đánh giá sự chấp nhận của test thử thai bán định lượng hcg so với khám theo dõi thường quy sau phá thai nội khoa tại bvpstư - Pdf 24

ĐẶT VẤN ĐỀ
Phá thai nội khoa được thực hiện tại Việt Nam từ năm 1992 tại BV
Hùng Vương và 2001 tại BV PSTW. Phá thai nội khoa có tỷ lệ thành công
cao: 92% - 97% [2].
Tái khám theo dõi thường quy đối với phá thai nội khoa là cần thiết để
đỏnh giá thai đã sẩy hoàn toàn và cần cú thờm những chăm sóc tiếp theo.
(Schhaff &cs (2000); Creinin (2004): phần lớn không cần điều trị gỡ
thờm; chỉ 2-5% cần tiến hành thủ thuật hút thai do sẩy không trọn; chảy máu
nhiều: 1/1000).
Theo dõi thường quy có một số hạn chế: Tăng chi phí, mất thời gian,
giảm sự chấp nhận, tỷ lệ mất dấu cao: 20-30%. Mặt khác, câu hỏi phỏng vấn
chưa được chuẩn hóa; chưa đánh giá một cách có hệ thống để xác định khách
hàng cần trở lại tái khám vì vậy cần xây dựng quy trình theo dõi an toàn và
được chuẩn hóa thay cho việc tái khám thường quy là cần thiết.
Chúng tôi đưa ra phương pháp sử dụng phương thức thay thế gồm: Thử
thai bằng que thử thai và đỏnh giá qua điện thoại bằng bộ phỏng vấn tự trả lời
Đây là phương thức an toàn thay thế cho khám thường quy bởi người phụ
nữ có thể xác định được kết quả sau phá thai. Trong số phụ nữ phải quay lại
phòng khám: 82% phụ nữ nhận diện đúng cần hút lại hay điều trị nhiễm trùng
Test thử thai bán định lượng giúp xác định sẩy thai trọn: Đo lường hCG trong
huyết thanh tốn kém, nhiều cơ sở không thực hiện được, còn đo lường hCG
trong nước tiểu: rẻ, đặc hiệu.
Việc sử dụng test thử thai bán định lượng giúp việc sử dụng siêu âm
chẩn đoán giảm 40%. Nghiên cứu tại Việt Nam trên 300 phụ nữ: 97% nhận
1
diện đúng kết quả phản ánh nồng độ òhCG; 90% phụ nữ đọc kết quả trùng với
bác sỹ.
Ở Việt nam Chưa có một nghiên cứu hoàn thiện nào về phương thức
thay thế cho khám thường quy sau phá thai nội khoa, và đánh giá sự hài lòng
của bệnh nhõn với phương pháp này, vì vậy chúng tôi thực hiện đề tài “ Đánh
giá sự chấp nhận của test thử thai bán định lượng

Phá thai nội khoa là phương pháp dùng thuốc để chấm dứt thai nghén,
đã được các thầy thuốc nghiên cứu nhiều năm. Từ khi được tuyên bố và công
nhận chính thức là một phương pháp phá thai ở các nước phương Tây,
phương pháp phá thai bằng Mifepristone kết hợp với Misoprostol ngày càng
được các thầy thuốc và chị em phụ nữ hưởng ứng. Phương pháp phá thai này
có thể áp dụng cho tuổi thai từ 5 đến 9 tuần, kể từ ngày đầu tiên của kỳ kinh
3
cuối cùng. Tuổi thai có liên quan đến tỷ lệ thành công của phương pháp. Tuổi
thai càng lớn, tỷ lệ thất bại có tăng và nếu thai đến 9 tuần, cần thiết phải tìm
một phác đồ khác [6]. Hiệu quả cao nhất đạt được ở tuổi thai đến 7 tuần.
Phương pháp phá thai nội khoa đã cho người phụ nữ một sự lựa chọn mới để
chấm dứt thai nghén. Một số nghiên cứu mới đây cho thấy nhiều phụ nữ ưa
thích phương pháp phá thai nội khoa hơn phá thai ngoại khoa và khi được lựa
chọn, có nhiều phụ nữ đã lựa chọn phá thai nội khoa [1]. Phụ nữ lựa chọn phá
thai nội khoa cho biết phương pháp này có tính riêng tư hơn, người phụ nữ
được tự chủ hơn, phương pháp ít xâm hại hơn và có vẻ tự nhiên hơn phá thai
ngoại khoa. Các nhược điểm thường được nhắc đến gồm đau bụng, thời gian
ra máu, số lần thăm khám và thời gian phải chờ đợi tới khi kết thúc quá trình
sẩy thai nhiều hơn so với phá thai ngoại khoa.
Hiện nay có nhiều phác đồ được áp dụng để phá thai sớm, khác nhau về
liều dùng, đường dùng và khoảng cách dùng thuốc:
- Uống 200mg Mifepristone, sau 6-8 giờ đặt âm đạo 800 g
Misoprostol để chấm dứt thai nghén đến 7 tuần. Tỷ lệ thành công là 92% [10].
- Dùng 200mg Mifepristone kết hợp với 600 g Misoprostol uống sau
24 giờ trong phá thai đến 7 tuần. Tỷ lệ thành công là 94% [5].
- Dùng 200 Mifepristone đường uống, sau 48 tiếng đặt âm đạo 800 g
Misoprostol (4 viên 200 g) áp dụng cho thai đến 9 tuần, tỷ lệ thành công tới
96% [35].
- Ngày thứ nhất uống 200mg Mifepristone, sau 48 tiếng 400 g áp
dụng cho thai đến 7 tuần, tỷ lệ thành công là 94% [11].

g

®
é

a
x
Ý
t

M
i
s
o
p
r
o
s
t
o
l

t
r
o
n
g

h
u

H
38
O
5
.
1.2.1.3. Tác dụng:
Misoprostol đầu tiên được dùng để điều trị và phòng ngừa viêm loét dạ
dày, tá tràng [3], sau đó được dùng trong sản khoa với tác dụng gây cơn co tử
cung và làm chín muồi CTC:
- Tác dụng làm chín muồi cổ tử cung của MSP trước khi làm thủ thuật
như nong nạo, soi buồng TC, làm giảm nguy cơ tổn thương CTC, đặc biệt ở
thì nong CTC giúp thủ thuật được tiến hành dễ dàng, an toàn, rút ngắn thời
gian làm thủ thuật.
Năm 1995, tại Hồng Kụng, Suk Wai Ngai và cộng sự đã nghiên cứu dùng
Misoprostol để làm mềm CTC trước khi nạo hút thai. 32 phụ nữ có thai từ 6 đến
12 tuần được uống Misoprostol trước khi làm thủ thuật 12 giờ. Độ mở CTC
trung bình sau dùng thuốc là 8,1 1,7 mm (đo bằng nong Hegar) [16]. 
- Tỏc dụng gây sẩy thai: MSP có tác dụng gây sẩy thai ở các tuổi thai
khác nhau. Tỷ lệ thành công phụ thuộc vào tuổi thai, liều lượng và cách dùng.
Có thể dùng MSP đơn độc hoặc kết hợp với Mifepristone.
- Tác dụng dự phòng và điều trị chảy máu sau đẻ:
+ Nghiên cứu của Brien và cộng sự năm 1998 đã công bố kết quả của
MSP dùng đường đặt trực tràng để điều trị cho 14 trường hợp chảy máu sau
6
đẻ không đáp ứng với điều trị bằng Oxytoxin và Ergometrin. Sau khi đặt
1.000 g  Misoprostol trong 3 phút, tất cả các trường hợp này đều không
chảy máu do tử cung co chặt và không phải dựng thờm một phương pháp
cầm máu nào khác [16].
- Tác dụng làm chín muồi CTC gây chuyển dạ [20] [21] được áp dụng
trong các trường hợp thai quá ngày sinh, thai bệnh lý, thiểu ối, vỡ ối non

Công thức hoá học là : C
29
H
35
N
1
0
2
.
* Hấp thu, chuyển hoá và thải trừ:
Mifepristone được dùng theo đường uống. Nồng độ của Mifepristone
trong huyết tương đạt đỉnh cao nhất vào thời điểm 1 giờ sau khi uống. Liều
dùng của Mifepristone có thể thay đổi trong khoảng từ 50mg đến 800mg.
Sau khi uống Mifepristone được hấp thu vào máu, chuyển hoá tại hệ tuần
hoàn. Nghiên cứu trên khỉ người ta thấy rằng nếu dùng đường tiêm bắp thì
Mifepristone hấp thu vào máu rất chậm. Trên người để phá thai dùng đường
đặt âm đạo không phải là cách có hiệu quả. Độ thanh thải của Mifepristone
trên người là 30 lít/ ngày, thấp hơn so với Estrone Sulfat (160 lít/ ngày) và
thấp hơn nhiều so với Cortisol (200 lít/ ngày) [7]. Đây là 2 Steroid tự nhiên có
độ thanh thải thấp ở người. Điều này cần lưu ý khi dùng RU 486 để phá thai
thì cần phải lựa chọn liều nhỏ nhất có thể được và đặc biệt phải lưu ý trên
những người suy gan suy thận. Mifepristone không gắn kết với Globulin
Cortisol và Steroid sinh dục.
8
Sau khi dùng đường uống với liều từ 50 -800mg thì nồng độ Mifepristone
trong huyết thanh đạt cao nhất sau 1 giờ. Dùng với liều duy nhất 100mg hoặc
ít hơn thì thời gian bán huỷ là 20 – 25 giờ, sau đó là đào thải hoàn toàn. Nếu
dùng liều từ 200 – 800mg thì đầu tiên có sự phân bố lại thuốc trong cơ thể
kéo dài từ 6 – 10 giờ, sau đó dừng ở mức độ cao trong vòng 24 giờ. Nếu dùng
với liều cao như thế này không có sự khác biệt về nồng độ Mifepristone trong

Có rất ít tác dụng phụ xảy ra sau khi uống Mifepristone thường gặp là:
Nôn, buồn nôn, đau bụng, ra máu âm đạo. Những tác dụng phụ này thường rất
nhẹ, ít khi có ra máu âm đạo. Nếu có ra máu âm đạo chỉ gặp với lượng rất ít.
1.3. Phá thai nội khoa
1.3.1. Tình hình phá thai bằng thuốc trên thế giới :
Phương pháp phá thai nội khoa làm tăng khả năng tiếp cận với dịch vụ
phá thai an toàn bởi vì các thầy thuốc có thể cung cấp biện pháp này ở những
nơi mà không sẵn có biện pháp phá thai ngoại khoa. Tháng 7 năm 1998, một
nhúm cỏc nhà nghiên cứu, nhân viên y tế, người ủng hộ tích cực cho phụ nữ,
nhà tài trợ và đại diện của các Bộ y tế đã họp tại Bellagio, Italy để thảo luận
về tiềm năng của biện pháp phá thai nội khoa trên trường quốc tế. Sau nhiều
cuộc tranh luận, nhóm đã đi đến nhất trí rằng phác đồ Mifepristone kết hợp
với prostaglandin thích hợp, có thể được cung cấp một cách an toàn, hiệu quả
và được phụ nữ ở các nước chấp nhận [1].
Phá thai bằng Misoprostol đơn thuần có nhiều hứa hẹn nhằm tăng
thêm sự lựa chọn phác đồ phá thai cho người phụ nữ. Nhiều nghiên cứu được
10
tiến hành để đánh giá tính hiệu quả của Misoprostol dùng đơn thuần trong thai
nghén 3 tháng đầu. Vì Misoprostol sẵn có ở thị trường, giá rẻ và dễ sử dụng
nên phụ nữ trên thế giới bắt đầu sử dụng Misoprostol để phá thai. Hầu hết các
nghiên cứu đã xác nhận tính hiệu quả của Misoprostol với liều 800g đặt âm
đạo, và lặp lại nhiều lần cho tới khi thai sẩy xong. Hàng triệu phụ nữ đã sử
dụng Misoprostol (cả đơn thuần lẫn kết hợp với Mifepristone) để chấm dứt
thai nghén một cách an toàn [16].
- Phương pháp phá thai nội khoa với Mifepristone đã được thực hiện tại
Pháp từ năm 1989. Khi sử dụng đơn độc Mifepristone có thể gây sẩy thai
khoảng 64 - 85%, ở tuổi thai đến 7 tuần. Trong nghiên cứu này sử dụng liều
lượng từ 140mg đến 1.600mg trong thời gian từ 1 đến 10 ngày [3]. Tuy
nhiên, khi kết hợp với Misoprostol, dùng sau hai ngày, tỷ lệ thành công có thể
tới 87% đến 97 % [3].

- Với nghiên cứu của Hamoda và cộng sự (năm 2003) cũng phá thai 9
tuần tuổi sử dụng 2 phác đồ loại 600 mg và 800 mg misoprostol thì tỷ lệ
thành công đạt tới 96-98% (n=96) [12].
- Jain Mishell và cộng sự sử dụng Misoprostol đơn thuần để phá thai dưới
8 tuần với tổng liều là 1600g cách 24 giờ 1 lần, tỷ lệ thành công từ 95 đến
97% phụ thuộc vào tuổi thai [15].
1.3.2. Tình hình phá thai bằng thuốc tại Việt Nam
Tại Việt nam, phương pháp phá thai nội khoa lần đầu được nghiên cứu
năm 1992, tại bệnh viện Hùng Vương. Đây là một nghiên cứu đồng thời được
12
thực hiện tại 17 Trung tâm trên thế giới, đối tượng là phụ nữ muốn phá thai có
tuổi thai đến 9 tuần kể từ ngày đầu tiên của kỳ kinh cuối cùng. Chị em được
hẹn khám theo dõi vào ngày thứ 14 và ngày thứ 43 sau khi dùng thuốc.
Nghiên cứu này nhằm so sánh tác dụng của hai liều 200mg và 600mg
Mifepristone với 400g Misoprostol dùng sau 48 giờ. Tỷ lệ thành công của
nhúm dựng 600mg Mifepristone là 89,3% tương đương với 88,1% của nhúm
dựng 200mg [8].
Nghiên cứu tiếp theo được thực hiện từ tháng 01/1995 đến tháng
4/1996. Đây là đề tài hợp tác với Hội đồng Dân số để tìm hiểu sự chấp nhận
của phụ nữ Việt Nam tại: Trung tâm BMTE/ KHHGĐ Hà Nội và Bệnh viện
Hùng Vương - Thành phố Hồ Chí Minh. Tỷ lệ thành công trong nghiên cứu
này là 96,1% [18]. Trong nghiên cứu này 393 chị em có thai dưới 57 ngày
được lựa chọn hoặc nạo hút thai hoặc dùng phương pháp nội khoa với liều
600mg của Mifepristone sau 48 tiếng uống 400g Misoprostol. Tác dụng
phụ của phá thai nội khoa như: Buồn nôn, nôn, tiêu chảy, đau bụng và thời
gian ra huyết âm đạo cao hơn so với thủ thuật nạo hút thai, tuy nhiên điều
này không ảnh hưởng đến sự chấp nhận với phương pháp này của phụ nữ Việt
Nam. Ra máu âm đạo kéo dài trong phá thai nội khoa đôi khi là mối lo ngại
cho chị em Kết luận của nghiên cứu này đưa ra nhận định phá thai nội khoa
là phương pháp an toàn, có thể chấp nhận được như một bổ sung cho sự lựa

nét hơn với phác đồ Misoprostol đơn thuần
- Sự chấp nhận của người phụ nữ với 2 phác đồ phá thai nội khoa: ở
phác đồ 1 tỷ lệ chị em hài lòng cao hơn hẳn phác đồ 2 (98% so với 96%)
14
Năm 2007-2009 đề tài NCKH cấp Bộ hợp tác với Tổ chức Y tế thế giới
mang tờn“Thử nghiệm lâm sàng ngẫu nhiên so sánh 2 liều dùng và 2 đường
dùng của Misoprostol để đình chỉ thai nghén sớm- Mã số A35148” sau hai
năm thực hiện phá thai bằng thuốc đến 63 ngày tuổi tại 3 cơ sở sản phụ khoa
lớn trên cả nước là Bệnh viện Phụ sản Trung ương, Bệnh viện Phụ sản Hà
Nội, Bệnh viện Từ dũ. Tổng số mẫu đề tài thực hiện là 463 trường hợp, phân
đều cho 3 nhóm tuổi thai<49 ngày tuổi, 50-56 và từ 57-63 ngày tuổi [4]. Đây
là một nghiên cứu thử nghiệm lõm sàng ngẫu nhiên có đối chứng sử dụng
200mg của mifepristone và tiếp theo 24 giờ sau đó sử dụng 2 loại phác đồ
hoặc 400μg hoặc 800μg misoprostol theo 2 đường âm đạo hoặc đường ngậm
dưới lưỡi.
Kết quả bước đầu tại Việt Nam cho thấy:
- Tỷ lệ thành công chung là từ 85% đến 95,2%
- Tỷ lệ thành công ở nhóm sử dụng phác đồ 800 μg misoprostol là 94,7
% cao hơn tỷ lệ 87,6% ở phác đồ 400 μg misoprostol
- Tỷ lệ thành công ở nhóm ngậm dưới lưỡi là 93,9 % cao hơn ở nhóm
đường âm đạo là 88,2 %
- Các tác dụng phụ khá tương đương ở cỏc nhúm (cao nhất là đau, rồi
đến ra máu âm đạo, )(tỷ lệ thai tiếp tục phát triển)
92% phụ nữ hài lòng với phương pháp này và tỷ lệ lựa chọn đường âm
đạo và dưới lưỡi như nhau, 72% thớch dựng thuốc ở cơ sở y tế.
1.4. Nghiên cứu các phương pháp thay thế
Tại nhiều cơ sở y tế, phá thai nội khoa đòi hỏi 2 đến 3 lần khám lại tại
cơ sở y tế. Lần khám thứ 3 hay khám theo dõi được thực hiện khoảng 7-14
ngày sau kho uống mifepristone. Tái khám theo dõi nhằm mục đích xác định
thai đã sẩy trọn chưa và cần thêm chăm sóc nào tiếp theo liên quan đến tai

dõi khác an toàn và được chuẩn hóa thay cho việc tái khám thường quy là cần
thiết nhằm làm giảm chi phí và tăng tính chấp nhận của một phương pháp
đơn giản khác.
Thay thế tái khám theo dõi thường quy phải đáp ứng 2 việc: xác định
được sẩy thai đã trọn và nhận diện khi nào cần đến tái khám vỡ cú biến
chứng. Một công cụ phải đảm bảo rằng cả những phụ nữ cần tái khám phải
trở lại phòng khám và những phụ nữ không cần chăm sóc thêm được giải
thích phương pháp đã hoàn tất. Những nghiên cứu ghi nhận có 2 biện pháp có
tính hứa hẹn để đáp ứng hai mục đích trên.
Thứ nhất, bản thân người phụ nữ phải có thể dự báo được kết quả sau
phá thai nội khoa. Một nghiên cứu trên 1000 phụ nữ ghi nhận phụ nữ xác định
việc tống suất túi thai rất chính xác trong quá trình phá thai nội khoa[1]. Một
nghiên cứu gần đây trên hơn 3000 phụ nữ xác nhận phụ nữ có thể xác định
quá trình đã hoàn tất hay chưa. Nghiên cứu so sánh khả năng của một test thử
thai có độ nhạy thấp, phối hợp với một bộ phỏng vấn tự trả lời đã được chuẩn
hóa thực hiện sau 1 tuần sử dụng misoprostol, nhằm xác định những phụ nữ
cần sự chăm sóc y tế tiếp. Bộ phỏng vấn hỏi phụ nữ có ghi nhận chảy máu
nhiều trong 2 ngày sau khi uống misoprostol, chị ấy cú cũn cảm giác mang
thai không, hay nếu chị có những triệu chứng đặc biệt của có thai (căng ngực,
buồn nụn/nghộn, tiểu nhiều lần hay dễ mệt/uể oải). Nghiên cứu đã minh
chứng một phác đồ dựa trên những thông tin trả lời của phụ nữ và kết quả của
test thử thai có thể sử dụng để nhận định rằng người phụ nữ này có cần trở lại
phòng khám để đánh giá thêm hay không. Hệ thống cung cấp dịch vụ sử dụng
phác đồ này có thể nhận diện chính xác tất cả bệnh nhân có thai còn phát triển
và hầu hết tất cả phụ nữ (82%) cần hút nạo lại hay điều trị nhiễm trùng theo
kinh nghiệm [1]. Kết quả của hai nghiên cứu này cho thấy đánh giá qua điện
thoại hay bộ phỏng vấn tự trả lời có thể là một phương thức an toàn thay thế
17
cho tái khám thường quy để xác nhận tình trạng sẩy thai và nhận diện những
phụ nữ có thể cần chăm sóc y tế thờm vỡ liên quan đến việc phá thai.

đánh giá độ an toàn và tính khả thi của một phác đồ mới, thay thế cho việc tái
khám và siêu âm cho tất cả phụ nữ. Phác đồ thay thế này sử dụng hai kỹ thuật
mới đầy hứa hẹn: test thử thai bán định lượng và một bộ câu hỏi phỏng vấn
theo dõi được chuẩn hóa.
19
Chương 2
ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1. Đối tượng nghiên cứu
Phụ nữ trong tuổi sinh sản, phá thai nội khoa tại bệnh viện sẽ được thu
nhận vào nghiên cứu này.
2.1.1. Tiêu chuẩn lựa chọn
 Tình nguyện và có thể ký vào giấy cam đoan;
 Được bác sỹ đánh giá đủ điều kiện cho phá thai nội khoa (có tình trạng
sức khỏe tốt, có thai trong tử cung nhỏ hơn hay bằng 63 ngày vào ngày sử
dụng mifepristone)
 Đồng ý theo phác đồ nghiên cứu
 Đang sở hữu một điện thoại di động hay điện thoại bàn cá nhân
2.1.2. Tiêu chuẩn loại trừ
* Tuyệt đối
 Bệnh lý tuyến thượng thận.
 Điều trị corticoid toàn thân lâu ngày.
 Tăng huyết áp, hẹp van 2 lá, tắc mạch hoặc có tiền sử tắc mạch.
 Rối loạn đụng mỏu, sử dụng thuốc chống đông.
 Thiếu máu nặng.
 Dị ứng mifepriston hay misoprostol.
* Tương đối
 Đang cho con bú.
 Đang đặt dụng cụ tử cung (có thể lấy DCTC trước phá thai bằng thuốc).
 Đang viêm nhiễm đường sinh dục cấp tính (cần được điều trị).
20

01,015,0
2
=
+
=
+
=
BA
pp
p
2
2
)14,0(
)99,001,085,015,0645,192,008,0296,1( xxxx
N
++
=
= 94,6 ≈ 100 bệnh nhõn cho mỗi nhúm.
Tính toán cỡ mẫu, sẽ dựa trên các kết cục ít phổ biến nhất có liên quan
(thai còn phát triển sau phá thai nội khoa), giả thuyết ở mức khoảng 2.0% của
các trường hợp phá thai nội khoa (dựa vào các nghiên cứu trước của phác đồ
này ở các cơ sở ở đây). Để tính toán cỡ mẫu, chúng tôi giả thuyết rằng theo
dõi thường quy tại phòng khám như là chăm sóc chuẩn hiện hành, sẽ chẩn
đoán được 100% các thai kỳ còn phát triển.
Do đó, với độ mạnh của nghiên cứu là 80%, để có thể chứng minh
rằng một xét nghiệm thử thai bán định lượng kết hợp với một bảng kiểm tự trả
lời là trong khoảng 80-100% hiệu quả so với hiệu quả của chăm sóc chuẩn
trong việc phát hiện những thai kỳ còn phát triển (p = 0,08) trong mỗi nhánh
nghiên cứu. Như vậy, chúng ta cần phát hiện 100 thai đang phát triển hay 50
cho mỗi nhánh. Với tỉ lệ thai còn phát triển là 2%, nghiên cứu này cần

Gynuity Health Projects tại Nữu Ước. Phong bì ngẫu nhiên được giữ tại
phòng khám phá thai của mỗi bệnh viện tham gia nghiên cứu). Khi một phụ
nữ thích hợp bằng lòng tham gia có mặt, nhân viên phòng khám sẽ mở phong
bì kế tiếp và phân phụ nữ vào nhóm nghiên cứu được ghi.
Nhóm 1: Phụ nữ được phân vào nhóm 1 sẽ nhận phương thức theo dõi
phá thai nội khoa thường quy. Phương thức thường quy bao gồm một lần trở
lại tái khám sau 2 tuần (khoảng 10-14 ngày) sau sử dụng mifepristone. Vào
lần tái khám tại bệnh viện, phụ nữ sẽ được khám phụ khoa và siêu âm nếu cần
thiết. Trong trường hợp phụ nữ không thể đến tái khám được, mỗi bệnh viện
theo cách thức thường quy của họ để liờn hệ với bệnh nhân, có nghĩa 1 lần cố
gắng liên lạc bằng điện thoại, gửi thư hay đến nhà. Mẫu a2 sẽ ghi lại kết quả
của tất cả các lần khám lâm sàng, tất cả các chăm sóc có liên quan đến phá
thai và kết cục của sẩy thai. Vào lần tái khám, phụ nữ sẽ được hỏi về sự chấp
nhận của phương thức theo dõi hiện tại và sở thích của họ trong tương lai.
Nhóm 2: Phụ nữ được phân vào nhóm 2 sẽ theo phương thức theo dõi
mới. Vào lần khám đầu tiên, phụ nữ sẽ được yêu cầu cung cấp một số điện
thoại để liên lạc. Phụ nữ cũng được yêu cầu thực hiện một test thử thai bán
định lượng tại phòng khám và kết quả lần thử này được ghi vào bệnh án
nghiên cứu. Sau khi sử dụng mifepristone, phụ nữ sẽ được cung cấp một test
thử thai thứ hai và bảng kiểm tra trả lời qua điện thoại.
Phụ nữ được hướng dẫn điền vào danh sách kiểm tra tại nhà và thực
hiện test thử thai tại nhà vào ngày được ấn định 1 tuần sau khi sử dụng
mifepristone. Bộ câu hỏi đánh giá sẽ cho biết nếu phụ nữ trả lời “cú” cho bất
kỳ câu hỏi nào, chị ấy cần trở lại phòng khám để tái khám. Vào một ngày ấn
định, phụ nữ sẽ được nhân viên phòng khám liên lạc bằng điện thoại. Chị ấy
sẽ được yêu cầu xác nhận đã thực hiện test thử thai và bộ câu hỏi kiểm tra
chưa và báo cáo kết quả của cả hai. Trong trường hợp phụ nữ chưa thực hiện
test thử thai khi được điện thoại, người cung cấp yêu cầu chị ấy thực hiện
23
ngay và gọi lại trong vòng 30 phút. Người cung cấp sẽ xem xét những câu trả

khác do các biến chứng sau phá thai nội khoa. Chúng tôi sẽ phân loại điều trị
sau theo dõi đối với thai còn đang tiến triển chia thành 3 nhóm dựa theo
những kết cục chủ yếu của phá thai nội khoa theo ưu tiên cấp cứu: điều trị thai
đang tiến triển, chỉ định nạo vì những lý do khác hơn là do thai còn đang tiến
triển hoặc điều trị theo kinh nghiệm nhiễm trùng, và những điều trị khác có
liên quan đến phá thai nội khoa (ví dụ như bổ sung thuốc co cơ tử cung, cấp
ibuprofen hoặc viên sắt như là một phần của xử trí theo dõi). Phân tích chính
sẽ so sánh các ca đã được nhận dạng trong hai nhánh của nghiên cứu thông qua
sử dụng test Chi-bỡnh phương, MC Nemar. Chúng tôi cũng sẽ so sánh sự chấp
nhận của hai phương pháp đối với người phụ nữ. Chúng tôi sẽ lập lưới tam giác
dữ liệu lâm sàng và sự chấp nhận với các kết quả các thảo luận của nhóm mục
tiêu với những người cung cấp tại bốn nơi tham gia trong nghiên cứu.
2.2.6. Các biến số nghiên cứu
Thông tin cơ bản:
1 Tuổi
2 Trình độ học vấn
3 Số lần có thai
4
Số lần phá thai ngoại khoa
Số lần phá thai nội khoa
5 Kết quả thử thai bằng que thử thai bán định lượng
Nhóm theo dõi thay thế
6 Tỷ lệ phụ nữ hoàn tất bảng kiểm theo dõi tại nhà
7 Tỷ lệ những nguyên nhân không hoàn tất bảng kiểm theo dõi tại nhà
8
Tỷ lệ quay lại phòng khám sau khi đọc kết quả của bảng kiểm để xác
định có thai.
9 Tỷ lệ phụ nữ thực hiện xét nghiệm thử thai
10 Độ khó hay dễ của việc sử dụng xét nghiệm tại nhà
11 Tỷ lệ từng nơi lựa chọn phá thai nội khoa trong tương lai


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status