PHÂN TÍCH CHỨC NĂNG CỦA TIỀN TỆ VÀ LẠM PHÁT.
Ý NGHĨA NGHIÊN CỨU
Nhóm 3 – Lớp ISB01
- Trần Kim Dự
- Võ Hồng Mai
- Nguyễn Thị Kim Oanh
- Ngô Thùy Trang
- Nguyễn Hồng Sơn
Nhóm 3 1
Mục lục
Nguồn gốc và bản chấ tiền tệ 3
Nguồn gốc tiền tệ 3
Bản chất của tiền tệ 4
Chức năng của tiền tệ 5
Thước đo giá trị 5
Phương tiện lưu thông 5
Phương tiện cất trữ 7
Phương tiện thanh toán 8
Tiền tệ thế giới 9
Phân chia chức năng theo khái niệm kinh tế học 10
Phương tiện trao đổi 10
Đơn vị đánh giá 10
Phương tiện dự trữ giá trị 11
Ý nghĩa nghiên cứu 13
Vai trò của tiền tệ trong nền kinh tế 14
Mở rộng phát triển sản xuất và trao đổi hàng hóa 14
Biểu hiện trị giá quan hệ xã hội 14
Phục vụ mục đích của người sở hữu 14
Lạm phát 15
Khái niệm và các chỉ số 15
Nguyên nhân 16
(kẽm, đồng, sắt, bạc, vàng.) chỉ đến lúc này thì hình thái tiền tệ mới được xác lập và vàng với tư
cách là vật ngang giá chung và đã trở thành tiền tệ, gọi là kim tệ. Vì vậy, vàng – tiền tệ được coi
là một hàng hóa đặc biệt.
• Kết luận:
Tiền tệ là một phạm trù kinh tế và cũng là một phạm trù lịch sử. Sự xuất hiện của tiền là một
phát minh vĩ đại của loài người, nó làm thay đổi bộ mặt của nền kinh tế - xã hội.
Sự ra đời và tồn tại của tiền tệ gắn liền với sự ra đời và tồn tại của sản xuất và trao đổi
hàng hóa. Và trong quá trình này nó xuất hiện vật ngang giá chung.
Nhóm 3 3
Vàng – tiền tệ được coi là một hàng hoá đặc biệt.
Khái niệm:
− Khái niệm cũ: Tiền tệ là một hàng hóa đặc biệt đóng vai trò vật ngang giá chung để đo
giá trị của các hàng hóa khác.Tiền có thể thoã mãn được một số nhu cầu của người sở hữu nó
tương ứng với số lượng giá trị mà người đó tích luỹ được
− Khái niệm mới: Tiền là tất cả những phương tiện có thể làm trung gian trao đổi được
nhiều người thừa nhận
− Tiền là bất cứ cái gì được chấp nhận chung trong thanh toán để đối lấy hàng hoá, dịch vụ
hoặc trả các khoản nợ.
Bản chất của tiền tệ:
− Tiền tệ thực chất là vật trung gian môi giới trong trao đổi hàng hoá dịch vụ, giúp quá
trình trao đổi diễn ra dễ dàng hơn.
− Lúc đầu vật ngang giá chung là hàng hoá thông thường (bò, cừu, rìu) sau đó là hàng hoá
mở rộng (kẽm, đồng, bạc) và cuối cùng là tiền tệ.
Hàng hoá thông thường Hàng hoá tiền tệ
- Giá trị: đo lường hao phí lao động kết
tinh trong hàng hoá thông qua giá cả
- Giá trị sử dụng: nhằm thoả mãn một
nhu cầu nào đó của con người
- Giá trị: là thước đo đo lường giá trị
của những hàng hoá khác.
- Với chức năng phương tiện lưu thông, tiền làm môi giới trong trao đổi hàng hoá. Nó vận
động đồng thời và ngược chiều với sự vận động của hàng hóa. Như vậy, lưu thông hàng hóa là
hình thức trao đổi hàng hóa lấy tiền làm môi giới.
- Khi thực hiện chức năng phương tiện lưu thông, tiền phải đáp ứng các điều kiện sau:
Nhóm 3 5
• Phải sử dụng tiền mặt, đang có giá trị lưu hành với kích thước, hình dáng, và tiêu
chuẩn về giá cả nhất định, được pháp luật nhà nước thừa nhận. Nguyên nhân là vì
tiền mặt được coi như “bằng chứng” cho sự chuyển quyền sở hữu khi mua và bán.
• Có thể sử dụng tiền đầy đủ giá trị như tiền vàng hoặc tiền dấu hiệu như tiền giấy.
• Lưu thông chỉ chấp nhận một số lượng tiền nhất định theo quy luật lưu thông tiền tệ.
- Hình thái trao đổi này trở thành phương tiện và động lực thúc đẩy nền kinh tế tăng
trưởng nhanh chóng, buôn bán trở nên dễ dàng, sản xuất thuận lợi. Khi mức dộ tiền tệ hóa ngày
càng cao thì hoạt động giao lưu kinh tế càng được diễn ra thuận lợi, trôi chảy.
- Công thức của lưu thông hàng hoá là H - T – H.
• H-T: Hành vi bán: chuyển hóa giá trị hàng hóa thành tiền
• T-H: Hành vi mua:
- Hai giai đoạn trên được thực hiện độc lập với nhau: kết thúc giai đoạn bán mới thực hiện
giai đoạn mua. Ở đây có sự tách rời giữa hành vi mua và hành vi bán cả về không gian và thời
gian (mua chỗ này và bán chỗ khác; mua lúc này và bán lúc khác). Chính sự tách rời này có thể
dẫn đến hiện tượng mất cân bằng cung – cầu về một số loại hàng hóa theo thời gian và không
gian; là mầm mống cho khủng hoảng kinh tế.
- Để thực hiện chức năng lưu thông, lúc đầu người ta dùng vàng thoi hoặc bạc nén nhưng
khó khăn khi chia nhỏ, nên dần dần được thay bằng tiền đúc. Tuy nhiên, viêc lưu thông tiền đúc
làm cho tiền đúc bị hao mòn dần và không còn đầy đủ giá trị ban đầu (giá trị thực). Tuy nhiên,
nó vẫn được xã hội chấp nhận như tiền đủ giá trị (giá trị danh nghĩa).
- Như vậy, giá trị thực của tiền tách rời với giá trị danh nghĩa của nó. Tuy nhiên, vì tiền
làm phương tiện lưu thông chỉ mang chức năng trung gian và chỉ đóng vai trò trong chốc lát nên
giá trị thực của tiền không nhất thiết phải bằng giá trị danh nghĩa của nó.
- Thực tiễn đó dẫn đến sự ra đời của tiền giấy vì bản thân tiền giấy không có giá trị (giá trị
thực) mà chỉ là dấu hiệu của giá trị (giá trị danh nghĩa) và được công nhận trong phạm vi quốc
- Dự trữ giá trị mang mục đích dự trữ không ấn định thời gian sử dụng thì được gọi là cất
trữ. Chức năng này đòi hỏi tiền tệ phải đủ giá trị vì dụ như tiền vàng, bạc, tiền tệ rút khỏi lưu
thông và chỉ tung vào lưu thông khi cần thiết. Tiền cất trữ được đưa vào lưu thông khi sản xuất
tăng, lượng hàng hóa nhiều. Một phần tiền vàng rút khỏi lưu thông đi vào cất trữ khi sản xuất
giảm, lượng hàng hóa ít.
- Khi tiền tệ chưa xuất hiện, người ta thường thực hiện cất trữ của cải dưới hình thái hiện
vật. Tuy nhiên, hình thái này không tiện lợi vì nó đòi hỏi phải có chỗ rộng rãi, phải tốn nhiều chi
phí bảo quản, dễ hư hỏng, khó lưu thông và it sinh lời.
- Khi tiền tệ xuất hiện, người ta dần dần thay thế cất trữ của cải dưới dạng tiền tệ. Hình
thái này có nhiều ưu điểm, điểm nổi bật là dễ lưu thông và thanh khoản. Tuy nhiên, cất trữ dưới
hình thái tiền tệ có nhược điểm là có thể dễ mất giá khi nền kinh tế có lạm phát.
- Ngoài ra, việc cất trữ giá trị có thể thực hiện bằng các phương tiện khác ngoài tiền như
cổ phiếu, trái phiếu, đất đai, nhà cửa … Một số loại tài sản như vậy đem lại mức lãi suất cao hơn
cho người giữ hoặc giảm thiểu rủi ro biến động giá so với tiền mặt. Tuy nhiên người ta vẫn giữ
Nhóm 3 7
tiền với mục đích dự trữ giá trị bởi vì tiền có thể chuyển đổi một cách nhanh chóng ra các tài sản
khác, còn các tài sản khác nhiều khi đòi hỏi một chi phí giao dịch cao khi người ta muốn chuyển
đổi nó sang tiền.
- Việc thực hiện chức năng phương tiện dự trữ giá trị của tiền tốt đến đâu tuỳ thuộc vào sự
ổn định của mức giá chung, do giá trị của tiền được xác định theo khối lượng hàng hoá mà nó có
thể đổi được. Khi mức giá tăng lên, giá trị của tiền sẽ giảm đi và ngược lại. Sự mất giá nhanh
chóng của tiền sẽ làm cho người ta ít muốn giữ nó, điều này thường xảy ra khi lạm phát cao. Do
vậy, để tiền tệ thực hiện được chức năng phương tiện cất trữ đòi hỏi hệ thống tiền tệ quốc gia
phải đảm bảo được sức mua.
d. Phương tiện thanh toán
Quá trình lưu thông hàng hóa phát triển, ngoài quan hệ hàng hóa-tiền tệ, còn phát sinh
những nhu cầu vay mượn, thuế khóa, nộp địa tô…bằng tiền. Trong những trường hợp này, tiền
tệ chấp nhận chức năng thanh toán.
− Thanh toán bằng tiền mặt là phương thức thanh toán đơn giản và tiện dụng nhất được sử
dụng để mua bán hàng hoá một cách dễ dàng. Tuy nhiên, nó chỉ phù hợp với nền kinh tế có quy
cầm séc và CMND ra ngân hàng là có thể nhận được tiền hoặc chuyển vào tài khoản nhưng hiện
nay, tỷ lệ thanh toán bằng séc mới chiếm khoảng 2% trong tổng thanh toán phi tiền mặt.
• Nguyên nhân thanh toán bằng séc bị hạn chế là do chưa có quy định bắt buộc về hạn
mức phải thanh toán bằng séc mà hiện chỉ “động viên” dùng séc và một nguyên nhân khác là sự
lo ngại của người bán hàng sợ tài khoản của người mua không còn tiền, séc giả, dễ dẫn đến rủi
ro. Việc thanh toán séc cũng gặp không ít phiền phức nếu khách mua và khách bán không có tài
khoản ở cùng một ngân hàng, buộc các NHTM phải thông qua hệ thống thanh toán bù trừ của
NHNN nhưng hiện tại, NHNN chưa có Trung tâm thanh toán bù trừ séc.
e. Chức năng tiền tệ thể giới
Tiền tệ thực hiện chức năng tiền tệ thế giới khi tiền tệ thực hiện bốn chức năng thước đo
giá trị, phương tiện trao đổi, phương tiện thanh toán, phương tiện tích lũy ở phạm vi ngoài quốc
gia, nói cách khác là đồng tiền của một nước thực hiện chức năng tiền tệ thế giới khi tiền của
quốc gia đó được nhiều nước trên thế giới tin dùng và sử dụng như chính đồng tiền của nước họ.
- Một số đơn vị tiền tệ được giao dịch nhiều nhất trên thế giới:
Nhóm 3 9
1. USD ( Đô la Mỹ )
• Đồng đô la Mỹ là đơn vị đồng tiền thống trị nhất hiện nay, bất chấp suy giảm và bất
ổn của mình trong thời gian qua. Trong thực tế, tất cả các loại tiền tệ được đo bằng
cách sử dụng đồng đô la Mỹ như là tiêu chuẩn. Khoảng 90 % các giao dịch trên toàn
thế giới liên quan đến đồng đô la Mỹ.
• Hiện nay đồng đô Mỹ vẫn là hình thức dự trữ hàng đầu trên thế giới.
2. Euro
• Đồng euro là tiền tệ chính thức của 16/24 nước thuộc liên minh châu Âu. Chiếm
khoảng 37 % các giao dịch hằng ngày trên thị trường ngoại hối.
• Đồng tiền này cũng được sử dụng trong năm quốc gia châu Âu và hơn 175 triệu
người trên khắp thế giới sử dụng các loại tiền tệ được ổn định so với đồng euro,
trong đó có hơn 150 triệu người ở châu Phi.
3. Yen Nhật
• Đồng yên Nhật Bản có vị trí thứ ba trong số các loại tiền tệ được giao dịch nhiều
nhất. Khoảng 20 % của các giao dịch hàng ngày trên thị trường ngoại hối liên quan
Chức năng thứ hai của tiền là một đơn vị đánh giá, tức là tiền tệ được sử dụng làm đơn vị để
đo giá trị của các hàng hoá, dịch vụ trong nền kinh tế. Qua việc thực hiện chức năng này, giá
trị của các hàng hoá, dịch vụ được biểu hiện ra bằng tiền, như việc đo khối kượng bằng kg, đo
độ dài bằng m…nhờ đó mà việc trao đổi hàng hoá được diễn ra thuận lợi hơn.
Nếu giá trị hàng hoá không có đơn vị đo chung là tiền, mỗi hàng hoá sẽ được định giá bằng
tất cả các hàng hoá còn lại, và như vậy số lượng giá các mặt hàng trong nền kinh tế ngày nay
sẽ nhiều đến mức người ta không còn thời gian cho việc tiêu dùng hàng hoá, do phần lớn thời
gian đã dàng cho việc đọc giá hàng hoá. Khi giá của các hàng hoá, dịch vụ được biểu hiện
Nhóm 3 11
bằng tiền, không những thuận tiện cho người bán hàng hóa mà việc đọc bảng giá cũng đơn
giản hơn rất nhiều với chi phí thời gian ít hơn sử dụng cho các giao dịch.
Là một đơn vị đánh giá, nó tạo cơ sở thuận lợi cho việc sử dụng tiền làm phương tiện trao
đổi, nhưng cũng chính trong quá trình trao đổi sử dụng tiền làm trung gian, các tỉ lệ trao đổi
được hình thành theo tập quán - tức là ngay từ khi mới ra đời, việc sử dụng tiền làm phương
tiện trao đổi đã dẫn tới việc dùng tiền làm đơn vị đánh giá. Đầu tiên những phương tiện được
sử dụng làm tiền để biểu hiện giá trị hàng hoá cũng có giá trị như các hàng hoá khác. Cơ sở
cho việc tiền biểu hiện giá trị các hàng hoá khác chính là tiền cũng có giá trị sử dụng như các
hàng hoá khác (Theo phân tích của Marx về sự phát triển của các hình thái biểu hiện giá trị
hàng hoá: giá trị hàng hoá được biểu hiện ở giá trị sử dụng của hàng hoá đóng vai trò vật
ngang giá, vật ngang giá chung). Vì vậy trong thời đại ngày nay, mặc dù các phương tiện được
sử dụng là tiền không còn có giá trị như các hàng hoá khác nhưng nó được mọi người chấp
nhận trong lưu thông (có giá trị sử dụng đặc biệt), do đó vẫn được sử dụng để đánh giá giá trị
các hàng hoá. Trong bất kể nền kinh tế tiền tệ nào việc sử dụng tiền làm đơn vị đo lường giá trị
đều mang tính chất trừu tượng, vừa có tính pháp lý, vừa có tính quy ước.
3. Chức năng phương tiện dự trữ giá trị
Là một phương tiện dự trữ giá trị, tiền tệ là nơi cất giữ sức mua qua thời gian. Khi người ta
nhận được thu nhập mà chưa muốn tiêu nó hoặc chưa có điều kiện để chi tiêu ngay, tiền là một
phương tiện để cho việc cất giữ sức mua trong những trường hợp này hoặc có thể người ta giữ
tiền chỉ đơn thuần là việc để lại của cải.
Việc cất giữ như vậy có thể thực hiện bằng nhiều phương tiện ngoài tiền như: Cổ phiếu, trái
• Tiền tệ làm cho sự trao đổi hàng hoá không bị ràng buộc về không gian và thời gian.
• Tiền tệ làm cho việc hạch toán hiệu quả sản xuất kinh doanh dễ dàng
II. Tiền tệ nó biểu hiện giá trị quan hệ xã hội
Quá trình sản xuất giữa các cá nhân, doanh nghiệp luôn diễn ra hoàn toàn độc lập và riêng lẻ
nhưng khi thực hiện trao đổi tiền là sợi dây nối liền giữa những người sản xuất hàng hoá với
nhau. Về hình thức thì chúng có mối quan hệ mật thiết với nhau nhưng về thực chất thì chúng có
mối quan hệ chia rẻ, tiền phân hoá mối quan hệ trong xã hội thành kẻ giàu, người nghèo và có
sự phân cấp địa vị xã hội.
III. Tiền phục vụ cho mục đích của người sở hữu chúng
- Đối với dân cư: tiền là phương tiện phục vụ nhu cầu sống
- Đối với chính sách tài chính quốc gia: tiền là cơ sở để hình thành nên các khoản thu chi
của ngân sách
- Đối với chính sách kinh tế đối ngoại: tiền là cơ sở hình thành nên tỷ giá hối đoái hoặc là
phương tiện chi trả giữa các quốc gia
- Đối với chính sách kinh tế vi mô: cơ sở hình thành vốn và các chỉ tiêu tài chính như chi
phí sản xuất, giá thành sản phẩm, doanh thu, lợi nhuận
- Đối với chính sách kinh tế vĩ mô: tiền là phương tiện để nhà nước điều tiết vĩ mô nền
kinh tế.
Nhóm 3 14
Lạm phát
i. Lạm phát:
Khái niệm:
Lạm phát (Inflation) là hiện tượng kinh tế trong đó giấy bạc lưu thông vượt quá nhu cầu cần
thiết làm cho chúng liên tục bị mất giá, giá cả hàng hóa và dịch vụ không ngừng tăng lên
Phân loại các cấp độ lạm phát
− Lạm phát vừa phải: giá cả tăng chậm < 10% => kích thích sản xuất
− Lạm phát phi mã: giá cả tăng đột biến khoảng từ 10 % -> 999 % => kinh tế trì trệ
− Siêu lạm phát: tốc độ tăng gấp nhiều lần lạm phát phi mã. Nó phá hoại hầu hết các quan
hệ hạ tầng cơ sở của nền kinh tế quốc dân
Phương pháp tính lạm phát:
- Lạm phát do cầu kéo:
Khi nhu cầu của thị trường về một mặt hàng nào đó tăng lên sẽ kéo theo sự tăng lên về
giá cả của mặt hàng đó. Giá cả của các mặt hàng khác cũng theo đó leo thang, dẫn đến sự tăng
giá của hầu hết các loại hàng hóa trên thị trường. Lạm phát do sự tăng lên về cầu (nhu cầu tiêu
dùng của thị trường tăng) được gọi là “lạm phát do cầu kéo”.
- Lạm phát do chi phí đẩy:
Chi phí đẩy của các doanh nghiệp bao gồm tiền lương, giá cả nguyên liệu đầu vào, máy
móc, chi phí bảo hiểm cho công nhân, thuế Khi giá cả của một hoặc vài yếu tố này tăng lên thì
tổng chi phí sản xuất của các xí nghiệp chắc chắn cũng tăng lên, vì thế mà giá thành sản phẩm
cũng sẽ tăng lên nhằm bảo toàn lợi nhuận và thế là mức giá chung của toàn thể nền kinh tế cũng
sẽ tăng được gọi là “lạm phát do chi phí đẩy”.
- Lạm phát do cơ cấu:
Với ngành kinh doanh có hiệu quả, doanh nghiệp tăng dần tiền công “danh nghĩa” cho
người lao động. Nhưng cũng có những nhóm ngành kinh doanh không hiệu quả, doanh nghiệp
cũng theo xu thế đó buộc phải tăng tiền công cho người lao động. Nhưng vì những doanh
nghiệp này kinh doanh kém hiệu quả, nên khi phải tăng tiền công cho người lao động, các doanh
nghiệp này buộc phải tăng giá thành sản phẩm để đảm bảo mức lợi nhuận và làm phát sinh lạm
phát.
- Lạm phát do cầu thay đổi:
Khi thị trường giảm nhu cầu tiêu thụ về một mặt hàng nào đó, trong khi lượng cầu về
một mặt hàng khác lại tăng lên. Nếu thị trường có người cung cấp độc quyền và giá cả có tính
chất cứng nhắc phía dưới (chỉ có thể tăng mà không thể giảm, như giá điện ở Việt Nam), thì mặt
hàng mà lượng cầu giảm vẫn không giảm giá. Trong khi đó mặt hàng có lượng cầu tăng thì lại
tăng giá. Kết quả là mức giá chung tăng lên, dẫn đến lạm phát.
Nhóm 3 16
- Lạm phát do xuất khẩu:
Khi xuất khẩu tăng, dẫn tới tổng cầu tăng cao hơn tổng cung (thị trường tiêu thụ lượng
hàng nhiều hơn cung cấp), khi đó sản phẩm được thu gom cho xuất khẩu khiến lượng hàng cung
cho thị trường trong nước giảm (hút hàng trong nước) khiến tổng cung trong nước thấp hơn tổng
cầu. Khi tổng cung và tổng cầu mất cân bằng sẽ nảy sinh lạm phát.
Với lạm phát cao, sức mua được phân phối lại từ những người có thu nhập danh nghĩa
cố định, chẳng hạn như một số người nghỉ hưu có lương hưu không được lập điều chỉnh theo
mức giá, tới những người có thu nhập biến đổi mà thu nhập của họ có thể bắt kịp với mức tăng
lạm phát. Sự phân bố lại sức mua này cũng sẽ xảy ra giữa các đối tác thương mại quốc tế. Ở
những nơi các tỷ giá cố định được áp dụng, việc một quốc gia có lạm phát cao hơn so với quốc
gia khác khiến cho việc xuất khẩu của quốc gia đầu trở nên đắt đỏ và ảnh hưởng đến cán cân
thương mại. Cũng có thể có tác động tiêu cực đối với thương mại từ một sự bất ổn gia tăng
trong trao đổi tiền tệ do lạm phát không thể đoán trước.
− Lạm phát do chi phí đẩy
Lạm phát cao có thể khiến nhân viên yêu cầu tăng lương nhanh chóng, để theo kịp với
giá tiêu dùng. Trong lý thuyết lạm phát do chi phí đẩy, tăng lương có thể gây lạm phát giá nhiên
liệu. Trong trường hợp thương lượng tập thể, tăng trưởng của lương sẽ được thiết lập như là một
hàm của những lạm phát kỳ vọng, mà sẽ cao hơn khi lạm phát cao. Điều này có thể gây ra
một vòng xoáy tiền lương. Một cách nào đó, lạm phát làm phát sinh thêm lạm phát kỳ vọng, mà
điều này lại tiếp tục gây nên lạm phát.
− Đầu cơ
Người ta mua hàng hóa lâu bền và/hoặc không dễ hư hỏng và các hàng hóa khác như
cách tồn trữ của cải, để tránh những tổn thất kỳ vọng từ sự suy giảm sức mua của tiền bạc, tạo ra
tình trạng thiếu thốn do hàng hóa bị đầu cơ.
− Tình trạng bất ổn xã hội và các cuộc khởi nghĩa
Lạm phát có thể dẫn đến các cuộc biểu tình lớn và các cuộc cách mạng.
Ví dụ, lạm phát và cụ thể là lạm phát thực phẩm được coi là một trong những lý do chính
gây ra cách mạng Tunisianăm 2010-2011 và cách mạng Ai Cập năm 2011, theo một số nhà
quan sát bao gồm Robert Zoellick, chủ tịch của Ngân hàng Thế giới. Tổng thống Tunisia Zine
El Abidine Ben Ali đã bị lật đổ, Tổng thống Ai Cập Hosni Mubarak cũng bị lật đổ chỉ sau 18
ngày kể từ ngày các cuộc biểu tình, và các cuộc tuần hành nhanh chóng lan rộng ở nhiều nước
Bắc Phi và Trung Đông.
− Siêu lạm phát
Nếu lạm phát nằm hoàn toàn ngoài tầm kiểm soát (với chiều hướng tăng), nó có thể cản
trở hoạt động bình thường của nền kinh tế, ảnh hưởng đến khả năng cung cấp hàng hóa của nó.
− Tăng lãi suất tiền gửi, đặc biệt là tiền gửi tiết kiệm.
− Cắt giảm các khoản chi chưa cấp bách: trợ cấp, viện trợ
− Bán vàng và ngoại tệ
Nhóm 3 19
− Khuyến khích tự do mậu dịch (quá trình thương mại tự do lưu thông tức là hàng hóa đi
ra nước ngoài và đi vào trong nước tự do), nới lỏng thuế quan nhằm làm cho khối lượng hàng
hóa tăng lên
− Vay và xin viện trợ từ bên ngoài
− Cải cách tiền tệ (tức là bỏ đồng tiền cũ thay thế bằng đồng tiền mới, đây là biện pháp
tình thế
• Biện pháp chiến lược: nhằm đảm bảo cho nền kinh tế có sức mạnh nội sinh (phòng bệnh)
− Xây dựng kế hoạch tổng thể, phát triển sản xuất và lưu thông hàng hóa trong nền Kinh tế
quốc dân
− Tạo ngành sản xuất hàng hóa mũi nhọn cho xuất khẩu, mặt hàng chiến lược phải có kim
ngạch lớn trên thế giới > 100 tỷ USD,nhưng với Việt Nam chưa có mặt hàng hàng vượt trên 10
tỷ , chỉ có dầu khí 3 tỷ; thuỷ sản, gạo, may mặc, giày da, thủ công mỹ nghệ ~ 6 tỷ
Cải cách hành chính, giảm biên chế, kiện toàn bộ máy hành chính
Nhóm 3 20
Ảnh hưởng của lạm phát tại Việt Nam
Ngoài trường hợp lạm phát nhỏ, lạm phát vừa phải (1 con số) có tác dụng tích cực đến
sự phát triển của nền kinh tế xã hội, còn lại nói chung lạm phát đều gây ảnh hưởng xấu đến quá
trình phát triển đi lên của nền kinh tế xã hội.
- Làm cho tiền tệ không còn giữ được chức năng làm thước đo giá trị hay nói đúng hơn là
thước đo này co dãn thất thường, do đó xã hội ko thể tính toán hiệu quả để điều chỉnh
các hoạt động kinh doanh. Người dân mất lòng tin vào đồng tiền, tác dụng điều chỉnh
của thuế bị hạn chế.
- Phân phối lại thu nhập, làm cho một số người nắm giữ các hàng hóa có giá trị tăng đột
biến giàu lên nhanh chóng và những người có hàng hóa mà giá không tăng, hoặc người
giữ tiền nghèo đi.
- Kích thích tâm lý đầu cơ tích trữ hàng hóa, bất động sản, vàng bạc…gây ra tình trạng
Đối với hoạt động huy động vốn: do lạm phát tăng cao, việc huy động vốn của các ngân
hàng gặp nhiều khó khăn. Để huy động được vốn, hoặc không muốn vốn từ ngân hàng mình
chạy sang các ngân hàng khác, thì phải nâng lãi suất huy động sát với diễn biến của thị trường
vốn. Nhưng nâng lên bao nhiêu là hợp lý, luôn là bài toán khó đối với mỗi ngân hàng. Một cuộc
chạy đua lãi suất huy động ngoài mong đợi tại hầu hết các ngân hàng (17% – 18%/năm cho kỳ
hạn tuần hoặc tháng), luôn tạo ra mặt bằng lãi suất huy động mới, rồi lại tiếp tục cạnh tranh đẩy
lãi suất huy động lên, có ngân hàng đưa lãi suất huy động gần sát lãi suất tín dụng, kinh doanh
ngân hàng lỗ lớn nhưng vẫn thực hiện, gây ảnh hưởng bất ổn cho cả hệ thống Ngân hàng
Thương mại (NHTM)
Lạm phát tăng cao, Ngân hàng Nhà nước (NHNN) phải thực hiện thắt chặt tiền tệ để
giảm khối lượng tiền trong lưu thông, nhưng nhu cầu vay vốn của các doanh nghiệp và cá nhân
kinh doanh vẫn rất lớn, các ngân hàng chỉ có thể đáp ứng cho một số ít khách hàng với những
hợp đồng đã ký hoặc những dự án thực sự có hiệu quả, với mức độ rủi ro cho phép. Mặt khác,
do lãi suất huy động tăng cao, thì lãi suất cho vay cũng cao, điều này đã làm xấu đi về môi
trường đầu tư của ngân hàng, rủi ro đạo đức sẽ xuất hiện. Do sức mua của đồng Việt Nam giảm,
giá vàng và ngoại tệ tăng cao, việc huy động vốn có kỳ hạn từ 6 tháng trở lên thật sự khó khăn
đối với mỗi ngân hàng, trong khi nhu cầu vay vốn trung và dài hạn đối với các khách hàng rất
lớn, vì vậy việc dùng vốn ngắn hạn để cho vay trung và dài hạn trong thời gian qua tại mỗi ngân
hàng là không nhỏ. Điều này đã ảnh hưởng đến tính thanh khoản của các ngân hàng, nên rủi ro
kỳ hạn và rủi ro tỷ giá xảy ra là điều khó tránh khỏi.
Lạm phát cao, không ít doanh nghiệp cũng như người dân giao dịch hàng hóa, thanh
toán trực tiếp cho nhau bằng tiền mặt, đặc biệt trong điều kiện lạm phát, nhưng lại khan hiếm
tiền mặt. Theo điều tra của Ngân hàng thế giới (WB), ở Việt Nam có khoảng 35% lượng tiền
lưu thông ngoài ngân hàng, trên 50% giao dịch không qua ngân hàng, trong đó trên 90% dân cư
không thanh toán qua ngân hàng. Khối lượng tiền lưu thông ngoài ngân hàng lớn, NHNN thực
sự khó khăn trong việc kiểm soát chu chuyển của luồng tiền này, các NHTM cũng khó khăn
Nhóm 3 22
trong việc phát triển các dịch vụ phi tín dụng, đặc biệt là dịch vụ thanh toán qua ngân hàng. Vốn
tiền thiếu, nhiều doanh nghiệp thực hiện mua chịu, bán chịu, công nợ thanh toán tăng, thoát ly
ngoài hoạt động.
− Ba là, tập trung sức phát triển sản xuất công nghiệp, nông nghiệp, khắc phục
nhanh hậu quả của thời tiết và dịch bệnh để tăng sản lượng lương thực, thực phẩm. Hiện nay,
tiềm năng tăng trưởng của nước ta còn rất lớn, nhất là khi Việt Nam đã là thành viên đầy đủ của
Tổ chức Thương mại thế giới, đầu tư nước ngoài và đầu tư tư nhân tăng mạnh, thị trường xuất
khẩu được mở rộng, vì vậy, phát triển sản xuất là giải pháp gốc, tạo hiệu quả nhiều mặt, vừa
tăng nguồn cung cho thị trường trong nước và xuất khẩu, góp phần kiềm chế lạm phát, giảm
nhập siêu, vừa thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, lại không gây phản ứng phụ.
Để thực hiện yêu cầu này, Chính phủ đã giao nhiệm vụ cho các bộ trưởng, chủ tịch
UBND các tỉnh và thành phố chỉ đạo quyết liệt, kịp thời tháo gỡ các khó khăn, vướng mắc về
vốn, về thị trường, về thủ tục hành chính, thúc đẩy sản xuất phát triển.
− Bốn là, bảo đảm cân đối cung cầu về hàng hoá, đẩy mạnh xuất khẩu, giảm nhập
siêu. Cân đối cung cầu về hàng hoá, nhất là các mặt hàng thiết yếu cho sản xuất và đời sống
nhân dân là tiền đề quyết định để không gây ra đột biến về giá, ngăn chặn đầu cơ.
Thủ tướng Chính phủ, các bộ trưởng đã và sẽ tiếp tục làm việc với các hiệp hội ngành
hàng, các doanh nghiệp kinh doanh các mặt hàng thiết yếu, như: lương thực, thực phẩm, thuốc
chữa bệnh, xăng dầu, sắt thép, vật liệu xây dựng, phân bón giao nhiệm vụ cho các đơn vị này
phải bảo đảm nguồn hàng, đồng thời có trách nhiệm cùng Chính phủ kiềm giữ giá cả.
− Năm là, triệt để tiết kiệm trong sản xuất và tiêu dùng. Hiện nay, tình trạng lãng
phí trong sản xuất và tiêu dùng diễn ra khá phổ biến ở các cơ quan, đơn vị. Tiềm năng tiết kiệm
trong sản xuất và tiêu dùng là rất lớn. Vì vậy, Chính phủ yêu cầu các cơ quan nhà nước cắt giảm
10% chi tiêu hành chính, các doanh nghiệp phải rà soát tất cả các khoản chi nhằm hạ giá thành
và phí lưu thông. Chính phủ kêu gọi mọi người, mọi nhà triệt để tiết kiệm tiêu dùng, nhất là
nhiên liệu, năng lượng. Đây là giải pháp vừa có tác dụng giảm sức ép về cầu, giảm nhập siêu,
vừa góp phần nâng cao hiệu quả của cả nền sản xuất xã hội.
− Sáu là, tăng cường công tác quản lý thị trường, kiểm soát việc chấp hành pháp
luật nhà nước về giá. Kiên quyết không để xảy ra tình trạng lạm dụng các biến động trên thị
trường để đầu cơ, nâng giá, nhất là các mặt hàng thiết yếu cho sản xuất và tiêu dùng, như: xăng
dầu, sắt thép, xi măng, thuốc chữa bệnh, lương thực, thực phẩm…; ngăn chặn tình trạng buôn
lậu qua biên giới, đặc biệt là buôn lậu xăng dầu, khoáng sản.
Các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế phải thường xuyên kiểm tra giá bán tại
− Thứ ba, phát triển các dịch vụ phi tín dụng, đặc biệt là dịch vụ thanh toán không
dùng tiền mặt. Phát triển các dịch vụ phi tín dụng vừa có điều kiện tăng thu nhập cho ngân hàng,
vừa thu hút khách hàng đến với ngân hàng để tăng khả năng huy động vốn với chi phí thấp. Để
tăng tỉ lệ dịch vụ phi tín dụng, về phía các ngân hàng cần: Nâng cao chất lượng và tính tiện ích
của dịch vụ theo hướng: (i) Đối với dịch vụ truyền thống: đây là yếu tố nền tảng không chỉ có ý
Nhóm 3 25