đánh giá sự chấp nhận, hiệu quả làm sạch và tính an toàn của dung dịch sodium phosphate trong nội soi đại tràng ở trẻ em tại bệnh viện nhi trung ương - Pdf 22

ĐẶT VẤN ĐỀ
Nội soi đại tràng là một phương pháp quan trọng trong quy trình tiếp cận
chẩn đoán, điều trị và theo dõi một số bệnh lý đường tiêu hóa như viêm đại
tràng, xuất huyết đường tiêu hóa dưới, tiêu chảy kéo dài hay bệnh polyp đại
tràng ở trẻ em. Tính an toàn của nội soi ống mềm đã được chứng minh đối với
tất cả các lứa tuổi kể cả trẻ sơ sinh [38]. Tuy nhiên, sự thành công trong quá
trình tiến hành nội soi đại tràng phụ thuộc vào nhiều yếu tố. Một trong những
yếu tố quan trọng nhất là quá trình làm sạch đại tràng, vì quá trình này cho
phép tiến hành thủ thuật nhanh chóng, an toàn và quan sát được toàn bộ niêm
mạc đại tràng [28]. Tỉ lệ bệnh nhân được làm sạch đại tràng không tốt dao
động tùy theo từng nghiên cứu, nhiều bệnh nhân phải tiến hành nội soi lần
hai. Vấn đề này trở nên phức tạp hơn và là một thách thức đối với các nhà tiêu
hóa nhi khoa khi chỉ định nội soi đại tràng cho trẻ em. Một quá trình chuẩn bị
đại tràng được xem là lý tưởng cho trẻ em khi lượng dịch trẻ uống vào không
nhiều, dễ uống, dễ chấp nhận, không tốn kém và mang lại hiệu quả làm sạch
đại tràng tốt. Hơn thế nữa, quy trình làm sạch đại tràng phải không dẫn đến sự
rối loạn các chất điện giải trong cơ thể, không phải điều chỉnh chế độ ăn uống
làm phá vỡ các sinh hoạt thường ngày của trẻ và không gây các tổn thương có
thể làm sai lệch chẩn đoán trên mô bệnh học [37].
Nhiều phương pháp làm sạch đại tràng đã được áp dụng cho người lớn
như thụt tháo phân hoặc sử dụng các thuốc làm tăng lượng nước trong phân.
Tăng lượng nước trong phân bằng các thuốc có chứa các phân tử đường
không có khả năng hấp thu hoặc hấp thu không hoàn toàn như manitol,
sorbitol, lactose hay fructose hiện nay ít được sử dụng ở người lớn và không
được khuyến cáo sử dụng cho trẻ em. Thụt tháo bằng một lượng dịch lớn để
làm sạch ruột cho trẻ em có thể dẫn đến hiện tượng rối loạn nước, điện giải,
1
nguy cơ hạ thân nhiệt và trẻ thường phải nằm điều trị trong bệnh viện do đó
phương pháp này không còn được áp dụng trong chuẩn bị đại tràng ở trẻ em
được chỉ định làm nội soi. Cho đến nay chưa có sự thống nhất giữa các nhà
tiêu hóa nhi khoa về thuốc, liều lượng, thời gian chuẩn bị, sự thay đổi của chế

bên phải để rồi chuyển thành ĐT ngang. Ở người lớn, chiều dài của ĐT lên
dài khoảng 12-15cm. Ở trẻ em tỷ lệ chiều dài của ĐT lên thường ngắn hơn so
với chiều dài của toàn bộ ĐT. Góc ĐT phải là một góc khoảng 60-80 độ mở
3
ra trước và xuống dưới rồi vào trong, nằm ngang với gan, phía trước thận
phải, ngang với mức đầu dưới xương sườn X-XI, góc ĐT phải được dính vào
thành bụng sau và giữ tại chỗ bởi dây chằng hoành - ĐT và các dây chằng đi
từ góc ĐT đến các tạng lân cận (gan, tá tràng, thận). Mặc dù được cố định bởi
nhiều dây chằng góc ĐT phải lỏng lẻo hơn so với góc ĐT bên trái [4].
Đại tràng ngang bắt đầu từ góc đại tràng phải, đi ngang sang trái đến đầu
dưới của lách thì bẻ quặt xuống tạo góc ĐT trái. ĐT ngang nằm ngang giữa ổ
phúc mạc, cùng với mạc treo chia ổ phúc mạc ra làm hai tầng trên và dưới [4].
ĐT ngang có hai đoạn:
- Đoạn phải đi từ góc ĐT phải đến bờ trong khúc hai tá tràng là phần cố
định, dính vào phần bụng sau và chiều dài bằng 1/3 ĐT ngang.
- Đoạn trái đi từ bờ trong khúc 2 tá tràng tới góc lách, là phần di động và
có chiều dài bằng 2/3 ĐT ngang. Kích thước ĐT ngang trung bình dài khoảng
50 cm có trường hợp dài tới 1m ở người lớn, cho nên ĐT ngang hay võng
xuống dưới.
Góc đại tràng trái là chỗ quặt xuống của ĐT ngang tiếp với ĐT xuống,
góc ĐT trái là 1 góc khoảng 40-50 độ nằm dưới lách, ngang với mỏm ngang
đốt sống lưng XI hoặc XII (cao hơn góc ĐT phải) [4].
Đại tràng xuống là phần cố định của ĐT, đi từ góc lách tới mào chậu
trái (ngang mức mào chậu tiếp với ĐT sigma). ĐT xuống như một đoạn ruột
dài và mảnh, thường trống không, kích thước dài khoảng 14cm [4].
Đại tràng sigma ở trẻ em tương đối dài và ngoằn ngoèo hơn. ĐT sigma
gồm hai đoạn [4].
- Đoạn cố định là đoạn tiếp nối với ĐT xuống được cố định bởi thành
chậu và lá mạc dính ĐT trái.
4

hồng, nhẵn, có các nếp van hình bán nguyệt, do các nếp niêm mạc lồi vào
trong lòng xếp thành hình xoáy chân ốc từ trên xuống dưới – gọi là các van
Houston, thường có ba van, hai ở bên trái và một ở bên ngoài. Các van này có
thể che lấp những thương tổn nhỏ ở niêm mạc TT.
Ống hậu môn là vùng da nhẵn, không có lông, không có tuyến, cao độ
1cm màu đỏ tím vài nhiều tĩnh mạch [4].
- Van cụt hay van Houston ở thấp nhất
- Van cùng dưới ở giữa
- Van cùng trên ở cao nhất
Khi soi vào lòng TT sâu khoảng 7 cm sẽ thấy cùng một lúc được hai van
cụt và cùng bắt chéo nhau, đẩy lên nữa thấy van cùng trên. Khi soi đến
khoảng 11-12cm có thể thấy nếp van giới hạn giữa TT và ĐT sigma [4].
Tóm lại, trên hình ảnh nội soi niêm mạc ĐT bình thường, có màu hồng
nhạt, nhẵn bóng, ướt và có các nếp niêm mạc chạy ngang, qua nếp niêm mạc
có thể nhìn được các mạch máu nhỏ ở phía dưới, ở các đoạn ĐT góc lách và
góc gan, ngoài việc thấy ĐT gấp, vặn gây khó cho soi còn có thể thấy bóng
tím của lách hoặc gan in trên thành ĐT [4].
Manh tràng và ĐT lên trên lòng thường thấy ít dịch tiêu hóa màu xanh
loãng mới từ hồi tràng chảy xuống [4].
1.1.1.3. Mạch máu và thần kinh
Hệ thống động mạch
- Động mạch mạc treo tràng trên và động mạch mạc treo tràng dưới cấp
máu nuôi toàn bộ ĐT và phần trên của TT. Hai động mạch này tiếp nối với
nhau bởi một cung nằm sau phúc mạc, cung này do hai nhánh bên của động
6
mạch ĐT phải trên và động mạch ĐT trái trên gọi là nhánh trên động mạch
mạc treo tràng. Hai nhánh trên tách gần gốc của hai động mạch [4].
- Các nhánh của động mạch ĐT trên phải (nhánh của động mạch mạc
treo tràng trên) và nhánh của động mạch ĐT trên trái (nhánh của động mạch
mạc treo tràng dưới). Hai nhánh này nối tiếp và tạo thành cung Riolang nằm

1.1.2.1. Cấu trúc vi thể của đại tràng
Lớp thanh mạc là lá tạng của phúc mạc dính vao lớp cơ bằng tổ
chức dưới thanh mạc. Trong tổ chức này có chứa mạch máu, thần kinh
và mạch bạch huyết [4].
Lớp cơ có hai lớp [4]:
- Lớp cơ dọc không trải đều mà tụ lại thành ba dải cơ dọc
- Lớp trong xếp vòng như ở ruột non nhưng mỏng hơn nhiều.
Lớp dưới niêm mạc chỉ là tổ chức lỏng, trong chứa mạch máu, thần
kinh và mạch bạch huyết [4].
Lớp niêm mạc tương đối phẳng hơn ruột non do không có vi nhung mao
vì không có chức năng hấp thu dinh dưỡng, các tuyến cũng giống như ruột
non, nhưng tuyến ở đây dài và phức tạp hơn, song nó không tiết một enzyme
tiêu hóa nào mà chỉ chế nhày. Tế bào có 3 loại: tế bào có nhung mao hấp thu,
tế bào chế nhày và tế bào ưa bạc [4].
1.1.2.2. Cấu trúc vi thể của trực tràng
Lớp thanh mạc chỉ được phúc mạc phủ ở phía trên (mặt trước và hai
bên), phía sau và dưới được bao bọc trong một tổ chức liên kết [4].
Lớp cơ có hai lớp bao gồm lớp cơ dọc ở nông và cơ vòng ở sâu [4].
8
- Lớp cơ dọc không tụ thành các dải cơ dọc như ĐT mà tỏa thành các
giải nhỏ phân bố đều dặn trên mặt TT.
- Lớp cơ vòng càng xuống dưới càng dày, tới phần ống hậu môn tạo thành cơ
thắt trơn, cơ này dày 3-6mm, cao 4-5cm, nằm ở phía trong cơ thắt vân hậu môn.
Lớp dưới niêm mạc là một tổ chức chứa nhiều mạch máu và thần kinh.
Có đám rối tĩnh mạch TT [4].
Lớp niêm mạc có những đặc tính sau [4]:
- Lớp liên bào có hai phần rõ rệt, ở bóng TT là liên bào ruột (trụ đơn), ở
ống hậu môn là liên bào kiểu da (lát tầng).
- Các tuyến có lòng lớn, tương đối phát triển.
- Hệ thống tĩnh mạch phát triển rất đặc biệt.

từ lòng ruột (Hình 1). Ngược lại,
tế bào niêm mạc ruột tại phần ĐT xuống hấp thụ Na
+
nhờ cơ chế điện tích qua
các kênh Na nhạy cảm amiloride dưới tác động của aldosterone [41]. Sự hấp
thu chủ động K
+
được thực hiện ở vùng xa, nơi mà K
+
vận chuyển tới màng tế
bào từ phía lòng ruột bởi hai loại men H
+
-K
+
-ATPase khác nhau [24]. SCFA’s
được tế bào biểu mô ruột hấp thụ cùng với NaCl. Chúng được tạo ra từ quá
trình lên men các sợi cơ nhờ các vi khuẩn sống trong ĐT. Sự hấp thu này
cung cấp thêm năng lượng cho các tế bào biểu mô của ĐT qua cơ chế khuếch
tán và tại vùng cạnh tế bào ở vùng gần [43].
Sự bài tiết Cl
-
chủ yếu xảy ra tại các tế bào khe, nhưng cũng có thể ở các
tế bào bề mặt niêm mạc ruột ĐT. Sự bài tiết này được thực hiện qua các kênh
CFTR (Cystic Fibrosis Transmembrane conductance Regulator) do sự hoạt
hóa AMP vòng. Đồng thời, sự bài tiết Cl
-
cũng được thực hiện cùng với bài
tiết KCl qua kênh K
+
và vận chuyển NaCl qua các kênh cạnh tế bào. Cl

10
bảo vệ các tế bào khỏi sự ăn mòn và sự xâm nhập của các vi khuẩn [33]. Chất
nhầy được các tế bào hình đài và tế bào khe biểu mô ĐT tiết ra.
Chức năng cuối cùng của ĐT là sự hấp thu nước. Mặc dù ở đây có cả
sự hấp thu và sự bài tiết. Không rõ bao nhiêu lượng nước được hấp thu qua
con đường cạnh tế bào so với qua tế bào biểu mô [54]. Cũng không rõ bằng
cách nào để sự hấp thu nước vào ruột có thể thắng được áp lực thẩm thấu cao
tạo ra do phân trong lòng ruột. Có các kênh đặc biệt gọi là aquaporin vận
chuyển nước, mặc dù, hiện tại có rất ít bằng chứng về sự cần thiết của các
kênh này cho việc hấp thụ dịch và làm khô phân tại ĐT [40]. Có thể các kênh
CFTR có vài trò quan trọng trong sự vận chuyển nước và ion tại biểu mô ĐT.
Hình 1.2. Phương thức trao đổi các chất ở đại tràng
1.2. Nội soi đại tràng ống mềm
Là kỹ thuật chủ yếu để phát hiện các tổn thương bệnh lý ở ĐT.
11
1.2.1. Lịch sử phát triển của nội soi đại tràng
Lịch sử của nội soi hiện đại
Năm 1796, Lichtleiter, dụng cụ soi trực tràng đầu tiên được phát minh
bởi Phillip Bozzini (1773- 1809) ở Vienna, với cây nến được sử dụng làm
nguồn sáng. Dụng cụ nay tuy rất thô sơ nhưng đã mở đường cho ngành nội
soi hiện đại [51].
Năm 1932: Rudolf Schindler và Georg Wolf cho ra đời loại ống soi nửa
mềm dựa trên nguyên lý của Lang phát hiện năm 1917, “Hình ảnh có thể truyền
giữ nguyên vẹn qua một hệ thống các thấu kính lồi xếp trên một trục công không
quá gấp góc” [2].
Năm 1957: Nhóm nghiên cứu ở Đại học Michigan chế tạo được ống nội
soi mềm. Hirschowitz và các cộng sự thiết kế ống soi dạ dày mềm đầu tiên,
tuy nhiên thiết bị này vẫn còn thô sơ [2].
Tháng 10 năm 1960 máy nội soi sợi mềm đầu tiên do công ty American
Cystoscope Maker sản xuất ra đời [2, 51].

Chỉ định [38]
Chảy máu đường tiêu hóa dưới
- Đại tiện phân có máu
- Chảy máu vi thể (Fecal occult blood)
Bệnh lý viêm ruột
- Chẩn đoán
- Đánh giá mức độ nặng
- Đánh giá đáp ứng với điều trị
- Theo dõi nguy cơ ung thư ở bệnh lý viêm ruột mạn
Tiêu chảy kéo dài không rõ nguyên nhân
Đánh giá các bất thường giải phẫu trên phim chụp barit
Tiền sử gia đình có bệnh polyp
Theo dõi ung thư
- Viêm loét đại tràng
- Bệnh polyp
- Polyp tuyến hoặc hỗn hợp
Đau bụng và tiêu chảy kéo dài ở bệnh nhân HIV hoặc có các bệnh rối loạn
miễn dịch khác
Dấu hiệu lâm sàng của thải ghép
Trong khi phẫu thuật
Để xác định tổn thương mà không thể phát hiện bằng sờ nắn và/ hoặc thăm
khám
Can thiệp
- Cắt polyp
- Điều trị chảy máu, loạn sản mạch
- Lấy dị vật
- Tháo lồng
- Nong chỗ hẹp
14
Chống chỉ định [38]

hợp chụp ĐT hoặc phẫu thuật. Phương pháp này bao gồm thay đổi chế độ ăn
uống, nhuận tràng đường uống hoặc thụt hậu môn. Bệnh nhân cần phải thay
đổi chế độ ăn trong nhiều ngày với mục tiêu làm giảm lượng phân trong ĐT
[10]. Tuy nhiên, các nghiên cứu cho thấy phương pháp này ít hiệu quả [13].
Phương pháp thứ hai là sử dụng thuốc nhuận tràng trước một ngày và
thuốc thụt hậu môn ở ngày tiến hành thủ thuật. Quy trình chuẩn bị này gây
nhiều ảnh hưởng đến các hoạt động hàng ngày của BN, gây mất nước, rối
loạn điện giải và có thể gây suy dinh dưỡng cho trẻ. Để tránh sự rối loạn điện
giải và thiếu hụt calo, bệnh nhân đã được đưa thêm các thành phần dinh
dưỡng vào chế độ ăn. Đây là phương pháp làm sạch đại tràng có hiệu quả,
16
nhưng có hạn chế là BN phải nhập viện nhiều ngày. Thuốc thụt hậu môn cũng
gây bất tiện và không thoải mái cho BN. Viêm niêm mạc TT từ những thuốc
thụt cũng được báo cáo trong một số nghiên cứu [42].
Các thuốc xổ đường uống thay thế cho các thuốc thụt hậu môn và được
thêm dung dịch muối hoặc dung dịch cân bằng điện giải ngày càng phổ biến.
Các thuốc này mang lại hiệu quả làm sạch đại tràng nhanh, nhưng bệnh nhân
phải uống một lượng lớn dịch [7-12 L] [22]. Một số BN cần phải đặt sonde dạ
dày để có thể hoàn thành được toàn bộ lượng dịch cần thiết cho quá trình làm
sạch đại tràng. Ngoài ra, sử dụng các thuốc xổ cũng là nguyên nhân dẫn đến
giảm cân và rối loạn nước điện giải [22].
Sự ra đời của dung dịch cân bằng thẩm thấu đã giải quyết nhược điểm
trong các phương thức làm sạch ĐT ở thời kỳ trước. Đầu tiên là manitol, một
oligosaccarid không được hấp thu. Dung dịch manitol 10% làm sạch nhanh
ĐT mà không làm rối loạn điện giải [23]. Nguy cơ gây cháy nổ do khí
methane và hydrogen được tạo ra trong quá trình lên men manitol bởi các vi
khuẩn có trong ĐT đã được thông báo trong một số nghiên cứu, là rào cản cho
việc sử dụng dung dịch này trong chuẩn bị đại tràng [52].
Năm 1980, Davis và cộng sự thông báo về sự ra đời của dung dịch
polyethylene glycol – electrolyte lavage solution (PEG – ELS), một chất

để lựa chọn với mục đích làm sạch đại tràng. Trong 100ml dung dịch có chứa
48g (400 mmol) monobasic sodium phosphate [Na(PO
4
)2] và 18g (130mmol)
disbasic sodium phosphate [NaPO
4
] tạo nên tính ưu trương. Hoạt động của
muối phosphate này dựa trên cơ chế thẩm thấu, làm tăng lượng nước bằng
18
cách kéo dịch ngoài tế bào qua thành ruột để duy trì lượng dịch có trong lòng
đại tràng. Do đó, thuốc cần được hòa loãng với một lượng nước thích hợp
trước khi sử dụng để tránh gây nôn và phòng mất nước [55, 12]. Mối liên
quan giữa hiệu quả làm sạch đại tràng của thuốc với lứa tuổi và liều lượng đã
được chứng minh trong một số nghiên cứu [49]. Thời gian thuốc bắt đầu có
tác dụng trung bình là 1,7h sau liều đầu tiên và 0,7h sau liều thứ hai. Thời
gian tác động của SP kéo dài trung bình 4,6h sau liều đầu tiên và 2.9h sau liều
thứ hai [49].
Trong nhiều nghiên cứu nhận thấy rằng OSP được nhiều bệnh nhân
chấp nhận và có hiệu quả cao trong làm sạch đại tràng [12].
1.3.1. Đánh giá sự dung nạp và hiệu quả làm sạch đại tràng
Đánh giá sự dung nạp thuốc
Trong 25 nghiên cứu đánh giá sự dung nạp của OSP so với PEG, có 14
nghiên cứu thấy rằng OSP được dung nạp tốt hơn, 10 nghiên cứu ghi nhận
không có sự khác biệt và PEG được đánh giá là dung nạp tốt hơn OSP chỉ
trong 1 nghiên cứu. Nguyên nhân của sự dung nạp kém khi sử dụng dung dịch
PEG là do mùi vị khó được trẻ chấp nhận và phải uống một lượng lớn (3-4l
PEG so với 1.5-2l OSP) [12]. Ở trẻ em, theo kết quả nghiên cứu của Gremse
và cộng sự, OSP cũng được dung nạp tốt hơn PEG [30]. Hiệu quả làm sạch
đại tràng của OSP đã được chứng minh tương đương với PEG [12]
Đánh giá hiệu quả làm sạch ĐT chuẩn bị cho nội soi

Thang điểm Ottawa [50]
Thang điểm Ottawa đánh giá mức độ làm sạch và lượng dịch còn lại trong ĐT
Mức độ làm sạch ở mỗi phần đại tràng
Rất tốt (0 điểm):
Có thể quan sát tốt toàn bộ niêm mạc ĐT, dịch còn lại trong
đại tràng trong và không có phân.
Tốt (1 điểm):
Trong ĐT còn lại một ít chất lỏng đục hoặc còn dư lại ít
phân nhưng vẫn có thể quan sát tốt niêm mạc. Không cần
thiết phải rửa hoặc hút vẫn quan sát được niêm mạc ĐT.
Trung bình (2 điểm):
Trong ĐT còn phân làm che khuất làm hạn chế khả năng
quan sát niêm mạc. Phải hút hoặc rửa mới có thể quan sát
được niêm mạc ĐT.
Kém (3 điểm):
Trong đại tràng còn phân che khuất làm hạn chế khả năng
quan sát niêm mạc, phải hút và rửa mới quan sát được.
Không đạt (4 điểm):
Phân rắn che khuất niêm mạc, không thể quan sát được
niêm mạc ĐT ngay cả khi đã hút hoặc rửa.
Lượng dịch còn lại trong đại tràng
Ít (0) Trung bình (1) Nhiều (2)
Tổng điểm: R….+ M….+ RS… + Fluid = … /14
(R: ĐT phải, M: ĐT ngang, RS: ĐT sigma, Fluid: lượng dịch)
21
Hình 1.4. Mức độ làm sạch đại tràng: (a): Kém – (b): Rất tốt
1.3.2. Đánh giá tính an toàn của dung dịch sodium phosphate
Mỗi phương thức làm sạch đại tràng đều có thể có những bất lợi nhất
định. Các tác dụng phụ khi sử dụng các dung dịch làm sạch đại tràng thường
gặp nhất là rối loạn điện giải, mất nước, đau bụng, buồn nôn, nôn, chướng

thứ phát của tổn thương thận cấp, biểu hiện suy thận âm thầm sau nội soi đại
tràng vài ngày hoặc vài tháng. Chức năng thận của bệnh nhân không bao giờ
có thể hồi phục hoàn toàn, một số trường hợp tiến triển đến bệnh thận giai
đoạn cuối [53].
Sodium phosphate có thể gây biến đổi niêm mạc đại tràng với tổn
thương dạng loét apter tương tự như tổn thương niêm mạc ruột gặp trong
bệnh lý hội chứng ruột kích thích của bệnh nhân trên cả hình ảnh đại thể và vi
thể [36, 62].
Mặc dù những rối loạn về nước và điện giải khi sử dụng sodium
phosphate thường là tạm thời và không có triệu chứng lâm sàng. Tuy nhiên,
có 34 nghiên cứu đã thông báo về các tác dụng phụ khi sử dụng sodium
phosphate, trong đó 18 trường hợp có các tác dụng phụ khá nặng nề và có 8
ca tử vong. Năm 2005 các nghiên cứu trên người lớn đã ghi nhận 21 trường
hợp có mối liên quan giữa biểu hiện tổn thương thận cấp và việc sử dụng
sodium phosphate. Trong các nghiên cứu này, 17/21 (81%) bệnh nhân là nữ,
23
tuổi trung bình là 64; 16/21 bệnh nhân có tiền sử tăng huyết áp và 14 (67%)
có sử dụng thuốc ức chế men chuyển hoặc chẹn thụ thể angiotensin [16].
Để đảm bảo tính an toàn khi sử dụng sodium phosphate trong phác đồ
làm sạch đại tràng cần chống chỉ định cho những bệnh lý kèm theo dưới đây:
Chống chỉ định dùng sodium phosphate [39]
Chống chỉ định Thận trọng
Bệnh lý làm giảm nhu động ruột đường
tiêu hóa trên hoặc dưới
- Tắc ruột
- Giả tắc ruột
- Giãn đại tràng nhiễm độc
- Liệt nhẹ dạ dày
- Táo bón nặng (đại tiện <1 lần/tuần)
Bệnh tim

- Tuổi 2-16 tuổi.
- Có chỉ định nội soi đại tràng.
- Được thực hiện qui trình làm sạch đại tràng bằng dung dịch sodium
phosphate theo phác đồ của khoa Tiêu hóa bệnh viện Nhi TƯ.
2.1.2. Tiêu chuẩn loại trừ
- Trẻ dưới 2 tuổi.
- Có chống chỉ định với dung dịch sodium phosphate.
2.2. Phương pháp nghiên cứu
2.2.1. Thiết kế nghiên cứu
Nghiên cứu tiến cứu, thử nghiệm lâm sàng không đối chứng
2.2.2. Quy trình chọn mẫu
Bệnh nhân được chỉ định nội soi đại tràng từ 2/2012 - 8/2012 và được
chuẩn bị làm sạch đại tràng theo qui trình đang được áp dụng tại khoa tiêu
hóa bệnh viện Nhi TƯ.
Quy trình chuẩn bị nội soi đại tràng
Chế độ ăn
- Trước ngày nội soi, vào buổi sáng trẻ được ăn uống bình thường,
nhưng ít chất xơ.
- Chiều ăn nhẹ tùy theo lứa tuổi (không ăn sau 16h): Cháo thịt xay nhỏ,
sữa bột, mỳ.
25

Trích đoạn Phõn bố cỏc tổn thương trờn nội soi
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status