LỜI MỒ ĐẦU
Chúng ta đang sống trong một thế giới mà sự thay đôi đang diễn ra một cách nhanh chóng trên mọi phương
diện: Quản trị đã làm thay đồi cách thức nhiều tổ chức tiến hành các hoạt động kinh doanh; sự phát triển của công nghệ
thông tin đã làm thay đổi các khái niệm truyền thống về tổ chức và không gian làm việc; sự gia tăng của các tổ chức
dịch vụ đã làm thay đổi cấu trúc của nền kinh tế.
Những thay đổi đó khiến cho những điều mà chỉ thời gian ngắn trước đây vẫn được coi là những nguyên lý hay
khuôn mẫu cho thành công, thì nay đã không còn thích hợp với quản trị hiện đại. Đe thành công, các nhà quản trị hôm
nay và tương lai cần phải có những năng lực quản trị cần thiết đê thích ứng với yêu cầu của thời
Trong đó, năng lực lãnh đạo là một trong những yếu tố quan trọng quyết định đến sự thành công của nhà quản
trị. Khả năng lãnh đạo hiệu quả là chìa khóa quan trọng để trở thành một quản trị viên giỏi.
Trong quá trình làm tuy đã cố gắng hết sức nhưng không tránh khỏi những sai sót. Rất mong nhận được sự góp
ý quý báu của cô đế bài tiêu luận của em được hoàn thiện hơn.
Xin trân trọng cảm ơn!
MỤC LỤC
A. CO SỎ LÝ LUẬN VÈ LÃNH ĐẠO
I. Các lý thuyết về động cơ và động viên tinh thần làm việc của nhân viên:
Nhà quản trị có trách nhiệm đưa tổ chức mà họ phụ trách hoàn thành mục tiêu của tổ chức đó. Họ thực hiện
nhiệm vụ đó thông qua nồ lực làm việc của nhân viên mà họ phụ trách. Vì vậy mọi nhà quản trị đều phải biết cách động
viên và lãnh đạo nhân viên. Có thê nói rằng, thành công của nhà quản trị tùy thuộc chủ yếu vào năng lực lãnh đạo nhân
viên dưới quyền họ. Một cách vắn tắt, năng lực lãnh đạo tức là năng lực động viên, tác động, điều khiển, và thông đạt
với nhân viên dưới quyền.
1.1. Lý thuyết cổ điển:
về sự động viên được Taylor và các tác giả trong trường phái lý thuyết quản trị khoa học nêu lên vào đầu thế kỷ
này. Taylor cho ràng một trong những công việc quan trọng mà các nhà quản trị phải làm là phải bảo đảm công nhân sẽ
thực hiện nhừng công việc thường xuyên lặp đi lặp lại một cách nhàm chán nhưng với hiệu quả cao nhất. Dùng các kích
thích về kinh tế như tiền lương và tiền thưởng để động viên công nhân làm việc.
Quan điềm này được xây dựng trên nhận thức là bản chất chủ yếu của người lao động trong xí nghiệp là lười
biếng, tránh nặng tìm nhẹ, không tự giác thực hiện đầy đủ các trách nhiệm của mình mà cấp trên đã giao phó.
1.2. Lý thuyết tâm lý xã hội hay quan hệ con ngưòi:
Tuy nhiên, quan điêm cô điên vê sự động viên đã được chứng minh là không phải lúc nào cũng chính xác. Lý
thuyết về quan hệ con người đã cho thấy rằng những quan hệ xã hội trong lúc làm việc đã có tác dụng thúc đẩy hoặc
- Không ít người có khả năng phát huy khá tốt trí tưởng tượng, tài năng và sức sáng tạo. Trong điều kiện công
nghiệp hiện đại, chỉ có một phần trí thức của con người bình thường được sử dụng.
Nhiệm vụ thiết yếu của nhà quản trị là sắp xếp các phương thức và điều kiện để điều hành mọi người đạt mục tiêu
một cách tốt nhất.
III. Khái niệm về lãnh đạo:
3.1. Định nghĩa chức năng lãnh đạo:
Lãnh đạo là một thuật ngữ chưa được hoàn chỉnh và vẫn đang tiếp tục được nghiên cứu. Nghiên cứu về lãnh
đạo là nghiên cứu về sự tác động của con người vào con người. Hiện nay, có rất nhiều quan điểm khác nhau về lãnh
đạo. Một trong những quan điểm phù hợp được sử dụng phổ biến nhất chính là: lãnh đạo là tiến trình điều
khiến, tác động đến người khác để họ góp phần làm tốt các công việc, hướng đến việc hoàn
thành các mục tiêu đã định của tổ chức. Hơn nừa, lãnh đạo còn là khả năng lôi cuốn người khác đi theo
mình, đồng thời biết thông tin cho nhân viên cấp dưới đê họ cần làm những gì và đạt được những gì.
Tiểu luận
Trang 2
3.2. Nhà lãnh đạo là ai?
Nhà lãnh đạo: là danh từ chỉ chủ thể thực hiện hành động lãnh đạo. Hiếu rộng hơn, nhà lãnh đạo là người có
khả năng tạo ra tầm nhìn cho một to chức hay một nhóm và biết sử dụng quyền lực của mình để gây ảnh hưởng cho
những người đi theo thực hiện tầm nhìn đó.
Một nhà lãnh đạo phải đảm bảo được 3 yếu tố: khả năng tạo tầm nhìn, khả năng truyền cảm hứng và khả năng
gây ảnh hưởng.
3.3. Nhà quản trị và người lãnh đạo:
4.1. Tâm lý lãnh đạo:
Một nhà lãnh đạo cần có nhừng tính cách sau đây:
• Cá tính:
- Luôn điềm tĩnh làm chủ mọi tình huong: đòi hỏi người lãnh đạo không bi quan dao động trước những
khó khăn thử thách, không bị cuốn hút bởi nhừng tình huống mà phải điềm tĩnh, chủ động đối phó một cách tốt nhất.
Trung thực với các cộng sự: là một đức tính hết sức cần thiết đối với một nhà lãnh đạo. Nó sẽ chiếm được
sự kính trọng và quý mến của mọi người trong công ty. Là nguồn động lực thúc đẩy họ làm việc tốt hơn.
Cởi mở song kiên quyết khỉ cần thiết: thê hiện bản lĩnh của nhà lãnh đạo. Là người luôn có cuộc sống cởi
mở với mọi người nhưng là một người quyết đoán trong công việc, không “theo đuôi” người khác.
thể. Anh ta là biểu tượng, là tấm gương sáng cho các thành viên trong tập thể noi theo.
Trong công việc, nếu anh ta là người tận tụy thì nhân viên sẽ chăm chỉ làm việc; anh ta giừ nguyên kỷ luật lao
động thì nhân viên không dám đi trễ về sớm. Trong đời sống anh ta liêm chính, giản dị thì nhân viên không dám tham
ô, lợi dụng. Trong sinh hoạt anh ta luôn mẫu mực thì nhân viên sẽ bắt chước làm theo
4.2.2. Phong cách lãnh đạo:
Tiểu luận
Trang 4
- Phong cách tiếp cận theo hệ thống: Likert đã nghiên cứu các kiểu mẫu và phong cách của các nhà lãnh đạo
và quản trị trong nhiều năm và đã đưa ra những ý tưởng và những cách tiếp cận quan trọng đối với việc hiểu biết về
hành vi lãnh đạo.
Nhằm định hướng cho việc nghiên cứu và làm rõ các khái niệm của mình, Likert đã giả thiết có 4 hệ thống
phong cách quản trị.
• Hệ thống 1: Kiêu lãnh đạo ‘quyết đoán - áp chế’. Các nhà quản trị loại này chuyên quyền cao độ, có ít lòng tin
vào cấp dưới, thúc đẩy người ta bằng sự đc doạ và trừng phạt với những phần thưởng hiếm hoi, tiến hành thông tin từ
trên xuống dưới và giới hạn việc ra quyết định ở cấp cao nhất.
• Hệ thống 2: Kiểu lãnh đạo ‘quyết đoán - nhân từ’, các nhà quản trị loại này có lòng tin của cấp trên và tin vào
cấp dưới, thúc đẩy bàng khen thưởng và kích thích, chấp nhận một số thông tin từ cấp dưới. Cho phép một phần ra
quyết định của cấp dưới.
• Hệ thống 3: Kiểu lãnh đạo ‘tham vấn’, thể hiện tin tưởng và hy vọng ở cấp dưới, trước khi quyết định một vấn đề
nào đó thường có tham khảo ớ cấp dưới.
• Hệ thống 4: Kiến lãnh đạo ‘tham gia theo nhóm’. Thê hiện tin tưởng, hy vọng cấp dưới, tổ chức cho đổi tượng
tham gia ý kiến theo nhóm.
Hệ Thong 3 Hệ Thong 4
Tham vấn Tham Gia
theo Nhóm
Hình 1: Bốn hệ thống phong cách quăn trị theo Likert
Tiếp cận dựa trên quyền lực quản trị, ta có các phong cách lãnh đạo như sau:
- Phong cách lãnh đạo độc đoán: Người lãnh đạo chuyên quyền là người thích ra lệnh và chờ đợi sự phục tùng,
là người quyết đoán, ít có lòng tin vào cấp dưới. Họ thúc đẩy nhân viên chủ yếu bàng đe do ạ và trừng phạt.
- Phong cách lãnh đạodânchủ: Người lãnh đạo theo phong cách dân chủ thường
Trang 6
m
k
PHONG CACH 5-1
Qua □ CĨ3D ddTÌH iñfn kkaỉ
<K iai! dỌBf co hiri qiư li qr 1D lim
đ*s con a«iKri C buvên qnví B ira
B« llnb 6*0
Phung cách 9.9: là những người thể hiện trong các hành động của họ sự hiến dâng cao nhất có thể được cho
cả con người lẫn sản xuất. Họ là các ‘nhà quản lýđồng đội’ thực sự có khả năng nối kết được các nhu cầu sản xuất
của một cơ sở với các nhu cầu cá nhân.
Phung cách 1.9: các nhà quản lý rất ít hoặc không quan tâm gì cả đến sản xuất khuyến khích một môi trường
trong đó mỗi người đều thoải mái, thân ái và hạnh phúc, không ai quan tâm đến việc đem hết cố gắng phối hợp để thực
hiện các mục tiêu của cơ sở.
Phong cách 9.1: cách nhà quản lý chỉ quan tâm đến việc triến khai một hoạt động có hiệu quả, họ có ít hoặc
không quan tâm đến con người và họ hoàn toàn chuyên quyền trong phong cách lãnh đạo của họ.
Rõ ràng các nhà quản lý theo phong cách 5.5 quan tâm vừa phải đối với sản xuất và đối với con người. Họ nhận
được một mức tinh thần và sản xuất thích hợp, nhưng không nỗi bật. Họ không đặt các mục tiêu quá cao và có thái độ
khá rộng lượng đối với con người.
4.3. Phương pháp lãnh đạo:
4.3. ỉ: Phương pháp hành chỉnh:
• Là phương pháp sử dụng quyền lực mang tính chất bắt buộc đổi tượng phải thực hiện nhiệm vụ của mình.
• Các công cụ để thực hiện quyền lực; các quyết định quản trị; các công cụ kế hoạch; tổ chức; các công cụ chính
sách; chế độ và các công cụ kỳ thuật quản trị khác.
• Sử dụng phương pháp hành chính trong quá trình lãnh đạo một tập thê người là điều rất cần thiết, bởi nó thể
hiện cái quyền lãnh đạo của người lãnh đạo, buộc đối tượng phải phục tùng vô điều kiện, nó làm cho công việc được
tiến hành một cách nhanh chóng và tương đổi dễ thực hiện. Tuy nhiên cũng không nên quá lạm dụng phương pháp này.
4.3.2. Phương pháp kinh tế:
Sử dụng các biện pháp khuyến khích bằng lợi ích kinh tế, vật chất như tăng giảm tiền lương, tiền thưởng, tiền
phụ cấp, tiền bồi dường.
Vĩ. Xung đột:
Xung đột liên quan tới những khác biệt không the dung hoà được, dẫn tới hình thức nào đó của sự can thiệp đối
kháng. Xung đột bao gồm dạng nhỏ như sự can thiệp tế nhị, gián tiếp và tự chủ, đến những dạng bộc lộ như đình công,
phá hoại và chiến tranh.
Hình 3: Xung đột và hiệu quả của tố chức
Tiểu luận
Trang 8
Tình buông ©
Mức đô
sun® đột
Thấp' Khònẹ có
Tối ưu Cao
Loại xung
đỏc
Bẩt lợi cho
chức nầnẹ
Có lợi cho
chức năng
Bất lợi cho
chức năng
Tliuộc tình
nòi bộ cũn rô
cliírc
Thờ ơ Tri trệ
Chậm thav đòi
Thiên ý tườne
mới
Có thé tồn tạt
Tính tự quyết
Luôn đôi mới
• Tổ chức lao động khoa học, họp lý và kiên quyết giữ nghiêm kỷ luật.
• Lựa chọn các “Ê kíp” lãnh đạo và tập thể làm việc tốt nhất có thể được.
• Luôn giữ các mối quan hệ thân thiện, bình đăng, công minh trong đối xử.
B. PHÂN TÍCH THựC TRẠNG VÊ PHONG CÁCH LÃNH ĐẠO ĐỘC ĐOÁN
CỦA STEVE JOBS TẠI APPLE.
Tiểu luận
Trang 9
I. Nguyên nhân dẫn đến phong cách lãnh đạo độc đoán của Steve Jobs:
1.1. Cá tính:
• Tự tín, có tính tự lập, tự chủ cao:
Steve Jobs sinh ngày 24/2/1955 tại California, Mỳ. Ngay trong tuần đầu tiên chào đời, số phân của Jobs dường
như đã được định sẵn. Bố mẹ Steve là sinh viên nên đã đưa cậu bé mới sinh vào trại mồ côi. May mắn là gia đình Pol
và Carla Jobs đã nhận cậu làm con nuôi.
- Sau 6 tháng học tại đại học Reed, Jobs đã bỏ học và sống những ngày tháng
cơ cực nhất của cuộc đời mình. Không được ớ kí túc xá, ông phải ngủ ớ sàn nhà phòng các bạn, trả vỏ lon coca đe lấy 5
cent mua thức ăn, và đi bộhơn10km dọc
đường phố vào các ngày chủ nhật để đến ăn một bừa làm phúc hàng tuần của đền
Hare Krishna. Jobs cho rằng ông thực sự thích cuộc sống đó bởi “chính những gì đã xem, nghe,
thấy, khám phá bằng trí tò mò và trí giác của tuối trẻ lúc đó đã biến thành những kỉnh nghiệm quý báu cho tôi
sau này”
• Cầu toàn, bướng bỉnh, lối nghĩ khác ngưòi:
- Steve Jobs là người cầu toàn, luôn muốn mọi việc mình làm đạt kết quả hoàn hảo nhất. Chính vì vậy mà ông
luôn nghiêm khắc với bản thân, với nhân viên và với chính những việc mình đang làm.
- Ông có suy nghĩ khác người và khả năng tư duy sáng tạo. Ông thể hiện điều đó ngay tù’ những ngày còn ngồi
trên ghế nhà trường, thầy giáo của ông đã nhận xét rang: “Steve khác mọi người ở hai điểm: luôn lầm lũi, cô đon và có
khả năng nhìn tuyệt vời các sự vật, các hiện tượng trong một thế giới khác”
- Không một CEO nào bướng bỉnh và ngoan cổ như Jobs khi đưa ra những nguyên tắc riêng của ông cả xấu lẫn
tốt. Với tính cách ngang tàng luôn làm theo nhừng gì mình thích, ông không muốn bị chi phổi bởi mọi thứ xung quanh.
• Có khả năng lôi cuốn người khác: Steve Jobs có khả năng thuyết phục và lôi cuốn người khác, chính
khả năng này đã tạo cho ông thói quen được người khác nghe theo, phục tùng, từ đó hình thành nên phong cách độc
- Jobs có thái độ rất khắc khe đối với nhân viên của mình, ông luôn đòi hỏi sự hoàn hảo đến từng chi tiết và
không chấp nhận sai sót dù là nhỏ nhất.
- Jobs còn nổi tiếng với tính lạm quyền cá nhân, ông có thể sa thải bất cứ nhân viên nào trong cơn noi giận.
Nhiều nhân viên cấp cao của ông tại Apple đã làm việc với ông nhiều năm liền, trong số đó thì một số người đã phải
ngậm ngùi ra đi, họ cho ràng tuy Jobs tàn bạo, nhưng khi ở bên ông, họ chưa bao giờ làm việc tốt hơn
- Jobs là người nổi tiếng khắt khe với công đoàn, ông đã áp dụng nhiều biện pháp để đàm phán với đại diện
công đoàn như: dọa phá sản, thuê ngoài đề có thể đạt được những thỏa thuận có lợi.
- Trước khi Jobs tiếp quản công ty, mọi người tại Apple rất thích tiết lộ bí mật. Họ làm vậy vì một phần công ty
ít có sự tiếp thị. Họ cho ràng cách duy nhất để mọi người biết về nó là tự bản thân mình tiết lộ. Tuy nhiên, Jobs đi
ngược lại hoàn toàn với quan niệm đó và khăng khăng cách làm việc của mình. Đầu tiên, các nhân viên đã rất nổi giận
và bất bình. Đây là tiền đề để Steve Jobs xây dựng nên luật im lặng - văn hóa công ty nổi tiếng của Apple
Tiểu luận
Trang 11
• Cách thức điều hành của Steve Jobs trong công việc:
- Là cha đẻ của hơn 103 bản quyền của Apple, mọi thứ từ giao diện iPod đến hệ thống hỗ trợ cho bộ thang máy
được dùng trong các cửa hàng bán lẻ của Apple, ông luôn có sự tham gia và giám sát đến tìmg chi tiết nhở nhất. Ông
không thể yên tâm mọi thứ sẽ hoàn hảo nếu không có sự giám sát chặt chẽ trong mọi khâu
- Steve Jobs dường như đứng đầu và có mặt ở khắp mọi nơi trong công ty.
2.2. Luật im lặng - hệ quả từ phong cách điều hành độc đoán của Steve Jobs:
Bí mật không chỉ là “chiến lược” quan hệ với giới truyền thông mà đã trở thành thứ văn hóa đặc trưng của
Apple. Đó là hệ quả được đưa đến từ những hành động độc đoán của Steve Jobs.
• Luật im lặng do Steve Jobs đặt ra. Luật này quy định nghiêm ngặt về việc tuyệt đối bảo mật mọi thông tin
liên quan đến Apple đổi với khách hàng, đối thủ cạnh tranh và thậm chí đối với chính các nhân viên và cổ đông của
mình.
• Biện pháp trừng phạt của Apple là hết sức nghiêm khắc:
- Với bất kì ai vi phạm nguyên tắc im lặng, dù là vô tình hay chỉ là sự vi phạm “chút xíu” đều phải nhận án phạt
thường là sa thải ngay lập tức.
- Điển hình là Edward Eigerman - một người đã từng có 4 năm kinh nghiệm làm kỹ sư cho Apple đã bị đuôi khỏi
hẵn hồi năm 2005 khi đồng nghiệp của anh dính lieu vào việc tiếc lộ một vài phác thảo về phần mềm mới cho khách
hàng. Mặc dù không liên quan nhưng Edward Eigerman bị đuôi vì là bạn thân của thủ phạm.
tính kỷ luật cao và bộ máy công ty vận hành hiệu quả nhất.
• Việc tham gia và giám sát đến từng chi tiết nhỏ nhất của Steve Jobs góp phần giảm thiểu đến mức tối đa những
sai sót, tiết kiệm được chi phí, tạo ra nhũng sản phẩm tương đổi hoàn hảo, mang tính vượt trội của Apple so với các đối
thủ cạnh tranh.
3.1.2. ưu điểm của luật im lặng:
• Giữ bí mật tuyệt đối về thông tin sản phẩm cho tới lúc sản phẩm được tung ra thị trường giúp Apple tránh được
nguy cơ bị sao chép hoặc giả mạo sản phẩm. Điều này khiến nhân viên vừng tâm tin tưởng vào thành quả lao động của
mình.
• Việc Apple tuyệt đối bảo mật thông tin về các sản phẩm mới làm cho không chỉ khách hàng mà ngay cả nhân
viên của công ty cũng không khỏi tò mò và háo hức đón chờ sự ra đời của các sản phẩm này. Sự ra đời của mỗi sản
phẩm luôn là một sự bất ngờ thú vị cho những người đón chờ. Chính điều này đã góp phần tạo nên giá trị cho các sản
phâm của Apple.
3.2. Nhược điểm:
3.2.1. Nhược điểm trong phong cách lãnh đạo độc đoán của Steve Jobs:
• Lối áp đặt suy nghĩ lên người khác và đưa ra những quyết định mang tính độc đoán mà không bàn bạc, tham
khảo ý kiến của bất kỳ ai, sẽ làm tăng tính rủi ro trong những quyết định và xác suất xảy ra sai lầm là rất lớn.
• Việc Steve Jobs tự đưa ra quyết định và áp đặt ý kiến cho nhân viên khiến họ bất mãn và khó chịu vì ý kiến của
mình không được tôn trọng. Hơn nữa, điều này làm cho họ cảm thấy nhà lãnh đạo không hiểu được tâm tư và nguyện
vọng của họ, từ đó mối quan hệ giữa cấp trên và cấp dưới ngày càng xa cách. Nhân viên không còn hứng thú đóng góp
ý kiến cho công việc. Hậu quả là công ty bó phí nguồn ý tưởng dồi dào từ nhân viên của mình.
• Những đòi hỏi quá khắt khe của Jobs trong công việc sẽ tạo áp lực lớn lên nhân viên, khiến nhân viên dễ xảy ra
tình trạng bị stress, không khí làm việc lúc nào cũng đầy căng thắng, nhân viên đôi lúc sẽ không có được môi trường
làm việc thoải mái. Hiệu quả làm việc bị giảm sút.
• Việc Jobs can thiệp vào công việc từ nhỏ đến lớn khiến nhân viên cảm thấy khó chịu, không thoải mái. Hơn nữa,
việc này làm cho ông không có thời gian cũng như sự tập trung cần thiết đế giải quyết những vấn đề quan trọng.
Tiểu luận
Trang 13
• Phong cách lãnh đạo độc đoán của Jobs làm cho ông có tầm ảnh hưởng quá lớn đối với Apple đến nỗi bất cứ
một động tĩnh nào của ông cũng dẫn đến một hệ quả rất lớn đối với công ty, chẳng hạn như khi nghe tin ông bị ung thư
thì giá cồ phiếu của Apple sụt giảm nhanh chóng