PHẦN 1
MỞ ĐẦU
1.1. Tính cấp thiết của đề tài
Cây chè (Camellia sinensis (L) O kuntze) là cây công nghiệp dài ngày có
nguồn gốc nhiệt đới và á nhiệt đới, sinh trưởng và phát triển tốt trong điều kiện khí
hậu nóng ẩm, tập trung chủ yếu ở các nước châu Á, châu Phi. Ngày nay, khi khoa
học kĩ thuật phát triển thì cây chè được trồng ở hơn 60 nước trên Thế Giới, trong
đó có Việt Nam [10].
Chè có giá trị về kinh tế, văn hóa và dinh dưỡng. Hầu hết các bộ phận của
cây chè như búp, lá, nụ hoa, không những là nguyên liệu chính dùng để chế biến
các loại sản phẩm trà uống giải khát, thanh nhiệt mà còn có nhiều tác dụng như là
một vị thuốc trong y học. Nước chè có tác dụng bổ dưỡng, chống được lạnh, làm
giảm sự mệt mỏi của cơ bắp và hệ thần kinh trung ương, kích thích vỏ đại não,
làm cho tinh thần minh mẫn. Sở thích thưởng trà từ lâu đã trở thành thú vui thanh
tao, quý phái và là nét đẹp văn hóa truyền thống của nhiều dân tộc trên Thế Giới.
Thói quen uống trà ngày càng phổ biến ở nhiều lứa tuổi và nhiều quốc gia trên thế
giới [5].
Ngoài vai trò là thức uống có giá trị dinh dưỡng và dược liệu, việc trồng
chè còn có khả năng khai thác tốt tiềm năng đất đai, bảo vệ môi trường sinh thái,
giải quyết công ăn việc làm cho nhiều lao động, thúc đẩy quá trình công nghiệp
hóa, hiện đại hóa nông nghiệp nông thôn, đặc biệt là nông nghiệp nông thôn miền
núi [2].
Việt Nam được xem là một trong những quê hương của cây chè và sản
phẩm chè từ lâu đã trở thành một ngành kinh tế quan trọng của nền nông nghiệp
và công nghiệp chế biến thực phẩm của nước ta. Chè Việt Nam đứng thứ 5 trên
Thế Giới về diện tích và sản lượng xuất khẩu. Nước ta là một trong những nước có
nhiều tiềm năng và điều kiện thuận lợi để phát triển sản xuất chè, nhất là ở địa bàn
miền núi và trung du. Cây chè được trồng ở Việt Nam từ lâu đời (4000 năm), hiện
nay đã được phát triển ở 34 tỉnh, thành phố trong cả nước. Cây chè ở Việt Nam
cho năng suất, sản lượng tương đối ổn định và có giá trị kinh tế. Với ưu thế là một
1
cho người sản xuất kinh doanh chè, cho giáo viên, sinh viên, học viên học tập,
nghiên cứu về cây chè.
4. Phạm vi nghiên cứu
- Điều tra đánh giá về năng suất, chất lượng, khả năng sinh trưởng, tuyển chọn
cây chè Trung du đầu dòng.
- Đề tài nghiên cứu được giới hạn trong xã Tân Cương- tỉnh Thái Nguyên.
PHẦN 2
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.1. Cơ sở khoa học của đề tài
Chè là cây lâu năm, nở hoa hàng năm. Cây chè sau trồng 2 – 3 năm đã có
khả năng ra hoa. Cây chè có từ 2000 – 4000 nụ hoa/năm, nhưng tỷ lệ đậu quả rất
thấp, thường chỉ đạt từ 2 – 4 %. Hoa chè là hoa lưỡng tính nhưng khả năng tự thụ
của hoa chè rất thấp, hầu hết các quả chè là kết quả của sự thụ phấn khác hoa, đây
là nguyên nhân quan trọng làm cho cây chè mọc từ hạt có sự phân ly lớn về hình
thái, về khả năng cho năng suất, chất lượng. Nói chung những cây chè con mọc từ
hạt có sự phân ly lớn so với cây mẹ.
Mặt khác chè là cây thân gỗ, ngoài khả năng nhân giống bằng hạt thì người ta
có thể nhân giống chè bằng phương pháp nhân giống vô tính như phương pháp
nuôi cấy mô tế bào, ghép cành, giâm cành… Ưu điểm của phương pháp nhân
giống vô tính là hệ số nhân giống cao, cây con giữ được những đặc tính tốt của
cây mẹ, vườn chè có độ đồng đều cao, có khả năng cho năng suất cao hơn so với
trồng hạt,nguyên liệu có độ đồng đều cao, dễ canh tác, thu hái và chế biến. Dựa
trên cơ sở khoa học này, ngày nay ở hầu hết các cơ sở sản xuất chè trên thế giới
cũng như Việt Nam, các giống chè thường được nhân giống bằng phương pháp
giâm cành.
3
Khả năng giâm cành của chè phu thuộc vào nhiều yếu tố nhưng trong đó có
3 yếu tố quan trọng đó là yếu tố hom giống. Thời vụ giâm cành (điều kiện môi
trường ngoại cảnh) và các biện pháp kỹ thuật chăm sóc trong vườn ươm.
Giống chè Trung Du của tỉnh Thái Nguyên, hầu hết được mọc từ hạt do vậy
nóng ẩm [5].
2.2.2. Phân loại cây chè
Khi nghiên cứu về cây chè, năm 1753 nhà thực vật học nổi tiếng Line đã đặt
tên cho cây chè là: Thea sinensis, sau lại đặt là Camellia Sinensis. Vấn đề này cũng
được nhiều nhà nghiên cứu tranh luận và cũng có rất nhiều cách đặt tên. Theo
Nguyễn Ngọc Kính thì cách phân loại của Cohen Stuart (1919) được các nhà thực
vật học thống nhất đến nay:
Cây chè thuộc:
- Ngành Hạt kín Angiospermae
- Lớp Song tử diệp Dicotyledonae
- Bộ Chè Theales
- Họ Chè Theaceae
- Chi Chè Camellia (Thea)
- Loài Camellia Sinensis
Dựa vào các đặc điểm thực vật học, đặc điểm sinh hóa, nguồn gốc phát sinh
cây chè Cohen Stuart chia Camellia Sinensis ra làm bốn thứ:
a) Chè Trung Quốc lá nhỏ (Camellia sinensis var. Bohea)
Đặc điểm:
- Cây bụi thấp phân cành nhiều.
- Lá nhỏ, dày nhiều gợn sóng, màu xanh đậm, lá dài 3,5 - 6,5 cm.
- Có 6 - 7 đôi gân lá không rõ, răng cưa nhỏ, không đều.
- Búp nhỏ, hoa nhiều, năng suất thấp, phẩm chất bình thường.
5
- Khả năng chịu rét ở độ nhiệt -12
0
C đến -15
0
C.
Phân bố chủ yếu ở miền đông, đông nam Trung Quốc, Nhật Bản và một số
vùng khác.
khác.
2.2.3. Sự phân bố của cây chè
Sự phân bố của cây chè phụ thuộc nhiều vào điều kiện khí hậu. Các kết quả
nghiên cứu đều đưa đến một kết luận chung là: Vùng khí hậu nhiệt đới, á nhiệt đới
thích hợp cho cây chè. Ngày nay, do trình độ khoa học kỹ thuật ngày càng phát
triển đã lai tạo, chọn lọc ra nhiều giống chè khác nhau và được trồng rộng rãi ở
nhiều nước khác nhau trên thế giới. Theo Đỗ Ngọc Quỹ[10], thì hiện nay chè được
phân bố khá rộng từ 42º vĩ Bắc Pochi (Liên Xô cũ) đến 27º Nam Coriente
(Achentina).
Sự phân bố của cây chè theo điều kiện khí hậu đất đai và địa hình cũng có sự
khác nhau. Đất trồng chè tốt phải nhiều mùn, thoát nước tốt và có độ dốc thoải.
Ảnh hưởng của độ cao đã hình thành nên các vùng chè với nhiều giống chè, chất
lượng khác nhau. Các nhà khoa học cho rằng: Chè trồng ở những vùng có độ cao
lớn hơn so với mặt nước biển thường có chất lượng tốt hơn so với chè trồng ở vùng
thấp.
Về điều kiện khí hậu, chè sinh trưởng tốt ở điều kiện nhiệt độ từ 15ºC đến
20ºC, tổng nhiệt độ hàng năm vào khoảng 8.000ºC; lượng mưa trung bình hàng
năm 1500 – 2000 mm; độ ẩm đất 70 - 80%. Tuy nhiên với khả năng thích nghi
rộng cùng với sự tiến bộ của khoa học hiện nay chè được trồng ở những vùng khắc
nghiệt hơn [5].
2.2.4. Đặc điểm sinh trưởng và phát triển của cây chè
7
Chè là cây công nghiệp lâu năm có chu kì kinh tế dài, sản phẩm cho thu
hoạch chính là lá và búp non. Trong thời gian sống cây chè trải qua 2 chu kì phát
triển lớn và chu kì phát triển nhỏ.
- Chu kỳ phát triển lớn bao gồm suốt cả đời sống của cây chè được chia làm
5 giai đoạn: Giai đoạn phôi thai, đây là giai đoạn đầu tiên của cây chè chủ yếu nằm
ở vườn chè giống lấy hạt hoặc lấy cành -> giai đoạn cây con trong vườn ươm ->
giai đoạn cây con -> giai đoạn cây chè trưởng thành -> giai đoạn chè già cỗi.
- Chu kỳ phát triển nhỏ (chu kỳ phát triển hàng năm) bao gồm giai đoạn sinh
xuất khẩu chè.
Theo FAO (2013) thì tình hình sản xuấtchè trên Thế Giới tính đến năm 2011
như sau:
* Về diện tích:
Bảng 2.1: Diện tích chè của thế giới và một số nước trồng chè chính
năm 2008 - 2012
(Đơn vị tính: ha)
(Nguồn: Số liệu thống kê của FAO năm 2013)[18]
Qua số liệu Bảng 2.1 cho thấy:
Tính đến năm 2012.diện tích chè trên toàn thế giới đạt 3.275.991 ha. Trong
đó Trung Quốc là nước có diện tích chè lớn nhất với 1.513.000ha,chiếm 46.18%
9
Tên nước
Năm
2008 2008 2010 2011 2012
Trung Quốc 1.298.374 1.298.374 1.419.530 1.514.000 1.513.000
Ấn Độ 578458 578458 583.000 580.000 605.000
Sri LanKa 221969 221969 218300 221.969 221.969
Kenya 157700 157700 171900 187.855 190.600
Việt Nam 108.800 108.800 113.200 114.800 115.964
Indonexia 106.948 106.948 107.800 127.000 122.500
Turkey 75826 75826 75851 75.890 75.860
Myanmar 76.900 76.900 76.800 79.343 79.000
Bangladest 58.005 58.005 59.700 56.670 58.000
Nhật 48.000 48.000 46.800 46.200 45.900
Thế giới 2.967.935 2.967.935 3.123.561 3.256.762 3.275.991
diện tích toàn thế giới. Tiếp đó là Ấn Độ đứng thứ hai với 605.000 ha,chiếm
18.46% so với thế giới. Đứng thứ ba là Sri lanka với diện tích 221.969 ha, chiếm
6.7%. Diện tích chè tập trung chủ yếu ở khu vực châu Á với khoảng 88% diện tích,
đây cũng là nơi phát sinh ra cây chè.
(Đơn vị tính: tấn)
Tên nước
Năm
2008 2009 2010 2011 2012
Trung Quốc 1.257.384 1.375.780 1.467.467 1.640.310 1.714.902
Ấn Độ 987.000 972.700 991.180 966.733 1.000.000
Sri LanKa 318700 290000 282300 327.500 330.000
Kenya 345800 314100 399000 377.912 369.400
Việt Nam 173.500 185.700 198.466 206.600 216.900
Indonexia 150.851 146.440 150.000 142.400 150.100
Turkey 198046 198601 235000 221.600 225.000
Myanmar 29.000 30.500 32.400 31.670 32.000
Bangladest 59.000 59.500 60.000 60.500 61.500
Nhật 96.500 86.000 85.000 95.012 85.900
Thế giới 4.211.397 4.242.280 4.518.060 4.668.968 4.818.118
(Nguồn: Số liệu thống kê của FAO năm 2013)[18]
Qua số liệu Bảng 2.3 cho thấy:
Sản lượng chè toàn Thế Giới năm 2012 là 4.818.118tấn tăng 606,721tấn,
tương đương 12,59 % so với năm 2008. Trung Quốc là nước có sản lượng chè lớn
nhất Thế Giới đạt 1.714.902tấn chiếm 35,59 % tổng sản lượng chè toàn Thế
Giới,chiếm 41,79 % tổng sản lượng chè Châu Á. Sản lượng chè thấp nhất là
Mianma chỉ đạt 32.000tấn chiếm 0,66% tổng sản lượng chè toàn Thế Giới. Việt
Nam đạt sản lượng 216.900tấn chiếm 4,50% tổng sản lượng chè toàn Thế Giới.
2.3.1.2.Tình hình nghiên cứu chè trên Thế Giới
11
Trung Quốc là quốc gia sản xuất chè hàng đầu thế giới. Nghiên cứu sử dụng
giống chè tốt trong sản xuất được các nhà khoa học Trung Quốc quan tâm từ rất
sớm.
Ngay từ đời nhà Tống, Trung Quốc đã có 7 giống chè tốt ở Vũ Di Sơn. Các
giống chè Thuỷ Tiên (1821 - 1850), Đại Bạch Trà (1850), Thiết Quan Âm đã có từ
12
Kenia mới chỉ bắt đầu sản xuất chè vào những năm 1925 - 1927 tuy nhiên do
có điều kiện tự nhiên phù hợp cho cây chè sinh trưởng phát triển, do chú trọng đầu
tư, áp dụng các tiến bộ kỹ thuật vào sản xuất cho nên Kênia là một trong những
quốc gia có năng suất chè cao nhất thế giới, đạt trên 1500kg chè khô/ha. Kênia lần
đầu tiên nhập giống chè vào năm 1903 và trồng thành công ở Limuri với diện tích
ban đầu là 0,81ha, cho đến nay công tác giống được quan tâm rất nhiều ở Kênia.
Các giống chè chọn lọc, giâm cành cho năng suất cao hơn giống chè đại trà tới
20%. Diện tích chè được trồng bằng các giống chọn lọc, giâm cành chiếm tới 67%
ở khu vực tiểu nông và chiếm tới 33% diện tích chè ở các đồn điền lớn. Ngoài
nhân giống bằng hình thức giâm cành, Kênia còn nhân giống bằng hình thức ghép.
2.3.2. Tình hình sản xuất, nghiên cứu chè ở Việt Nam
2.3.2.1. Tình hình sản xuất chè ở Việt Nam
Việt Nam có lịch sử trồng chè từ rất lâu nhưng mới được chú ý trồng và phát
triển trên quy mô lớn khoảng 100 năm trở lại đây. Điều kiện đất đai và khí hậu
nước ta rất thích hợp cho cây chè phát triển, 2/3 diện tích là đất đồi núi, đặc biệt ở
những vùng núi cao và có điều kiện tự nhiên khắc nghiệt lại tạo lên những giống
chè đặc sản nổi tiếng.
Những năm gần đây chè được quan tâm nhiều hơn, đầu tư phát triển trên
mọi phương diện nhằm khuyến khích người trồng chè tăng thu nhập cho người sản
xuất và kim ngạch xuất khẩu Nhà nước.
Việt Nam có 35 trên 63 tỉnh, thành phố trồng chè, chủ yếu tập trung ở vùng
trung du miền núi phía Bắc và cao nguyên Lâm Đồng với gần 130.000 ha. Hiện có
khoảng 650 nhà máy chế biến chè (công suất từ 2 đến 10 tấn nguyên liệu chè búp
tươi/ngày) cùng với hàng ngàn hộ dân lập xưởng để chế biến tại gia đình. Đội ngũ
làm chè lên tới 3 triệu lao động, chiếm 50% tổng số dân sống trong vùng chè.
13
Bảng 2.4: Diện tích, năng suất và sản lượng chè của Việt Nam
từ năm 2002 – 2011
14
Tỉnh Thái Nguyên là một tỉnh có điều kiện đất đai địa hình, khí hậu khá phù hợp
với sự phát triển của cây chè. Thái Nguyên xác định cây chè là cây công nghiệp
chủ lực, đóng góp trong nền kinh tế thị trường.
Thái Nguyên nằm ở vị trí cửa ngõ giao lưu kinh tế giữa vùng Trung Du
Miền Núi phía Bắc và Đồng bằng Bắc Bộ, có độ cao trung bình so với mặt nước
biển khoảng 200 – 300m, thấp dần từ bắc xuống nam và từ tây sang đông. Tỉnh
Thái Nguyên được bao bọc bởi các dãy núi cao bắc Sơn, Ngân Sơn và Tam Đảo.
Đỉnh cao nhất thuộc dãy Tam Đảo có độ cao 1.592m. Thái Nguyên có diện tích tự
nhiên 3.562,82 km
2
, dân số khoảng 1.127.200 người.
Tỉnh Thái Nguyên có phía Bắc tiếp giáp với tỉnh Bắc Kạn, phía Tây tiếp
giáp với các tỉnh Vĩnh Phúc, Tuyên Quang, Phía đông giáp với các tỉnh Lạng Sơn,
Bắc Giang và phía nam tiếp giáp với thủ đô Hà Nội. Với vị trí địa lý như vậy Thái
Nguyên đã trở thành một trong những trung tâm kinh tế, chính trị, giáo dục của
khu vực Việt Bắc nói riêng và của vùng Trung Du Miền Núi phía Bắc nói chung.
Tỉnh có diện tích đất nông nghiệp là 275.301,11 ha, địa hình Thái Nguyên ít
bị chia cắt, độ cao trung bình so với mắt nước biển khoảng 200 – 300m, nằm trong
15
vành đai nhiệt đới Bắc bán cầu nên Thái Nguyên có khí hậu mang tính chất nhiệt đới
gió mùa. Khí hậu Thái Nguyên chia làm 2 mùa rõ rệt, mùa mưa từ tháng 5 đến tháng
10 và mùa khô từ tháng 10 đến tháng 10 đến tháng 5. Lượng mưa trung bình năm
khoảng 2.000 đến 2.500 mm. Tổng số giờ nắng dao động từ 1300 đến 1750 giờ và phân
phối tương đối đều trong các tháng trong năm.
Trong tổng diện tích đất nông nghiệp ở Thái Nguyên, nhóm đất chủ yếu là nhóm
đất Feralit với độ cao 20 - 200 m so với mặt nước biển rất thích hợp để trồng và
pháttriển cây chè. Trong nhóm đất này thì ưu thế hơn cả là đất vàng đỏ trên phiến
thạch sét, đất vàng nhạt trên đá cát, đất nâu vàng trên phù sa cổ.
Thái Nguyên đã quy hoạch vùng sản xuất chè thành 2 vùng chính: Vùng chè
Tân Cương gồm có Tân Cương, Phúc Trìu, PhúcXuân và vùng chè Trại Cài. Sản
2004 15.700 13.000 73,07 95,00 19,00
2005 16.446 14.133 79,42 122,24 24,45
2006 16.716 14.662 88,06 129,11 25,82
2007 16.726 15.118 92,72 140,18 28,04
2008 16.994 15.730 94,88 149,26 29,85
2009 17.309 16.053 98,90 158,70 31,74
2010 17.661 16.289 105,50 171,90 34,38
2011 18.138 16.648 108,73 181,02 36,20
(Nguồn: Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Thái Nguyên năm 2013)[14]
Qua bảng 2.5 ta thấy: Diện tích trồng chè ngày càng được mở rộng tính đến
năm 2011 toàn tỉnh có 18.138 ha , tăng 2.438ha so với năm 2004.
Năng suất chè năm 2004 mới chỉ đạt 73,07tạ/ha nhưng đến năm 2011 đạt
108,73 tạ/ha, tăng 35,66 tạ/ha . Cùng với sự tăng nhanh về diện tích và năng suất
thì sản lượng chè cũng tăng mạnh. Năm 2011 đạt 181,02 tấn tăng 86,02 tấn so với
năm 2004. Kết quả cho thấy sự quan tâm, đầu tư phát triển cây chè trở thành cây
trồng mũi nhọn của lãnh đạo tỉnh Thái Nguyên. Hiệu quả từ các chủ trương, chính
sách, các dự án phát triển cây chè mang lại là rất cao.
Cây chè được tỉnh Thái Nguyên xác định là cây xóa đói giảm nghèo và làm
giàu của nông dân được trồng tập trung ở một số huyện như Định Hóa, Đồng Hỷ,
Đại Từ, Phú Lương, Phổ Yên, thành phố Thái Nguyên. Giai đoạn 2000 - 2005, tỉnh
đã thực hiện đề án phát triển sản xuất, chế biến và tiêu thụ chè. Sau 5 năm thực
hiện các mục tiêu của đề án cơ bản đã đạt được. Ngày 28 tháng 3 năm 2006,
UBND tỉnh ra quyết định số 520/QĐ - UBND về việc phê duyệt đề án phát triển
chè Thái Nguyên giai đoạn 2006 - 2010 với các mục tiêu chủ yếu: Tổng diện tích
17
đạt 17.500 ha (50% diện tích sản xuất nguyên liệu chè xanh, 30% diện tích sản
xuất nguyên liệu chè cao cấp, 20% diện tích sản xuất nguyên liệu chè đen) năng
suất bình quân 8,5 tấn búp tươi/ha/năm, giá trị thu nhập bình quân 50 triệu
/ha/năm.
Những năm gần đây Chè Thái được tiêu thụ cả thị trường trong và ngoài
Về diện tích trồng chè: Huyện Đại Từ dẫn đầu với 5.307 ha chiếm 29,25%
diện tích toàn tỉnh. Đứng thứ 2 là huyện Phú Lương (3.811 ha) chiếm 21,01% tổng
diện tích.Thành phố Thái Nguyên đứng thứ 6 với 1.255 ha, chiếm 6,92% tổng diện
tích. Đứng cuối là huyện Phú Bình với 114 ha, chiếm 0,63% tổng diện tích.
Về diện tích thu hoạch: Đứng đầu là huyện Đại Từ (4.990 ha) chiếm 29,97%
tổng diện tích thu hoạch; thứ 2 là huyện Phú Lương với 3.717 ha chiếm 22,33%
tổng diện tích thu hoạch. Đứng thứ 6 là thành phố Thái Nguyên (1.106 ha) chiếm
6,64% tổng diện tích thu hoạch. Đứng cuối là huyện Phú Bình (101 ha) chiếm
0,61% tổng diện tích thu hoạch.
Về sản lượng: Đứng đầu về sản lượng là huyện Đại Từ (51.604 tấn) chiếm
28,51% tổng sản lượng; thứ 2 là huyện Phú Lương với 40.709 tấn, chiếm 22,49%
tổng sản lượng. Thành phố Thái Nguyên đứng thứ 5 về sản lượng với 15.954 tấn,
chiếm 8,81% tổng sản lượng. Thấp nhất là huyện Phú Bình với 753 tấn, chiếm
0,42% tổng sản lượng toàn tỉnh.
2.3.2.3. Tình hình nghiên cứu chè ở Việt Nam
*Tình hình nghiên cứu về giống chè
Khi đến Đông Dương người Pháp đã chú ý ngay đến việc điều tra thu thập
giống chè. Đầu tiên là khảo sát của G.Baux ở Bắc Kỳ năm 1885, tiếp theo là điều
tra của phái đoàn Davie năm 1890 - 1892; Năm 1907 Eberhardt đã phát hiện ra
cây chè dại đầu tiên ở núi Ba Vì (Hà Tây).
Theo Dupasquier (1923) - dẫn theo Đỗ Ngọc Quỹ (1991) thì đến năm 1923
Việt Nam đã trồng được 10.368 ha chè đầu tiên với các giống chè thuộc thứ chè
Trung Quốc lá to, chè Shan và chè Ấn Độ, đã thu thập được tập đoàn gồm: 43
giống chè trong đó chủ yếu là chè Trung Quốc lá to.
- Từ năm 1918 - 1927 Việt Nam đã nhập 13 giống chè từ Ấn Độ, Mianma,
Trung Quốc và Lào.
- Năm 1923 khi nghiên cứu tập đoàn giống chè nhập nội; Dupasquier cho
rằng: Manipur và Assamica đã tỏ ra thích hợp và có khả năng sinh trưởng tốt ở
Việt Nam. Dupasquier cũng cho rằng: Giống chè Trung Quốc đòi hỏi ít nhất, chịu
19
1
) của quần thể;
20
Số cây
Các chỉ êu
Loại bỏ ở giai đoạn 1 Loại bỏ ở giai đoạn 2 Giữ lại ở giai đoạn 2
X1
X2
+ Ở giai đoạn 2: Loại bỏ các cá thể có các chỉ tiêu do đếm dưới mức trung
bình tiên tiến (X
2
), chỉ giữ lại những cá thể sau giai đoạn 2 có các chỉ tiêu đo đếm
≥ X
2
.
X
1
: Là giá trị trung bình đo đếm các chỉ tiêu của quần thể lựa chọn.
X
2
: Là giá trị trung bình đo đếm các chỉ tiêu của cây sau khi đã loại bỏ ở giai
đoạn 1 (X
2
≥ X
1
).
Theo kết quả thực tế các cá thể giữ lại sau giai đoạn 2 thường có giá trị chỉ
tiêu đo đếm được gấp 1,7 lần trở lên so với trung bình quần thể.
Ngoài các chỉ tiêu trên cần kết hợp xem xét các đặc điểm phát triển bộ rễ,
sinh trưởng sinh thực, màu sắc lá, sâu bệnh, khả năng giâm cành, điểm thử nếm
KHKT Nông lâm nghiệp Miền núi phía Bắc còn sử dụng Consixin xử lý trên mầm
chè giống PH
1
, trong thời gian 24 - 48h với nồng độ 0,2% cũng đã thu được kết
quả bước đầu.
Vật liệu khởi đầu
22
Bước 1
Chè 1 đến 2
tuổi
Đánh giá khả năng cho sản lượng, khả
năng nhân giống vô tính, một số chỉ tiêu
chất lượng sản phẩm
Đánh giá
hình thái
Đánh giá
sinh
trưởng
Đánh giá
trong
phòng thí
nghiệm
Bước 2
Chè 4 tuổi
Chọn các cây tốt nhất để tiếp tục đánh giá
(Các chỉ tiêu không nhỏ hơn trung bình tiên
tiến
Đánh giá khả
năng tạo tán
Đánh giá
, TH
3
là
những giống dễ giâm cành. Tỷ lệ xuất vườn đạt từ 69,7 - 72,0%, giống 1A là giống
khó giâm cành, tỷ lệ xuất vườn chỉ đạt 50,7%.
Nghiên cứu một số biện pháp nâng cao tỷ lệ xuất vườn cho chè giâm cành
tác giả Lê Tất Khương (1997), và số lần bón phân cho chè giâm cành đã làm tăng tỉ
lệ xuất vườn và hạ giá thành cây xuất vườn từ 5,6 - 11,5% trong đó, công thức đạt
hiệu quả kinh tế cao nhất là tăng 25% lượng phân so với quy trình (78g Ns, 36g Ps,
và 60g Ks cho 1m
2
- 100 bầu) và bón 7 lần vào tháng thứ 3 đến tháng thứ 9 sau
cắm hom.
Nghiên cứu về đặc điểm hình thái giải phẫu lá và hom chè có liên quan đến
tỷ lệ mô sẹo của hom chè giâm cành, tác giả (Nguyễn Thị Ngọc Bình, 2002)[1],
cho rằng: Sự hình thành mô sẹo ở hom chè giâm không hoàn toàn do các mô, mà
chỉ giới hạn ở một số mô có khả năng phân chia tế bào mạnh như tượng tầng, trụ
bì, libe và một phần nội bì ở vỏ tế bào hom xanh tạo ra. Các hoạt động tạo mô sẹo
và ra rễ xảy ra tập trung chủ yếu cách bề mặt vết cắt 0,2 - 0,5mm, các tế bào ở xa
vết cắt không tham gia quá trình phân chia mà duy trì hoạt động bình thường.
Nghiên cứu đặc điểm sinh trưởng phát triển của cây chè
Các kết quả nghiên cứu về đặc tính sinh trưởng của cây chè đều cho thấy: Một
năm cây chè có từ 3 - 5 đợt sinh trưởng tự nhiên, tuy nhiên trong điều kiện có đốn
hái búp lá thì một năm chè có thể có tới 6 - 7 đợt sinh trưởng búp, trong điều kiện
24
Mầm chè được phát độngLá vẩy ốc mở Lá thật
xuất hiện
Cành chè ngừng sinh trưởng Mầm chè được phát động
Giai đoạn ẩn
Giai đoạn hiện