều lệ mới. Theo Điều lệ
này thì bên di dời phải bồi thường về nhà cửa cho bên bị di dời bằng tiền tính
theo giá thị trường hoặc bằng cách chuyển đổi tài sản. Không bồi thường nhà
xây trái phép hoặc nhà tạm đã hết hạn. Nói chung, chính quyền các thành phố
lớn đều dựa trên văn bản pháp quy của nhà nước để ban hành các quy định,
điều lệ của địa phương về trưng thu đất và di dời nhà cửa [19]. 9

1.1.2.2. Inđonexia
Công tác bồi thường, tái định cư được hết sức coi trọng. Việc bồi thường
thiệt hại do thu hồi đất gây ra bao gồm: Bồi thường về tài sản bị thiệt hại, chuyển
đổi nghề nghiệp, trợ cấp di chuyển, bố trí nơi ở mới đảm bảo cho người có đất bị
thu hồi có cuộc sống tốt hơn hoặc ít nhất là bằng nơi ở cũ. Các chủ đầu tư phải
hết sức coi trọng cuộc sống của người nghèo [25].
1.1.2.3. Australia
Đất đai thuộc sở hữu Nhà nước và sở hữu tư nhân. Luật Đất đai bảo hộ
quyền và nghĩa vụ của người chủ sở hữu đất. Chủ sở hữu đất có quyền cho
thuê, chuyển nhượng, thế chấp, thừa kế. Luật đất đai quy định Nhà nước có
quyền thu hồi đất tư nhân để sử dụng cho mục đích công cộng phục vụ phát
triển kinh tế - xã hội và bồi thường theo quy định: Giá bồi thường theo giá thị
trường, bồi thường những tài sản trên đất (hoa màu, nhà cửa, các công
trình ) cũng tạo mọi điều kiện di chuyển, tạo nơi ở mới, đảm bảo cuộc sống
hiện tại và tương lai [25].
1.1.2.4. Thái Lan
Không có chính sách đền bù tái định cư quốc gia, vì đa hình thức sở hữu
đất đai nhưng Hiến Pháp năm 1982 quy định việc trưng dụng đất cho các mục
đích xây dựng cơ sở hạ tầng, quốc phòng, phát triển nguồn tài nguyên cho đất

hoặc thu lại đất đã giao cho tổ chức, hộ gia đình, cá nhân và cộng đồng dân
cư quản lý theo quy định của pháp luật [24].
11

1.2.1.2. Bồi thường đất
Bồi thường là khi Nhà nước thu hồi đất là Nhà nước trả lại giá trị
quyền sử dụng đất đối với diện tích bị thu hồi cho người bị thu hồi đất [24].
1.2.1.3. Hỗ trợ
Hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi đất là Nhà nước giúp đỡ người bị thu hồi
đất thông qua đào tạo nghề mới, bố trí việc làm mới, cấp kinh phí để di
chuyển đến địa điểm mới, hỗ trợ sản xuất, ổn định đời sống [24].
1.2.1.4. Tái định cư
Tái định cư là việc di chuyển đến một nơi khác với nơi ở trước đây để sinh
sống và sản xuất. Qua nghiên cứu chính sách bồi thường hỗ trợ và tái định cư
của Việt Nam qua các thời kỳ cho thấy vấn đề bồi thường, hỗ trợ và tái định cư
đã được đặt ra từ rất sớm, các chính sách đều xuất phát từ nhu cầu thực tiễn và
được điều chỉnh tích cực để phù hợp hơn với sự phát triển của đất nước. Trên
thực tế các chính sách đó đã có tác dụng tích cực trong việc đảm bảo sự ổn định
trong phát triển, khuyến khích đầu tư và giữ được nguyên tắc công bằng.
Tuy nhiên, hiện nay vấn đề bồi thường, hỗ trợ và tái định cư và công
tác quy hoạch xây dựng khu tái định cư diễn ra rất chậm, chưa hiệu quả, còn
nhiều vướng mắc gây khiếu kiện trong nhân dân làm ảnh hưởng đến tiến độ
đầu tư, triển khai dự án.
Việc bồi thường thiệt hại nhìn chung cơ bản các địa phương đã áp
dụng đúng chính sách tại thời điểm thu hồi Nhà nước chỉ bồi thường về giá
trị đất và tài sản trên đất còn cuộc sống của người dân bị mất đất sau thu hồi
thì chưa quan tâm [29].

và vị trí đất. UBND các tỉnh, thành phố quy định cụ thể mức bồi thường thiệt hại
của địa phương mình sát với giá đất thực tế ở địa phương nhưng không thấp hơn
hoặc cao hơn khung giá định mức. Tổ chức, cá nhân được Nhà nước giao đất nông
nghiệp, đất có rừng để sử dụng vào mục đích khác thì phải bồi thường về đất nông
nghiệp, đất có rừng cho Nhà nước. Khoản tiền này được nộp vào ngân sách Nhà
nước và sử dụng vào việc khai hoang, phục hóa, trồng rừng, cải tạo đất nông
nghiệp, ổn định cuộc sống, định canh, định cư cho vùng bị lấy đất [1].
Quan niệm việc đền bù, tái định cư cho người dân khi Nhà nước thu
hồi đất xây dựng các công trình thủy điện cũng như các công trình phục vụ
lợi ích quốc gia khác chủ yếu dựa trên quan niệm đất đai là tài sản quốc gia,
nên trong trường hợp cần thiết Nhà nước thu hồi đất không nhất thiết đền bù
cho dân mà chỉ hỗ trợ một phần. Nếu có chỉ đền bù cho chính quyền địa
phương hay tập thể đang sử dụng đất về các tài sản bị thiệt hại theo sự thỏa
thuận. Khi xây dựng các công trình thủy điện Thác Bà, Hòa Bình thì hàng
chục vạn đồng bào các dân tộc đã hy sinh quyền lợi của mình đóng góp cho
sự phát triển quốc gia. Trong thời gian này có ba văn bản chính liên quan đến
việc hỗ trợ cho người sử dụng đất khi Nhà nước tiến hành thu hồi đất, đó là:
- Nghị định số 151/CP của Thủ tướng Chính phủ ban hành ngày 14
tháng 4 năm 1959 về “Thể lệ tạm thời về trưng dụng ruộng đất” là văn bản
pháp quy liên quan đến việc trưng dụng ruộng đất của nhân dân cho việc xây
dựng những công trình do Nhà nước quản lý [2].
- Thông tư số 1792-TTg ban hành ngày 11 tháng 01 năm 1970 quy định
một số điểm tạm thời về bồi thường nhà cửa, đất đai cây cối lưu niên, các hoa
màu cho nhân dân ở những vùng xây dựng kinh tế, mở rộng thành phố.
- Quyết định số 186/HĐBT của Hội đồng Bộ trưởng ban hành ngày 31 14

tháng 5 năm 1990 về đền bù thiệt hại đất nông nghiệp, đất có rừng khi

thu hồi đất và giá này có thể được Ủy ban nhân dân các tỉnh điều chỉnh cho
phù hợp với thực tế biến động của giá cả thị trường đất [4].
- Thông tư số 05-BXD/TT ngày 09/02/1993, là phân cấp nhà ở với mục
đích đánh giá mức thuế, đền bù và bán công trình, Chính phủ Việt Nam đã
xác lập một hệ thống về phân cấp nhà cửa. Đây là cơ sở để các tỉnh tính toán
xây dựng đơn giá đền bù cho vật kiến trúc bị ảnh hưởng.
- Nghị định số 90/CP ngày 17/8/1994. Đây là Nghị định đầu tiên của
Chính phủ về đền bù thiệt hại khi Nhà nước thu hồi đất. Trong giai đoạn này,
cùng với việc phát triển các cơ sở hạ tầng, việc thu hồi đất của người dân có tác
động lớn đến kinh tế - xã hội, những Nghị định này mới chỉ chú trọng đến việc
đền bù thiệt hại khi thu hồi đất mà chưa đề cập đầy đủ đến việc tái định cư.
- Nghị định số 22/1998/NĐ-CP ngày 24/4/1998 về đền bù thiệt hại khi
nhà nước thu hồi đất để sử dụng vào mục đích an ninh quốc phòng, lợi ích
quốc gia, lợi ích công cộng thay thế Nghị định 90/CP, trong đó quy định các dự
án có thu hồi đất ở và đất sản xuất phải lập khu tái định cư để đảm bảo những
người bị ảnh hưởng có thể ổn định đời sống và khôi phục thu nhập [7].
Nội dung chính của Nghị định số 22/1998/NĐ-CP liên quan đến công
tác bồi thường, hỗ trợ, tái định cư gồm: Quy định đền bù thiệt hại về đất, điều
kiện được đền bù đất, khung giá đất; Quy định đền bù thiệt hại về tài sản gắn
liền với đất: cây trồng, vật kiến trúc, nhà ở, di chuyển mồ mả, công trình văn
hóa, di tích lịch sử…; quy định về khu tái định cư: Quỹ đất xây dựng khu tái
định cư, quy hoạch xây dựng điểm dân cư, hệ thống kết cấu hạ tầng,…; quy 16

định về hỗ trợ tái định cư: hỗ trợ di chuyển, hỗ trợ sản xuất, hỗ trợ lương
thực, y tế, giáo dục, hỗ trợ gia đình chính sách, thưởng di chuyển đúng tiến
độ; tổ chức tái định cư: vai trò của chủ đầu tư, chính quyền địa phương, hộ
dân phải di chuyển. Nghị định số 22/1998/NĐ-CP cung cấp chi tiết hơn về

hộ dân trự c tiế p sả n xuấ t mà không có đấ t để bồ i thườ ng cho việ c tiế p tụ c sả n
xuấ t thì ngoà i việ c bồ i thườ ng bằ ng tiề n, ngườ i bị thu hồ i đấ t cò n đượ c hỗ trợ để
ổn định đờ i số ng, đà o tạ o chuyể n đổ i ngà nh nghề, bố trí việ c là m mớ i [24].
Tuy nhiên, những chính sách trên còn có nhiều hạn chế đặc biệt là với đối
tượng tái định cư ở các công trình thủy điện. Về phạm vi áp dụng: việc thu hồi
đất để xây dựng các công trình thủy điện chiếm một diện tích lớn đất đai, gồm cả
đất ở và đất canh tác, số lượng dân cư di dời lớn, tập trung có tính chất đặc thù
nên áp dụng các chính sách trên là chưa phù hợp; Về đối tượng đền bù thiệt hại
và điều kiện để được đền bù về đất: Quy định tính hợp pháp của đất đai của chủ
sở hữu. Điều này sẽ gây khó khăn cho đồng bào miền núi, dân tộc vì đất đai của
họ mới trong quá trình được hợp pháp hóa, chưa đủ các thủ tục. Hơn nữa việc sở
hữu đất truyền thống, tập quán du canh cũng làm khó khăn hơn việc xác định
tính pháp lý của đất đai để thực hiện đền bù.
Trên thực tế, nảy sinh nhiều vướng mắc trong công tác thống kê, kiểm kê
và đền bù không đầy đủ, dẫn đến khiếu kiện; các yếu tố tự nhiên, kinh tế, xã hội
theo đặc thù từng vùng, nhóm dân tộc chưa được tính toán đầy đủ, cân nhắc
trước khi đưa ra các chính sách cụ thể và phương án tái định cư, tạo lập môi
trường sống mới để bảo đảm yếu tố phù hợp đối với các cộng đồng dân cư; lập
khu tái định cư; các Nghị định của Chính phủ chưa hướng dẫn cụ thể về mặt tiêu
chí quy mô cũng như các tiêu chuẩn đối với việc quy hoạch thiết kế xây dựng
khu tái định cư, dẫn đến không thống nhất giữa các dự án; quy định về xây dựng
các khu tái định cư ở miền núi theo tiêu chuẩn nông thôn (400 m
2
đất ở/hộ) là 18

chưa phù hợp với đặc điểm, tập quán sinh sống của người dân; giá đất để tính
đền bù thiệt hại chỉ quy định mục đích sử dụng đất và số lượng chứ không quy

Chính sách hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi đất để sử dụng vào mục đích quốc
phòng, an ninh, lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng, mục đích phát triển kinh
tế trên địa bàn tỉnh Tuyên Quang (thay thế cho Quyết định số 13/2008/QĐ-
UBND của Uỷ ban nhân dân tỉnh).
Từ năm 2003 đến nay, do nguồn vốn đầu tư cho phát triển của tỉnh còn
hạn chế, tốc độ đô thị hoá chưa cao nên công tác bồi thường giải phóng mặt
bằng của tỉnh chưa nhiều. Để tạo điều kiện giúp người dân có đất bị thu hồi
phát triển sản xuất, ổn định cuộc sống, Uỷ ban nhân dân tỉnh đã chỉ đạo áp
dụng chính sách bồi thường đúng quy định, giá bồi thường ở mức cao trong
khung giá quy định chính phủ, đáng chú ý là tỉnh đã chỉ đạo triển khai chủ
trương bố trí đất ở và dịch vụ cho các hộ dân có đất thu hồi trước khi thực hiện
các dự án nên đã tạo sự đồng thuận của người có đất thu hồi. Ngoài ra, tỉnh còn
hỗ trợ các địa phương có đất nông nghiệp bị thu hồi xây dựng các công trình
đường giao thông, bê tông hoá kênh mương trong khu vực có đất thu hồi. Đối
với các dự án có đất thu hồi lớn, tập trung như: Nhà máy thuỷ điện Tuyên
Quang có chính sách bồi thường riêng.
Tuy nhiên, hiện nay theo quy định của Luật đất đai đối với những dự
án nhà nước không thu hồi đất, các chủ đầu tư nhận chuyển nhượng, nhận
góp vốn bằng quyền sử dụng đất của các hộ dân, do vậy để có đất làm mặt
bằng sản xuất kinh doanh một số chủ đầu tư đã bị một số người dân ép nâng
giá đất; trong cùng một dự án giá chuyển nhượng quyền sử dụng đất của các
hộ khác nhau, cá biệt có một số hộ không nhất trí chuyển nhượng cho nhà
đầu tư đã dẫn đến tình trạng dự án dở dang, chậm thực hiện do không đủ
mặt bằng để xây dựng, điều này đã gây không ít khó khăn cho các dự án
đầu tư khi nhà nước thu hồi đất. 20

Chƣơng 2

2.2.1.2. Kết quả thực hiện các dự án di dân tái định cư
- Kết quả di chuyển dân của dự án; kết quả xây dựng hạ tầng kỹ thuật
các khu tái định cư trên địa bàn tỉnh.
- Kết quả thực hiện hỗ trợ phát triển sản xuất, giao đất tái định cư; khả
năng sử dụng vốn và tình hình sản xuất của các hộ tái định cư trên địa bàn
tỉnh Tuyên Quang.
- Đánh giá thực trạng công tác di dân tái định cư, trong đó nêu rõ
những mặt đã đặt được, những tồn tại, hạn chế và phân tích rõ những
nguyên nhân của những tồn tại, hạn chế.
2.2.1.3. Đề xuất các giải pháp cụ thể cho công tác quy hoạch tổng
thể di dân tái định cư, ổn định đời sống cho người dân tái định cư
- Hỗ trợ đất ở, đất sản xuất.
- Hỗ trợ phát triển sản xuất, ổn định đời sống.
- Đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng khu tái định cư
2.2.2. Phương pháp nghiên cứu
2.2.2.1. Phương pháp điều tra cơ bản
a) Tài liệu thứ cấp
- Thu thập các văn bản pháp lý của Trung ương, của tỉnh liên quan
đến công tác bồi thường giải phóng mặt bằng khi Nhà nước thu hồi đất.
- Thu thập tài liệu về các chính sách của Nhà nước và cơ chế của tỉnh
đối với giải phóng mặt bằng thực hiện dự án. 22

- Thu thập tài liệu, số liệu về kinh tế, xã hội, đời sống, việc làm của các
hộ tái định cư trong khu vực nghiên cứu (các số liệu được thu thập tại Ban Di
dân tái định cư thuỷ điện Tuyên Quang và các sở, ban ngành có liên quan).
b) Tài liệu sơ cấp
Điều tra, phỏng vấn trực tiếp các hộ gia đình, cá nhân tại các khu tái

sống việc làm ngƣời dân bị thu hồi đất trƣớc khi thực hiện dự án
3.1.1. Khái quát về dự án thuỷ điện Tuyên Quang
Dự án đầu tư xây dựng công trình nhà máy thuỷ điện Tuyên Quang
được khởi công xây dựng năm 2003 theo Quyết định số 288/QĐ-TTg ngày 19
tháng 4 năm 2003 của Thủ Tướng Chính phủ. Công trình được xây dựng trên
sông Gâm thuộc địa bàn huyện Na Hang tỉnh Tuyên Quang; đập của công
trình là đập đá đổ đầm nén bản mặt bê tông cốt thép được xây dựng đầu tiên
ở Việt Nam, đập cao gần 100m.
Nhà máy thủy điện Tuyên Quang là một trong những công trình trọng
điểm của đất nước được thi công tại huyện Na Hang tỉnh Tuyên Quang với
tổng vốn đầu tư 7.500 tỷ đồng. Công trình này do Tổng công ty Điện Lực
Việt Nam (EVN) làm chủ đầu tư và Tổng công ty Sông Đà thực hiện thi
công. Công trình được xây dựng dưới hình thức tổng thầu EPC (đơn vị trúng
thầu vừa thiết kế, vừa thi công và mua sắm, lắp đặt trang thiết bị). Đây là nhà
máy thuỷ điện có công suất lớn thứ Ba của miền Bắc sau nhà máy thuỷ điện
Sơn La và Hoà Bình. Sau khi hoàn thành, dung tích hồ chứa nước từ 1.000
triệu đến 1.500 triệu m
3
để phòng chống lũ cho thành phố Tuyên Quang và
tham gia vào giảm lũ đồng bằng sông Hồng, tạo nguồn cấp nước mùa khô
cho đồng bằng sông Hồng; nhà máy cung cấp cho lưới điện quốc gia với
công suất lắp đặt 342 MW, sản lượng điện trung bình hàng năm 1.295 KWh.
Với lưu vực rộng lớn 14.972 km
2
gồm của sông Gâm, sông Lăng và hồ Ba
Bể, lại có cột nước thấp, công trình thủy điện Tuyên Quang có ưu thế lớn với
công suất thiết kế. 24

dựng lại kết cấu hạ tầng, công trình kiến trúc - văn hoá xã hội của các tổ chức,
đơn vị trong mặt bằng thi công và vùng ngập hồ chứa thuỷ điện.
3.1.3. Về số dân phải di chuyển và phương án tạo lập các điểm TĐC
3.1.3.1. Về số dân phải di chuyển
Tổng số dân phải di chuyển là 4.821 hộ, với 23.630 khẩu (trong đó: Tỉnh
Tuyên Quang 4.139 hộ, với 20.138 khẩu thuộc 88 thôn, bản; tỉnh Hà Giang
624 hộ, với 3.172 khẩu; tỉnh Bắc Kạn 58 hộ, với 320 khẩu); có 4 xã phải di
chuyển 100% số thôn bản. Số dân bố trí tại điểm tái định cư là 4.310 hộ,
21.163 khẩu (trong đó: Tỉnh Tuyên Quang 4.099 hộ, 19.980 khẩu; tỉnh Hà
Giang 153 hộ, 863 khẩu; tỉnh Bắc Kạn 58 hộ, 320 khẩu). Số hộ tái định cư tự
di chuyển là 511 hộ, 2.467 khẩu. Người dân bị thu hồi đất chủ yếu là đồng bào
dân tộc thiểu số, cụ thể: Tày 54,8%, Dao 29,2%, H Mông 5,8% còn lại là dân
tộc kinh 10,25%. Nghề nghiệp chủ yếu là sản xuất nông nghiệp (chiếm 92%).
Tổng số có 4.139 căn nhà với tổng diện tích là 323.700 m
2
và 6.016 mồ
mả phải di chuyển. Ngoài ra còn thiệt hại rất lớn về cây trồng, vật nuôi trên đất bị
thu hồi, các công trình giao thông, trường học và các công trình công cộng khác.
3.1.3.2. Phương án tạo quỹ đất lập khu, điểm tái định cư
- Quỹ đất lập khu, điểm tái định cư được hình thành chủ yếu từ việc
khai hoang mở rộng diện tích; chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa người
dân sở tại với người dân tái định cư và từ quỹ đất chưa sử dụng tại địa bàn 04
huyện của tỉnh Tuyên Quang.
- Về diện tích đất giao cho các hộ tái định cư: Đất ở giao cho hộ tái
định cư nông nghiệp từ 200 m
2
- 400 m
2
/hộ; hộ tái định cư phi nông nghiệp
từ 150 m


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status