PHẦN I: MỞ ĐẦU
I. LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI:
1.CƠ SỞ LÍ LUẬN
Ông cha ta từ xưa có câu “ Không thầy đố mày làm nên”, điều đó cho ta thấy
từ lâu vai trò của người giáo viên đã được đánh giá rất lớn trong cuộc đời của mỗi
con người. Giáo viên cũng chính là nhân vật quan trọng trong việc nâng cao chất
lượng giảng dạy hay nói rộng hơn là sự thành công vững chắc của một nền giáo
dục. Lịch sử mấy nghìn năm của văn minh nhân loại đã chứng minh rằng: “ Một
dân tộc có văn hoá bao giờ cũng có một sức mạnh lớn, nền kinh tế phát triển cao
đều có tiền đề từ giáo dục. Giáo dục thực sự là tiền đề thúc đẩy nền kinh tế- xã hội
phát triển.”
Trong những năm gần đây, sự nghiệp giáo dục đào tạo ở Việt nam là vấn đề
được xã hội rất quan tâm. Khi bàn đến vai trò của những người thầy trong sự
nghiệp giáo dục, Thủ tướng Phạm Văn Đồng viết “Thầy giáo là một nhân vật trọng
tâm trong nhà trường, là người quyết định đào tạo nên những con người mới xã hội
chủ nghĩa. Vậy thầy giáo phải không ngừng vươn lên, rèn luyện tu dưỡng về mọi
mặt để thực sự xứng đáng là người thầy giáo xã hội chủ nghĩa”.
Công tác bồi dưỡng cho đội ngũ giáo viên có tầm quan trọng chiến lược, có
tính chất quyết định chất lượng giáo dục và dạy học trong nhà trường, bởi lẽ lao
động sư phạm là lao động sáng tạo, đòi hỏi người giáo viên phải có kiến thức sâu và
toàn diện, luôn bổ sung cái mới nhằm hoàn thiện nghệ thuật sư phạm. Tính đa dạng,
phức tạp của hoạt động giảng dạy - giáo dục đòi hỏi người lãnh đạo nhà trường phải
thường xuyên chú ý đến việc bồi dưỡng nâng cao trình độ lý luận và nghiệp vụ của
giáo viên.
Thủ tướng Phan Văn Khải đã nêu : “ Khâu quan trọng nhất để nâng cao
chất lượng giáo dục là người thầy. chương trình và sách giáo khoa có cải tiến, cơ
sở vật chất có đầu tư bao nhiêu mà không có thầy dạy giỏi, thầy dạy tốt, người
quản lí giỏi, người quản lí tốt thì cũng vô ích.”
1
Vì vậy ng−ời lãnh đạo, quản lý nhμ tr−ờng phải hết sức coi trọng xây dựng,
viên trong các trường tiểu học còn hạn chế. Do vậy nhiệm vụ bồi dưỡng tư tưởng
chính trị, chuyên môn nghiệp vụ cho đội ngũ giáo viên là rất cần thiết. Hiệu quả của
công tác bồi dưỡng và phát triển đội ngũ giáo viên có tác động quyết định kết quả
dạy học và giáo dục của nhà trường tiểu học.
Chúng ta đều biết rằng : Trong các nhμ tr−ờng đội ngũ giáo viên có vai trò
quyết định chất l−ợng giáo dục, chất l−ợng giáo viên có tốt thì chất l−ợng giáo dục
mới tốt .
Tr−ờng có nhiều giáo viên giỏi thì mới có nhiều lớp đạt chất l−ợng cao. Đội
ngũ giáo viên chủ nhiệm trong tr−ờng Tiểu học lμ nhân tố quyết định hiệu quả giáo
dục của các khối lớp .
Muốn có phong trμo toμn diện mạnh thì phải có đội ngũ giáo viên cốt cán
giỏi về chuyên môn nghiệp vụ ,giỏi về công tác chủ nhiệm lớp, giỏi về chỉ đạo hoạt
động Đoμn , Đội …
Có đội ngũ cốt cán giỏi, có giáo viên dạy các môn tự chon tốt nh−ng điều
hμnh nh− thế nμo để họ tận tâm với nghề nh−ng lại có trách nhiệm cao với tập thể,
phối hợp nhịp nhμng, đồng thuận, vì mục tiêu chung của tr−ờng, trách nhiệm nμy
lại lμ của các nhμ quản lý .
Nh− vậy : Vai trò của đội ngũ giáo viên lμ cực kỳ quan trọng. Muốn chỉ
đạo vμ điều hμnh đội ngũ để họ tận tâm với nghề, có trách nhiệm cao với tinh
thần tập thể, phối hợp tốt trong công việc vμ đồng thuận vì mục tiêu lớn của
tr−ờng đòi hỏi ng−ời Hiệu tr−ởng phải có những giải pháp hợp lý nhằm xây
dựng đội ngũ giáo viên để nâng cao chất l−ợng giáo dục.
Xuất phát từ việc bồi dưỡng đội ngũ giáo viên, nhất là giáo viên tiểu học là
một việc làm hết sức cần thiết và quan trọng mang tính chiến lược của thời đại, là
tiếng gọi tha thiết của lương tâm và trách nhiệm của các cấp quản lý giáo dục, là
nhu cầu thiết thực của mỗi giáo viên, là mong muốn của toàn xã hội và cũng chính
3
là thực hiện chủ đề năm học : “ Tiếp tục đổi mới quản lí và nâng cao chất lượng
giáo dục”; cuộc vận động: “Mỗi thầy cô giáo là một tấm gương đạo đức, tự học
và sáng tạo”. Là cán bộ quản lý của nhà trường, tôi rất băn khoăn với công tác bồi
Cuối học kì I
Giữa Học kì II
Cuối năm học
Đối chiếu ,so sánh các mẫu biểu vμ rút ra kết luận.Từ các kết luận đ−a ra các giải
pháp .
V. Phương pháp nghiên cứu.
Khi tiến hành đề tài này, tôi sử dụng một số phương pháp cơ bản sau:
- Phương pháp nghiên cứu lý luận.
- Sử dụng các phương pháp nghiên cứu thực tiễn: điều tra, khảo sát, trò chuyện,
phỏng vấn.
- Phương pháp phân tích và tổng kết kinh nghiệm.
Trong các phương pháp trên, phương pháp phân tích và tổng kết kinh nghiệm
đóng vai trò chủ đạo.
VI. Thời gian hoàn thành.
Kinh nghiệm được đưa vào thực nghiệm từ năm học 2010-2011.
Thời gian hoàn thành: Tháng 2 năm 2012
5
PHẦN II: NỘI DUNG
I. CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA CÔNG TÁC XÂY DỰNG BỒI DƯỠNG ĐỘI
NGŨ GIÁO VIÊN
1. Yêu cầu về việc bồi dưỡng đội ngũ giáo viên trong bối cảnh hiện nay.
Bồi dưỡng đội ngũ giáo viên có vai trò rất quan trọng, song đội ngũ giáo viên
tiểu học của nước ta đa dạng về nguồn gốc đào tạo, tỷ lệ đào tạo chuẩn đã đựơc
nâng lên nhưng vẫn còn thấp so với các cấp học khác. Tập thể sư phạm trường tiểu
học đơn cấp về trình độ đào tạo, một số giáo viên mới chỉ tập trung dạy Tiếng việt,
Toán, chỉ chú ý rèn các kỹ năng đọc, viết và tính toán; chưa chú ý đúng mức tới
việc rèn kỹ năng cho học sinh ở các môn khác.
nhất định và có khả năng sử dụng công nghệ này vào học tập, giảng dạy. Song
thực Ngày nay, khoa học kỹ thuật và công nghệ thông tin phát triển mạnh mẽ. Việc
đưa công nghệ thông tin vào các nhà trường phổ thông mới chỉ là bước đầu. Ngoài
luyện đạo đức tác phong để đáp ứng nhu cầu ngày càng cao theo tiêu chuẩn quy
định đối với người giáo viên tiểu học”.
3. Một số tiêu chuẩn của đội ngũ giáo viên tiểu học trong giai đoạn hiện nay.
7
Người giáo viên tiểu học là người thầy đầu tiên khi lần đầu trẻ đến trường học.
Đối với bậc tiểu học, giáo viên là “ thần tượng”, là trí tuệ, là lí tưởng của các em.
Các em tin yêu, vâng lời thầy, coi điều thầy nói là chân lí, việc thầy làm là chuẩn
mực.
Các tiêu chuẩn đặc trưng cơ bản của người giáo viên tiểu học là:
- Có phẩm chất đạo đức, tư tưởng tốt , có hình thức phù hợp với học sinh tiểu
học được các em chấp nhận ( hình thể, trang phục…)
- Được đào tạo về nghiệp vụ Sư phạm và đạt trình độ chuẩn.
- Hiểu biết và vận dụng có hiệu quả tri thức sư phạm học, hiểu học sinh và giao
tiếp với học sinh, tác động thích hợp đến từng học sinh.
- Ngôn ngữ chuẩn xác, thích hợp với học sinh cả về ngôn ngữ nói và viết, đủ
sức khoẻ theo yêu cầu nghề nghiệp.
- Có tinh thần trách nhiệm và thực hiện nhiệm vụ giáo dục đạt hiệu quả cao
nhất theo yêu cầu của các cấp quản lý giáo dục.
4. Một số vấn đề về công tác bồi dưỡng đội ngũ giáo viên trong trường tiểu
học.
a. Mục tiên của công tác bồi dưỡng đội ngũ giáo viên:
- Nhằm chuẩn hoá đội ngũ giáo viên vốn được đào tạo từ nhiều nguồn khác
nhau để hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao.
- Trau dồi chuyên môn nghiệp vụ, bổ sung cập nhật kiến thức theo yêu cầu
mới, tránh sự tụt hậu so với thời đại.
- Nâng cao trách nhiệm nghề nghiệp, có lòng yêu nghề và không ngừng học
tập, phấn đấu vươn lên.
b. Nội dung bồi dưỡng
Xuất phát từ đặc điểm của giáo dục tiểu học, công tác bồi dưỡng đội ngũ giáo viên
cần thực hiện các nội dung sau:
động sáng tạo, đòi hỏi người giáo viên phải có kiến thức sâu và toàn diện, luôn bổ
9
sung cái mới nhằm hoàn thiện nghệ thuật sư phạm. Tính đa dạng, phức tạp của hoạt
động giảng dạy - giáo dục đòi hỏi người lãnh đạo nhà trường phải thường xuyên
chú ý đến việc bồi dưỡng nâng cao trình độ lý luận và nghiệp vụ cho giáo viên.
* Yêu cầu đổi mới của chương trình và sách giáo khoa Tiểu học:
Trong thời đại công nghệ thông tin và sinh học phát triển như vũ bão, cùng
với xu thế toàn cầu hoá và công cuộc công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, Đảng
ta khẳng định "Phát triển giáo dục và đào tạo là một trong những động lực thúc đẩy
sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá, là điều kiện phát huy nguồn lực con người
- yếu tố cơ bản để phát triển xã hội, tăng cường kinh tế nhanh, bền vững" (Văn kiện
Đại hội X của Đảng Cộng sản Việt Nam): Yêu cầu đổi mới giáo dục đòi hỏi đội
ngũ giáo viên phải được bồi dưỡng thường xuyên về mọi mặt để đáp ứng thực tiễn.
Theo đường lối đúng đắn của Đảng Cộng sản Việt Nam, Bộ giáo dục và đào
tạo đã triển khai đổi mới chương trình giáo dục các bậc học, các cấp học, trong đó
có cấp tiểu học để tiến kịp xu thế phát triển của các nước trong khu vực và trên thế
giới.
Trước yêu cầu đổi mới của chương trình và sách giáo khoa, đội ngũ giáo viên
cần có trình độ chuyên môn và nghiệp vụ sư phạm vững vàng. Vì vậy, cải tiến việc
chỉ đạo sinh hoạt chuyên môn trong nhà trường là công tác thiết thực, cấp bách.
Điều này góp phần nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác giáo dục của nhà trường.
Đặc biệt Quyết định số 14/2007/BGD&ĐT ngày 4 tháng 5 năm 2007 Bộ Giáo
dục và đào tạo đã ban hành “Chuẩn nghề nghiệp giáo viên tiểu học”. Theo điều 3
của quyết định:
“Mục đích ban hành Chuẩn
1. Làm cơ sở để xây dựng, đổi mới nhiệm vụ, mục tiêu đào tạo, bồi dưỡng
giáo viên tiểu học ở các khoa, trường cao đẳng, đại học sư phạm.
2. Giúp giáo viên tiểu học tự đánh giá năng lực nghề nghiệp, từ đó xây dựng
kế hoạch học tập, rèn luyện phấn đấu nâng cao phẩm chất đạo đức, trình độ chính
trị, chuyên môn, nghiệp vụ.
11
GIÁO VIÊN DẠY GIỎI NĂM HỌC
2007-2008 2008-2009 2009-2010
CẤP TRUỜNG
8/28 10/30 13/32
CẤP HUYỆN
4 4 4
CẤP TỈNH
0 0 1
NĂM HỌC
2007-2008 2008-2009 2009-2010
GIỎI
5/28 6/30 7/32
KHÁ
12 14 17
TRUNG BÌNH
10 10 8
YẾU
1 1 1
Các tổ chuyên môn của trường được biên chế hợp lý, hoạt động thường
xuyên, tương đối hiệu quả. Đội ngũ giáo viên hầu hết lμ lực l−ợng trẻ ,giμu lòng
nhiệt tình vμ tâm huyết với nghề vμ rất ham học hỏi .Tập thể s− phạm của tr−ờng
đoμn kết có ý thức rèn luyên tu dưỡng đạo đức nhμ giáo tốt .
Trong những năm qua kể từ năm 2008 đến nay : chất l−ợng giáo dục toμn diện của
nhμ tr−ờng tốt : Trường luôn xếp thứ hạng cao trong khối Tiểu học của huyện và
năm học 2009-2010 đạt Tập thể Lao động xuất sắc.
Năm học : 2009 – 2010: Số giáo viên dạy giỏi cấp tỉnh : 01 đồng chí .Số giáo viên
dạy giỏi cấp Huyện : 4 đồng chí .Số học sinh xếp loại văn hoá Giỏi : 19%; số học
sinh xếp loại văn hoá Khá: 40% Tỷ lệ học sinh lên lớp: 98,6 %. Bên cạnh những
thuận lợi trên nhà trường còn một số khó khăn:
1. Đề cao vai trò của cán bộ quản lý trong công tác bồi dưỡng giáo viên :
Cán bộ quản lý trước hết phải là tấm gương tiêu biểu về quá trình bồi
dưỡng và tự bồi dưỡng. Quan trọng nhất là phải luôn khẳng định trình độ năng lực
chuyên môn của mình trong tập thể sư phạm.
Trong thực tế, chỉ có tự học mới có thể có điều kiện giúp chúng ta học tập
được thường xuyên và suốt đời. Tự học là một cách tự bồi dưỡng, tự làm giàu kiến
thức cho mình vừa đơn giản, tiết kiệm vừa hiệu quả. Vì vậy trách nhiệm của người
13
quản lý giáo dục là phải suy nghĩ, tìm biện pháp để thổi lên ngọn lửa của phong trào
tự học ,tự bồi dưỡng cho đội ngũ giáo viên bằng nhiều hình thức:
+ Tổ chức các cuộc hội thảo, trao đổi về kinh nghiệm tự học, giúp giáo viên
định hướng việc tự học, tự bồi dưỡng. Xác định được những nội dung cần phải tự
học, tự bồi dưỡng và cách tự học, tự bồi dưỡng như thế nào? Cung cấp cho giáo
viên các thông tin, tài liệu, xây dựng thư viện, phòng đọc, tạo điều kiện tốt nhất cho
giáo viên thực hành việc tự học,tự bồi dưỡng.
+ Tổ chức các hoạt động sư phạm trong nhà trường gắn với tự học. Xây dựng
một cơ chế, chính sách, đánh giá thi đua hoặc gắn lợi ích vật chất đối với việc tự
học, tự bồi dưỡng của giáo viên……
Bản thân mỗi đồng chí trong Ban giám hiệu phải vững vàng về chuyên môn,
không ngừng tự nâng cao về chuyên môn, chịu khó tham khảo tài liệu và học hỏi
đồng nghiệp.
Một trong những nhiệm vụ của Ban giám hiệu là dự giờ của giáo viên và
đánh giá tiết dạy. Bản thân tôi trước đây là giáo viên, đã được Ban giám hiệu dự giờ
nhiều lần, tôi hiểu sâu sắc tầm quan trọng của việc đánh giá tiết dạy của Ban giám
hiệu đối với giáo viên. Đó là sự “ Tâm phục, khẩu phục” nếu là những lời nhận xét
xác đáng, giúp ích cho giáo viên rất nhiều và ngược lại nếu là những lời nhận xét
chung chung, thậm chí sai về kiến thức cơ bản thì sự nhìn nhận của giáo viên đối
với Ban giám hiệu sẽ giảm đi rất nhiều.
Vì vậy, mỗi khi dự giờ, Ban giám hiệu chúng tôi đều xem trước nội dung bài
dạy, tìm bắt kiến thức trọng tâm và khó dạy, đồng thời suy nghĩ để nâng cao kiến
phong trào thi giáo viên dạy giỏi và được đồng nghiệp tin yêu, quý mến.
3. Tăng cường nhận thức, công tác giáo dục tư tưởng chính trị, đạo đức, tác
phong lành mạnh cho giáo viên.
- Làm cho cán bộ giáo viên trong nhà trường nhận thức rõ vai trò quan trọng của
giáo dục và đào tạo trong thời kì công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước. Giáo viên
15
cần nhận thức được rằng: bậc tiểu học là bậc nền tảng trong hệ thống giáo dục, giúp
cho học sinh hình thành được nhân cách bước đầu rất cơ bản để các em có điều kiện
rèn luyện học tập và phát triển các bậc học tiếp theo.
- Thường xuyên cho giáo viên sinh hoạt nâng cao tư tưởng chính trị, coi trọng công
tác dân chủ đặc biệt khâu đoàn kết trong nội bộ, giáo dục tập thể để thấy rõ vai trò
to lớn của đoàn kết(đoàn kết là nguyên nhân của mọi thắng lợi).
- Coi trọng công tác thi đua, công tác động viên tuyên truyền, mạnh dạn đặt niềm tin
vào giáo viên để khơi dậy sự năng động sáng tạo, dám nghĩ, dám làm trong đội ngũ.
Xây dựng mối đoàn kết gắn bó giữa giáo viên và phụ huynh học sinh, nêu rõ được
trách nhiệm của mỗi bên để cùng phối hợp làm công tác giáo dục.
- Xây dựng mối quan hệ đoàn kết giữa giáo viên chủ nhiệm với lãnh đạo Đảng,
chính quyền địa phương, với BGH cũng như các tổ chức đoàn thể, cùng phối hợp
làm công tác giáo dục để giáo dục dào tạo thực sự là sự nghiệp của toàn Đảng, toàn
dân.
- Đặc biệt coi trọng tinh thần tự giác, ý thức trách nhiệm trong việc tự học, tự bồi
dưỡng nhằm nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ để đáp ứng với nhiệm vụ
mới của giáo dục. Luôn coi trọng kết quả chất lưọng giáo dục, lấy học sinh làm
thước đo cuối cùng để đánh giá chất lượng và sự cố gắng của đội ngũ giáo viên.
Giáo dục lý tưởng sống gắn liền với bồi dưỡng phẩm chất nghề nghiệp cho cán bộ
và giáo viên. Tạo mọi điều kiện thuận lợi cho cán bộ, giáo viên được tiếp xúc với
các phương tiện thông tin báo chí; mặt khác nhà trường thường xuyên tổ chức cho
cán bộ, giáo viên được nghe báo cáo thời sự, kịp thời phổ biến những chủ trương,
chính sách của Đảng và nhà nước và chính sách của địa phương. Tổ chức học tập
quán triệt các văn bản, chỉ đạo đổi mới giáo dục phổ thông của nhà nước, của ngành
và học sinh; dự kiến hình thức tổ chức hoạt động dạy học đảm bảo phù hợp với từng
nhóm đối tượng học sinh.
17
Trong năm học, tôi luôn chú ý bồi dưỡng giáo viên dạy học theo đúng
“chuẩn kiến thức kĩ năng và nội dung điều chỉnh các môn học”. Xác định nội dung,
phương pháp giảng dạy đối với giáo viên, yêu cầu cần học đối với từng đối tượng
học sinh, kể cả học sinh cá biệt ,học sinh khuyết tật hòa nhập (nếu có). Căn cứ vào
định hướng trên giáo viên lập kế hoạch bài dạy một cách hợp lý. Quá trình thực hiện
được sự tiếp sức của các thành viên trong hội đồng bồi dưỡng, do vậy trong năm
qua việc soạn bài của giáo viên đã bảo đảm các yêu cầu đề ra.
b, Dự giờ
Ngay từ đầu năm học BGH trường đã chỉ đạo cho mỗi giáo viên dự giờ 2 tiết/
tháng, là giáo viên mới ra trường thì 4 tiết/ tháng. Sau mỗi tiết dự giờ phải có trao
đổi, phân tích, đánh giá, rút kinh nghiệm về giờ dạy theo chuẩn đánh giá giờ dạy.
Các vấn đề cần trao đổi chính là: Tính chính xác, khoa học, qua tiết học học sinh đạt
được những mục đích gì? Về nội dung kiến thức, về kỹ năng, thái độ, phương pháp
giảng dạy của giáo viên có giúp cho học sinh đạt được các mục tiêu đề ra hay
không? Việc sử dụng đồ dùng giảng dạy như thế nào?
Cách tổ chức lớp của giáo viên có phát huy được tính tích cực của học sinh không?
Có quan tâm đến 3 đối tượng học sinh không từ đó rút ra những ưu khuyết điểm và
nguyên nhân để cho bản thân giáo viên được dự giờ và các giáo viên khác cùng tiếp
thu.
Để tạo điều kiện cho các giáo viên có thể dự giờ đầy đủ, chủ động, kế hoạch
dự giờ luôn được báo trước. Ngoài những tiết dự giờ theo kế hoạch của tổ chuyên
môn các giáo viên cần dự giờ thường xuyên giáo viên có kinh nghiệm để học hỏi
thêm kinh nghiệm.
Ban giám hiệu cũng cần dự giờ thường xuyên, đột xuất và các tiết khác khi
thấy cần thiết =>Nhận xét đánh giá. Thông qua dự giờ của giáo viên mà Hiệu
trưởng bồi dưỡng cho giáo viên về kĩ năng dạy học trên lớp, đặc biệt sự linh hoạt
của giáo viên trong việc sử dụng các phương pháp dạy học theo đặc trưng từng bộ
Khi xây dựng kế hoạch năm học Ban giám hiệu đã chỉ đạo tăng cường sinh
hoạt tổ khối chuyên môn. Sinh hoạt tổ chuyên môn 1 tuần/1 lần. Nội dung sinh hoạt
tổ chuyên môn là triển khai kế hoạch của tổ trong tháng, bàn bạc thống nhất các vấn
đề liên quan của tổ trong việc dạy và học, biện pháp nâng cao chất lượng, trao đổi
hướng và tìm cách dạy những bài khó trong tuần, dự giờ, làm đồ dùng dạy học,
kiểm tra hồ sơ chéo, kiểm tra sổ đánh giá học sinh, thống nhất nội dung chương
trình theo chuẩn kiến thức, công tác chủ nhiệm lớp, xếp loại thi đua, chuyên đề sáng
kiến kinh nghiệm, báo cáo chất lượng, sĩ số hàng tháng.
Tổ trưởng chịu trách nhiệm quản lý tổ viên và đôn đốc, nhắc nhở tổ viên thực
hiện tốt nhiệm vụ của mình.
Ban giám hiệu cũng thường xuyên dự họp các tổ, từ đó đánh giá được chất
lượng sinh hoạt tổ
Ban giám hiệu xác định đây là một nội dung quan trọng của công tác quản lý,
nó có vai trò rất lớn trong công tác bồi dưỡng, xây dựng đội ngũ giáo viên và chất
lượng giáo dục. Hoạt động hiệu quả của mỗi giáo viên sẽ tạo ra điều kiện tốt nhất để
mỗi giáo viên tự học hởi lẫn nhau về kiến thức, chuyên môn và nghiệp vụ sư phạm,
từ đó nâng cao trình độ năng lực của mình. Với vai trò như vậy đòi hỏi tổ chuyên
môn phải được tổ chức hợp lý và hoạt động có nề nếp và khoa học.
* Về phía nhà trường:
- Chúng tôi phân tổ, tổ chia thành từng nhóm chuyên môn. Chỉ định tổ trưởng tổ
phó là các giáo viên đầu đàn về chuyên môn, nghiệp vụ, có tinh thần trách nhiệm
cao, được sự tìn nhiệm của đồng nghiệp. Tổ phó đồng thời là các nhóm trưởng.
- Sắp xếp lịch sinh hoạt cho các tổ: sinh hoạt vào chiều thứ năm hàng tuần của tuần
thứ 2 và tuần thứ 4 của tháng.
- Đảm bảo tối đa những đề nghị phục vụ cho công tác chuyên môn mà các tổ đưa ra.
- Tạo điều kiện cho các giáo viên được tiếp cận với các phương pháp dạy học mới
và thời gian để giáo viên tham gia dự các lớp học nâng cao trình độ ( học tại chức,
từ xa ).
20
- Thành lập tổ cốt cán cấp trường. tổ này có nhiệm vụ giúp đỡ, bồi dưỡng nâng cao
Để thực hiện tốt việc đổi mới phương pháp, hàng năm Ban giám hiệu nhà
trường đều có kế hoạch triển khai một số chuyên đề cần thiết, phục vụ cho việc đổi
mới phương pháp giảng dạy ở một số môn nhất định.
Ví dụ: Nếu năm học trước đã triển khai chuyên đề : Toán, Tập đọc, Tự nhiên
xã hội, Lịch sử và địa lý, thì năm sau có thể chuyến sang các chuyên đề: Tập làm
văn, Luyện từ và câu; Khoa học…
e, Ứng dụng công nghệ thông tin trong giảng dạy :
- Yêu cầu 100% giáo viên phải sử dụng thành thạo máy vi tính ,ứng dụng tốt công
nghệ thông tin trong giảng dạy.
Công nghệ thông tin được áp dụng ngày càng rộng rãi trong quá trình dạy học. Nếu
không muốn tụt hậu giáo viên cần sớm tìm hiểu và nắm vững tin học cơ sở, ứng
dụng công nghệ thông tin trong giờ học.
- Phát động phong trào thiết kế bài giảng điện tử, mở các chuyên đề về thiết kế và
sử dụng bài giảng bằng điện tử như mỗi giáo viên phải đăng kí soạn ít nhất 2 giáo
án điện tử trong năm học, đây là tiêu chí thi đua được đưa vào làm tiêu chí thi đua
để đánh giá giáo viên cuối năm.
- Hướng dẫn giáo viên cách lựa chọn tư liệu phù hợp với nội dung của bài. Ví dụ :
Đoạn phim tư liệu về Hồ Quý Ly trong bài : Nước ta cuối thời Trần ( Lịch sử lớp 4).
- Sắp xếp hợp lí, chuẩn bị tốt về phương tiện giảng dạy bằng giáo án điện tử.
- Giúp giáo viên thực hiện các thao tác , hiệu ứng phù hợp , hiệu quả của bài giảng.
Ví dụ như màu sắc, hình ảnh, phông chữ…
- Nhà trường tích cực xây dưng một trang Website riêng và khuyến khích cán bộ
giáo viên đăng kí thành viên nhằm trao đổi kinh nghiệm trong chuyên môn giảng
dạy với đồng nghiệp.
g, Đẩy mạnh phong trào viết sáng kiến kinh nghiệm và đồ dùng tự làm:
22
Viết sáng kiến kinh nghiệm và tham gia nghiên cứu khoa học đối với đội ngũ
giáo viên sẽ có tác dụng thúc đẩy việc thực hiện nhiệm vụ dạy học được tốt hơn,
trình độ hiểu biết về chuyên môn cũng được nâng lên một cách cơ bản. Ban giám
hiệu có hình thức đặc biệt (kết hợp cả tinh thần lẫn vật chất) để khuyến khích, động
sinh và 1 bài viết bảng lớp. Vì vậy giáo viên rất tích cực rèn luyện để thể hiện trước
hội thi như cách phát âm chuẩn, đọc diễn cảm, cách viết nét thanh nét đậm…. Do đó
tỉ lệ giáo viên đọc hay – phát âm chuẩn và viết chữ đẹp năm sau luôn cao hơn năm
trước.
7. Tăng cường công tác kiểm tra của Ban giám hiệu và tổ chuyên môn.
- Kiểm tra là một trong bốn nội dung, chức năng của người cán bộ quản lý trong
công việc quản lý nhà trường. Kiểm tra là vũ khí, là động lực cho sự phát triển.
Trong nhà trường, thực hiện thường xuyên công tác kiểm tra chính là nhắc nhở mọi
người làm việc đúng, đồng thời phát hiện kịp thời những mặt tốt để phát huy, tìm ra
những mặt còn hạn chế để khắc phục. Thói quen nghiêm túc, lμm việc có kế hoạch
khoa học trong công việc không phải tự nhiên ai cũng có mà hầu hết được hình
thành và phát triển trong suốt cả quá trình công tác mà lúc đầu thường là chưa tự
giác. Nói tóm lại là làm tốt công tác kiểm tra theo đúng nguyên tắc, thiết thực sẽ tạo
nên hiệu quả đích thực, giúp mỗi người ngày càng tự giác và nghiêm túc hơn.
- Nhận thức về vai trò tác dụng của công tác kiểm tra như vậy nên chúng tôi tập
trung rút kinh nghịêm về nội dung, phương pháp kiểm tra sau từng năm học nhằm
hoàn thiện hơn về nội dung và biện pháp để hiệu quả thanh tra thiết thực hơn đối
với mục tiêu nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên nói riêng và chất lượng giáo dục
nói chung.
- Chúng tôi xác định nội dung kiểm tra là việc thực hiện các quy định về chuyên
môn như: kế hoạch giảng dạy, soạn giáo án, thực hiện chương trình, thực hiện chế
độ kiểm tra cho điểm, việc chấm, chữa bài cho học sinh, việc dự
24
giờ thăm lớp, tự học, công tác chủ nhiệm, nề nếp vở sạch chữ đẹp và một số công
tác khác.
- Để việc kiểm tra có tác dụng thiết thực, đúng mục đích, đầu năm học chúng tôi
đưa ra hội nghị các mẫu phiếu kiểm tra để mọi người thảo luận, thống nhất rồi mới
thực hiện.
- Trong Ban giám hiệu, chúng tôi phân công mỗi người một tổ, dự các buổi sinh
hoạt tổ với các tổ đó.Khi thực hiện kế hoạch kiểm tra của hiệu trưởng. Ban giám