Tiểu luận luật hợp đồng thương mại quốc tế - Pdf 24

Tiểu luận - môn: Luật hợp đồng thương mại quốc tế GVHD.T.S Dương Anh Sơn
1
Tiểu luận
Luật hợp đồng thương mại quốc tế

Tiểu luận - môn: Luật hợp đồng thương mại quốc tế GVHD.T.S Dương Anh Sơn
2

DẪN NHẬP
Như chúng ta đã biết thì hợp đồng là một công cụ vừa chia sẻ lợi ích, vừa là công
cụ chia sẻ rủi ro, tại thời điểm giao kết hợp đồng lợi ích của hai bên là ngang bằng nhau
vì họ đã tự nguyện thỏa thuận, đôi bên cùng có lợi. Theo đó, yêu cầu các bên trong hợp
đồng không chỉ quan tâm đến lợi ích của mình mà còn quan tâm đến lợi ích của đối tác để
cả hai cùng có lợi và bình đẳng ở góc độ nào đó. Nguyên tắc này xuất phát từ nhận thức
các bên tham gia sẽ chỉ ký hợp đồng nếu có lợi, và vì vậy nếu một bên không những
không được lợi mà còn thiệt hại thì sẽ chẳng cần tham gia. Trong hơp đồng nếu không
quy định quyền thương lượng lại, thì dựa trên nguyên tắc thiện chí, các bên vẫn có thể
thương lượng lại hợp đồng để cân bằng lợi ích khi một bên bị thiệt hại lớn do sự thay đổi
của bối cảnh. Do vậy, việc ghi nhận quyền thương lượng lại không phải là vô nghĩa và

Tiểu luận - môn: Luật hợp đồng thương mại quốc tế GVHD.T.S Dương Anh Sơn
4

1. Khái niệm Hardship.
Hardship - hiểu nôm na là điều khoản quy định cho phép một bên trong hợp đồng có
quyền xin điều chỉnh hợp đồng, khi có những thay đổi về hoàn cảnh và môi trường kinh

 Điều khoản hardship có hiệu lực khi các bên thỏa thuận nó trong hợp đồng.Trong
trường hợp các bên không có thỏa thuận nhưng nếu chọn luật quốc gia thành viên
của tổ chức quốc tế như Unidroit thì hardship vẫn được áp dụng.
 Việc phân định luật áp dụng cho hợp đồng thương mại quốc tế không hề dễ dàng
,và việc xem xét tình huống nào áp dụng hardship cũng phức tạp.
Các trường hợp áp dụng điều khoản hardship theo quy định tai điều 6.2.1;6.2.2;6.2.3
của UNIDROIT trong Bộ nguyên tắc hợp đồng thương mại quốc tế 2004 như sau:
“Hoàn cảnh hardship được xác lập khi xảy ra các sự kiện làm thay đổi cơ bản sự cân
bằng giữa các nghĩa vụ hợp đồng, hoặc do chi phí thực hiện nghĩa vụ tăng lên, hoặc do
giá trị của nghĩa vụ đối trừ giảm xuống, và:
(i) Các sự kiện này xảy ra hoặc được bên bị thiệt hại biết đến sau khi giao kết hợp
đồng
(ii) Bên bị bất lợi đã không thể tính một cách hợp lý đến các sự kiện đó khi giao kết
hợp đồng
(iii) Các sự kiện này nằm ngoài sự kiểm soát của bên bị bất lợi
(iv) Rủi ro về các sự kiện này không được bên bị bất lợi gánh chịu
(v) Khó khăn trở ngại chỉ được chấp nhận cho những nghĩa vụ chưa được thực hiện
 Các trường hợp được ghi nhận như sau:
2.1. Các sự kiện này xảy ra hoặc được bên bị thiệt hại biết đến sau khi giao
kết hợp đồng
Nếu một bên trong hợp đồng đã biết hoặc nghĩa vụ phải biết các sự kiện đó khi giao
kết hợp đồng thì bên đó phải tính đến các sự kiện đó. Do vậy, sau này khi xẩy ra sự kiện,
bên đó không thể viện dẫn đây là trường hợp khó khăn trở ngại
Vụ việc:
Hợp đồng mua bán thép giữa Cty Pháp ( Scafom International BV)- người bán và Cty Hà
Lan (Lorraine Tubes S.A.S)- người mua. Tranh chấp phát sinh khi giá thép trên thị
trường tăng 70% khiến hai bên bất đồng về việc điều chỉnh giá trong hợp đồng. Tranh
chấp được giải quyết tại Tòa phá án (Cour de Cassation) của Bỉ, số C.07.0289.N, ngày
Tiểu luận - môn: Luật hợp đồng thương mại quốc tế GVHD.T.S Dương Anh Sơn


dịch là hoàn cảnh khó khăn). Hơn nữa, nguyên tắc thiện chí trong kinh doanh quốc tế
Tiểu luận - môn: Luật hợp đồng thương mại quốc tế GVHD.T.S Dương Anh Sơn
7

cũng yêu cầu các bên phải hợp tác để cùng khắc phục những khó khăn trong quá trình
thực hiện hợp đồng.
Với những lập luận trên, Tòa phá án Bỉ cho rằng người bán có quyền yêu cầu đàm
phán lại giá và bác bỏ khiếu kiện của người mua.

2.2. Bên bị bất lợi đã không thể tính đến các sự kiện đó một cách hợp lý khi
kí kết hợp đồng.
Trường hợp này,các sự kiện phải mang tính khách quan mà các bên phải không thể
biết và lường trước được khi kí kết hợp đồng. Tức phải thỏa mãn hai điều kiện sau đây
 Tính khách quan của sự kiện: Sự kiện diễn ra không phải là do ý muốn chủ quan
của con người.
Ví dụ : Trong một hợp đồng mua bán hàng hóa giữa A và B, giá trị của hợp đồng
được các bên thỏa thuận ghi trong hợp đồng là đồng tiền của nước C, sau một thời
gian thực hiện hợp đồng, khủng hoảng chính trị đã xảy ra tại nước C và đã làm cho
đồng tiền của nước này mất giá hơn 80% so với giá trị của nó trước khi A và B kí
hợp đồng. Trừ khi hoàn cảnh cho phép xác định khác, việc mất giá này được coi là
trường hợp khó khăn trở ngại vì sự mất giá đột biến của đồng tiền nước C được
xem là sự kiện khách quan.
 Sự kiện mà các bên trong hợp đồng không thể biết và không thể lường trước được
khi kí kết hợp đồng. Điều này có nghĩa là các bên không thể dự báo trước được
khó khăn xảy ra, sự kiện khách quan lúc này vượt ngoài khả năng lường trước của
các bên trong hợp đồng.
Chẳng hạn như trường hợp: Bên A và Công ty B có một hợp đồng mua bán xe ô

sự mất cần bằng nghiêm trọng và việc tiếp tục thực hiện hợp đồng với giá hợp đồng sẽ
làm người bán bị thiệt hại,trừ khi người bán có quyền đàm phán lại giá.tòa đã áp dụng
bộ nguyên tắc UNIDROIT về hợp đồng thương mại quốc tế để bổ sung cho công ước
Viên.Theo điều 6.2.2 của bộ nguyên tắc này,một bên có thể yêu cầu bên kia đàm phán
lại nếu có những sự kiện làm thay đổi sự cân bằng cơ bản của hợp đồng.Hơn nữa
nguyên tắc thiện chí trong kinh doanh quốc tế cũng yêu cầu rằng các bên phải hợp tác
để cùng khắc phục những khó khăn trong quá trình thực hiện hợp đồng.
Với những lập luận trên,tòa án Bỉ cho rằng người bán có quyền yêu cầu đàm phán lại
giá và bác bỏ khiếu kiện của người mua.
Tiểu luận - môn: Luật hợp đồng thương mại quốc tế GVHD.T.S Dương Anh Sơn
9

2.4. Rủi ro về các sự kiện này không được bên bị bất lợi gánh chịu.
Về nguyên tắc,sẽ không có “ khó khăn trở ngại” nếu bên bị bất lợi phải gánh chịu
rủi ro về sự thay đổi của hoàn cảnh theo thỏa thuận trong hợp đồng.sự gánh chịu rủi
ro được hiểu hoặc có thể được suy ra từ tính chất của hợp đồng mà các bên giao
kết.Ví dụ: trong hợp đồng về bảo hiểm thì bên bảo hiểm đã tính đến một rủi ro nhất
định ngay khi các bên giao kết hợp đồng.Do vậy,họ phải bồi thường khi có rủi ro xảy
ra cho bên mua bảo hiểm,hoặc một người khi mua vé số thì được xem là đã gánh chịu
một rủi ro nhất định( không trúng số) khi mua vé số.

2.5. Khó khăn trở ngại chỉ được chấp nhận cho những nghĩa vụ chưa được
thực hiện
Nếu một bên đã thực hiện nghĩa vụ thì những nghĩa vụ đã được thực hiện đó
không thể được xem là khó khăn trở ngại. Như vậy, nếu có sự thay đổi cơ bản sự cân
bằng giữa các nghĩa vụ của hợp đồng xảy ra khi nghĩa vụ của hợp đồng mới chỉ được
thực hiện một phần thì khó khăn trở ngại chỉ được xác lập đối với phần nghĩa vụ còn

cho phép bên bị khó khăn yêu cầu đối tác đàm phánlại các điều khoản ban đầu của hợp
đồng, với mục đích sửa đổi những điều khoản này đểphù hợp với hoàn cảnh đã thay đổi.
Ví dụ:
A, một công ty xây dựng tại nước X, giao kết hợp đồng chọn gói với B, một cơ
quan chính phủ để xây dựng nhà xưởng tại nước Y. Phần lớn các máy móc tinh vi đều
phảinhập khẩu từ nước ngoài. Do sự mất giá không lường trước được về đồng tiền của
nước Y,đồng LIA (được dùng làm đơn vị thanh toán trong hợp đồng), giá thành của các
máy móc này tăng lên hơn 50%. A có quyền yêu cầu B thương lượng lại điều khoản về
giá cả ban đầuđể phù hợp với hoàn cảnh thay đổi.
Yêu cầu về các cuộc thương lượng lại không thể được chấp nhận, khi hợp đồng có
quy định điều khoản trượt giá (ví dụ điều khoản quy định về chỉ số biến động của giá
cả,nếu xảy ra các sự kiện nhất định).

3.2. Việc yêu cầu thương lượng lại phải được thực hiện trong thời gian hợp lý.
Yêu cầu về các cuộc thương lượng lại, phải được thực hiện ngay khi có thể được, sau
thời điểm hoàn cảnh khó khăn xảy ra .Thời diểm chính xác cho việc yêu cầu thương
lượng lại phụ thuộc vào hoàn cảnh của từng trường hợp; ví dụ nó có thể kéo dài hơn khi
Tiểu luận - môn: Luật hợp đồng thương mại quốc tế GVHD.T.S Dương Anh Sơn
11

sự thay đổi hoàn cảnh xảy ra từ từ . Bên bị khó khăn không mất quyền của họ trong việc
yêu cầu các cuộc thương lượng lại nếu họ không yêu cầu thương lượng lại ngay. Tuy
nhiên, sự trì hoãn trong việc yêu cầu thương lượng lại sẽ gây khó khăn cho bên bị khó
khăn trong việc chứng minh hoàn cảnh khó khăn có thực sự xảy ra hay không, và nếu có
thì hậu quả của nó đối với hợp đồng là gì.
Đây là điều kiện cần đối với bên bị bất lợi ,bởi thời hạn yêu cầu đàm phán lại hợp
đồng có thể ảnh hưởng đến sự tồn tại thực sự của hoàn cảnh khó khăn trên thực tế và hơn

về cơ bản trong sự cân bằng của hợp đồng của A gặp nhiều khó khăn. A có quyền yêu
cầu thương lượng lại, và có thể thực hiện với mục đích xin thêm một thời gian cần thiết
để thực hiện các qui định về an toàn, nhưng A cũng có thể ngừng việc giao các thiết bị bổ
sung trong trường hợp yêu cầu sửa đổi của A không được chấp nhận

3.5. Thương lượng lại trên tinh thần thiện chí
Việc yêu cầu thương lượng lại của bên bị khó khăn và hành vi của cả hai bên trong
quá trình thương lượng lại phải tuân theo nguyên tắc chung về thiện chí và trung thực và
nghĩa vụ hợp tác. Do vậy, bên bị khó khăn chỉ áp dụng điều khoản này khi hoàn cảnh khó
khăn thực sự tồn tại và không được lạm dụng để yêu cầu thương lượng lại như là một thủ
đoạn khôn khéo đơn thuần. Tương tự, một khi yêu cầu được đưa ra, cả hai bên đều phải
tiến hành các cuộc thương lượng lại trên tinh thần xây dựng, đặc biệt kiềm chế bất kỳ
hình thức gây khó khăn nào và không được từ chối cung cấp các thông tin cần thiết.

3.6. Yêu cầu toà án can thiệp khi các bên không đạt đến thoả thuận mong
muốn.
Nếu các bên không đạt được thoả thuận về việc sửa đổi hợp đồng đối với hoàn cảnh
khó khăn bị thay đổi trong một thời hạn hợp lý. Khoản (3) Điều 6.2.3 của PICC cho phép
một trong hai bên khởi kiện đến toà. Trường hợp như thế có thể phát sinh do bên không
bị khó khăn không chấp nhận yêu cầu thương lượng lại hoặc do các cuộc thương lượng
lại, mặc dù được hai bên tiến hành trên tinh thần thiện chí đã không đạt đến một kết quả
tích cực.
Tuỳ theo mức độ phức tạp của vấn đề cần giải quyết và hoàn cảnh cụ thể mà thời gian
chờ đợi của các bên trước khi vụ việc được đưa ra toà là nhanh chóng hay lâu dài.

Tiểu luận - môn: Luật hợp đồng thương mại quốc tế GVHD.T.S Dương Anh Sơn
13

14

Như vậy, mặc dù trong PECL, điều khoản điều chỉnh hợp đồng do hoàn cảnh thay đổi
được sử dụng với tên gọi khác với PICC, nhưng vấn đề được quy định trong hai văn kiện
này tương đối đồng nhất về khái niệm, phạm vi áp dụng, cũng như xử lý hệ quả của nó.
So với PICC, quy định trong PECL có phần đầy đủ và hợp lý hơn vì khoản 3 Điều 6: 111
quy định trách nhiệm các bên phải điều chỉnh hợp đồng trước, và chỉ khi các bên không
điều chỉnh thì tòa án “cho chấm dứt” hoặc “sửa đổi hợp đồng theo một các thức công
bằng”.

5. Viện dẫn hardship khi giải quyết tranh chấp.
Trong quá trình giải quyết tranh chấp nếu bên bị ảnh hưởng viện dẫn sự kiện là “ bất
khả kháng ” thì khi này mục đích của bên đó là nhằm lý giải việc không thực hiện nghĩa
vụ của mình là không thuộc lỗi chủ quan của bên bị ảnh hưởng và nếu được chấp nhận
thì bên đó được miễn trừ trách nhiệm do việc không thưc hiện nghĩa vụ trong hợp đồng.
Trong thục tiễn đàm phán, ký kết hợp đồng các bên có thể tham khảo và đưa vào hợp
đồng các điều khoản mẫu về “ bất khả kháng ” ví dụ như:
Điều khoản mẫu về “ bất khả kháng ” trong ấn phẩm số 421 của ICC.
 Các lý do để miễn giảm trách nhiệm.
a. Một bên đương sự không chịu trách nhiệm vì không thực hiện nghĩa vụ của mình
nếu bên đó chứng minh được:
 Việc không thực hiện là do một khó khăn trở ngại xảy ra ngoài sự kiểm soát của
mình
 Họ đã không thể trù liệu được trở ngại và tác động của nó đối với khả năng thực
hiện hợp đồng một cách hợp lý vào lúc ký kết.
 Họ đã không thể né tránh hoặc khắc phục nó hay ít nhất tác động của nó một cách
hợp lý.

vác những tổn thất do những mất mát đáng lẽ ra có thể tránh được, nếu khác đi.
 Tác động của lý do miễn trách nhiệm.
a. Lý do miễn trách thuộc điều khoản này giải miễn trách nhiệm do bên không thực
hiện hợp đồng khỏi những thiệt hại, tiền phạt và những trừng phạt khác của hợp
đồng ngoại trừ trách nhiệm phải trả lãi nợ kéo dài và theo mứcđộ mà lý do miễn
trách tồn tại.
Tiểu luận - môn: Luật hợp đồng thương mại quốc tế GVHD.T.S Dương Anh Sơn
16

b. Hơn thế nữa, nó còn đình hoãn thời gian thực hiện đến một hạn kỳ có thể coi là
hợp lý và bằng cách ấy, nó gạt bỏ quyền chấm dứt hoặc huỷ bỏ hợp đồng của bên
đương sự kia (nếu có). Khi xác định thế nào là một hạn kỳ hợp lý, sẽ phải chú ý
đến khả năng tiếp tục thực hiện của bên đương sự không thực hiện và chiếu cố đến
lợi ích của bên đương sự kia khi chấp nhận việc tiếp tục thực hiện hợp đồng mặc
dù chậm trễ. Trong khi chờ đợi bên đương sự không thực hiện tiếp tục việc thực
hiện hợp đồng, bên đương sự kia có thể đình chỉ việc thực hiện của mình. Nếu lý
do miễn trách tồn tại lâu
c. hơn hạn kỳ mà các bên đương sự quy định (hạn kỳ được áp dụng ở đây do bên
đương sự quy định) hoặc khi không có một quy định như vậy thì bất cứ bên đương
sự nào đều sẽ có quyền chấm dứt hợp đồng bằng cách ra thông báo. Mỗi bên
đương sự có thể giữ lại cho
d. mình những gì đã tiếp nhận từ việc thực hiện hợp đồng trước khi nó kết thúc. Mỗi
bên phải thanh toán cho bên kia phần lợi lộc không công bằng thu được từ việc
thực hiện hợp đồng. Việc thanh toán theo cân đối tài chính cuối cùng sẽ được tiến
hành không chậm trễ
Điều khoản “bất khả kháng” trong công ước viên 1980
a. Một bên không chịu trách nhiệm về việc không thực hiện bất kỳ một nghĩa vụ nào

ngân hàng.
Điều khoản Hardship của UNIDROIT trong bộ nguyên tắc hợp đồng thương mại quốc
tế 2004
Nếu bên bị ảnh hưởng viện dẫn sự kiện là khó khăn trở ngại với mục đích là nhằm thiết
lập lại tính cân bằng về nghĩa vụ của hợp đồng bằng cách đàm phán lại các điều khoản
của hợp đồng và nếu được chấp nhận thì giữa các bên vẫn tồn tại một hợp đồng với các
điều khoản đươc sửa đổi. khó khăn trở ngại là điều kiện bên bị ảnh hưởng có quyền yêu
cầu đám phán lại hợp đồng. nhưng đó chỉ là lý thuyết, quan trọng nhất vẫn là nghệ thuật
chứng minh để chỉ ra khác biệt hoặc giống nhau giữa hai vấn đề vào từng hoàn cảnh để
bảo vệ quyền lợi của mình một cách tốt nhất.
Trong thực tiễn đàm phán, ký kết hợp đồng các bên có thể tham khảo và đưa vào hợp
đồng: điều khoản mẫu về khó khăn trở ngại của UNIDROIT trong bộ nguyên tắc hợp
đồng thương mại quốc tế ấn bản 2004.
Tiểu luận - môn: Luật hợp đồng thương mại quốc tế GVHD.T.S Dương Anh Sơn
18

Điều khoản Hardship của UNIDROIT trong bộ nguyên tắc hợp đồng thương mại quốc
tế 2004
Điều 6.2.1. Tuân thủ hợp đồng: các bên có trách nhiệm thực hiện nghĩa vụ của mình,
ngay cả khi chi phí thực hiện nghĩa vụ đó tăng lên, với điều kiện là tuân thủ các quy định
về khó khăn trở ngại.
Điều 6.2.2. Định nghĩa khó khăn trở ngại: khó khăn trở ngại là một sự kiện khi xẩy ra
làm thay đổi một cách cơ bản tính cân bằng của hợp đồng được thỏa thuận trước đó, do
chi phí thực hiện hợp đồng của một bên tăng lên hoặc do giá trị một bên thu được từ việc
thực hiện hợp đồng bị giảm đi và:
 Các sự kiện này xẩy ra hoặc được bên bị thiệt hại biết đến sau khi giao kết hợp
đồng

giống nhau ở chỗ: đều là sự kiện khách quan xẩy ra sau khi kí hợp đồng và không do lỗi
của các bên trong hợp đồng.
Khi “ khó khăn trở ngại” hoặc sự kiện bất khả kháng xảy ra thì hệ quả của chúng
cũng có những diểm giống và khác nhau. Điểm giống nhau cơ bản nhất là thủ tục thông
báo khi “ khó khăn trở ngại” hoặc sự kiện bất khả kháng xảy ra thì bên bị bất lợi phải gửi
thông báo cho bên kia trong khoản thời gian hợp lí. Tuy nhiên thông thường các bên quy
định rõ thời hạn thông báo và hậu quả của việc thông báo. Trong trường hợp các bên
không có thỏa thuận cụ thể về việc thông báo thì phải tuân theo luật áp dụng để giải
quyết.
có khó khăn trở ngại xảy ra thì bên bị bất lợi có quyền yêu cầu đàm phán lại và không
được quyền tạm đình chỉ thực hiện nghĩa vụ của mình. Khác với “ khó khăn trở ngại” thì
khi bất khả kháng xảy ra thì bên bị ảnh hưởng được miễn trách nhiệm nếu nghĩa vụ
không được thực hiện, không được thực hiện đầy đủ hoặc không được thực hiện đúng do
sự kiện bất khả kháng gây ra; được kéo dài thời hạn thực hiện hợp đồng nếu việc thực
hiện hợp đồng bị chậm trễ do sự kiện bất khả kháng; ngoài ra, nếu sự kiện bất khả kháng
kéo dài hoặc gây ra hậu quả nghiêm trọng đến việc thực hiện hợp đồng sẽ không có lợi
cho các bên thì các bên có thể chấm dứt việc thực hiện hợp đồng. Như vậy, ta có thể thấy
được rằng hậu quả của “ khó khăn trở ngại” tương đối “nặng nề” so với bất khả kháng khi
vì bên bị bất lợi do hoàn cảnh thay đổi phải tiếp tục thực hiện nghĩa vụ của mình và đặt
nặng việc đàm phán lại của các bên. Thật ra chúng ta có thể thấy sự ưu ái đối với sự kiện
Tiểu luận - môn: Luật hợp đồng thương mại quốc tế GVHD.T.S Dương Anh Sơn
20

bất khả kháng là được miễn trách nhiệm khi không thực hiện nghĩa vụ hợp đồng là hoàn
toàn có cơ sở vì “ khó khăn trở ngại chỉ là chuyện nhỏ, các bên có thể đàm phán lại cho
phù hợp với sự thay đổi rồi tiếp tục thực hiện hợp đồng vì lợi ích chung; còn đồi với bất
khả kháng đàm phán lại thì khó có khả thi vì bên chịu sự ảnh hưởng đã không có khả

chế hardship trong một văn bản cụ thể nhưng hiện nay chúng ta vấn bắt gặp sự cho phép
sửa đổi hợp đồng trong một số văn bản pháp luật chuyên ngành và trong các chính sách
điều hành của Chính phủ với một mức độ có thể nói là hạn chế, khiêm tốn. Có thể kể đến
một số quy định cụ thể, như quy định cho phép điều chỉnh phí bảo hiểm khi xảy ra những
biến cố làm tăng mức độ rủi ro của đối tượng được bảo hiểm trong Luật Kinh doanh bảo
hiểm 2000 (Điều 20); quy định cho phép các bên thỏa thuận thay đổi giá bán trong hợp
đồng khi có những thay đổi của Nhà nước về chính sách tiền lương, chính sách giá các
mặt hàng do Nhà nước kiểm soát giá trong Luật Đấu thầu 2005 khoản 2 Điều 50 và Điều
57; Trong Bộ luật lao động cũng có đề cập đến việc sửa đổi hợp đồng lao động tại Điều
33, Bộ luật dân sự tại Điều 423 cũng đề cập đến việc sửa đổi hợp đồng khi các bên thỏa
thuận thông qua… Những quy định về việc sửa đổi hợp đồng khi điều kiện, hoàn cảnh cụ
thể, căn bản làm ảnh hưởng nghiêm trọng tới việc thực hiện hợp đồng trong các văn bản
chuyên ngành để giải quyết các vấn đề của một hợp đồng chuyên biệt không thể là cơ sở
cho việc áp dụng các quy định đó trong các hợp đồng thuộc lĩnh vực khác, những quy
định này không được viện dẫn như một căn cứ chung để giải quyết các hợp đồng khác.
Bộ luật cũng có quy định về việc sửa đổi hợp đồng nhưng đây không phải là cơ sở cho
các bên vận dụng như cơ chế hardship mà chỉ là một chế định nhằm giúp các bên có cơ
sở để ngồi lại đàm phán nhằm sửa đổi hợp đồng cho phù hợp với ý chí của các bên.
Trong thực tiễn pháp lý Việt Nam không hẳn không có những trường hợp làm đau đầu
thẩm phán, và các bên của hợp đồng. Thứ nhất do pháp luật nước ta còn thiếu sót các chế
định nhằm bảo vệ lợi ích cho kẻ yếu, kẻ có thể gặp phải rủi ro nhiều hơn. Thứ hai, pháp
luật nước ta còn quá lạc hậu khi không có các quy định mà pháp luật các nước đã phổ
biến, đơn cử là cơ chế để áp dụng hardship. Thứ ba, pháp luật nước ta còn chồng chéo,
phức tạp nhiều trường hợp có nhiều mâu thuẫn trong các văn bản khác nhau. Đã có rất
nhiều những hợp đồng xảy ra tranh chấp mà cơ sở pháp lý của nước ta không thể giải
quyết một cách thỏa đáng.
Vụ thứ nhất: Tháng 11/2007, bà Trương Thị H. (Đồng Nai) ký hợp đồng mua một
ôtô tải của Công ty T., với giá gần 120 triệu đồng. Theo thỏa thuận, bà H phải đặt cọc số
Tiểu luận - môn: Luật hợp đồng thương mại quốc tế GVHD.T.S Dương Anh Sơn


ghi trong hợp đồng. Thứ hai, việc Nhà nước quản lý khí thải xe theo quy chuẩn mới nên
công ty buộc phải điều chính giá xe hoàn toàn không phải là lí do chính đáng, nếu như
Tiểu luận - môn: Luật hợp đồng thương mại quốc tế GVHD.T.S Dương Anh Sơn
23

theo người đại diện cho công ty cho rằng sự điều chỉnh giá xe này là vì chất lượng xe đã
được cải tiến thì hợp đồng ban đầu mua xe gì, chất lượng ra sao, mẫu mã, kiểu dáng hoàn
toàn chưa được đề cập hay như thế nào mà sự thay đổi của Nhà nước về khái thải xe lại
ảnh hưởng đến chất lượng xe. Như vậy, chất lượng xe đã được cải tiến theo lời của người
đại diện công ty, tức là số xe này không còn là số xe đã được ký kết, nếu có sự thay đổi
về đối tượng hợp đồng (điều khoản bắt buộc) là điều khoản cơ bản của hợp đồng thì hai
bên hợp đồng cần phải thông báo cho nhau để tiến hành đàm phán, sửa đổi hợp đồng.
Trong trường hợp này công ty hoàn toàn không có sự thông báo cho bà H cho đến khi
đến hạn thực hiện hợp đồng mới đưa ra yêu cầu tăng giá xe. Tuy nhiên, nếu xét đến sự
thay đổi hoàn cảnh trong lí do trên thì chúng ta có thể ghi nhận. Sự kiện Nhà nước điều
chỉnh mức quản lý khí thải xe dẫn đến việc điều chỉnh kết cấu xe có thể xem là “sự kiện
xảy ra hoặc được bên bị thiệt hại biết đến sau khi ký hợp đồng”, và điều khoản về đối
tượng hợp đồng là điều khoản cơ bản hay chính là điều kiện cơ bản của hợp đồng thay
đổi.
Vụ thứ hai: liên quan đến việc thực hiện hợp đồng thi công nạo vét luồng lạch được
ký kết giữa Tổng Công ty xây dựng đường thủy (Vinawaco – gọi là bên B) kiện đòi Công
ty Liên doanh Xi măng Holcim Việt Nam (MSC – gọi là bên A) bồi thường gần 5, 5 triệu
USD, do Tòa Phúc thẩm – Toà án nhân dân tối cao tại thành phố Hồ Chsi Minh đã xét xử
ngày 17/01/2007. Vụ kiện đã kéo dài gần 10 năm. Năm 1995, bên A thuê bên B đào một
luồng tàu và một vũng quay tàu tại dự án xây dựng Nhà máy xi măng Sao Mai ở Hòn
Chông, Kiên Giang. Hai bên còn lập hai bản phụ lục, quy định rõ “trong khi thi công nếu
thiết bị của DI (nhà thầu phụ của B) gặp phải sỏi đá và san hô/đất sét cứng gây thiệt hại

Khi đàm phán, ký kết hợp đồng, chúng ta ít nghĩ đến việc điều kiện, hoàn cảnh thực
hiện hợp đồng sẽ thay đổi. Nhưng thực tế đã chứng minh, cần phải nghĩ, buộc phải nghĩ,
phải biết rằng có thể trong quá trình thực hiện hợp đồng sẽ có những sự kiện làm ảnh
hưởng tới điều kiện hoàn cảnh thực hiện hợp đồng, và cần phải có cơ chế hay quy định
những điều khoản để thay đổi, sửa đổi hợp đồng khi gặp các sự kiện đó.
Thực trạng pháp luật và thực tiễn áp dụng pháp luật ở Việt Nam về điều khoản hardship
bước đầu được thể hiện trong các văn bản pháp luật chuyên ngành. Nhưng đó chỉ là cơ
chế riêng lẻ cho các hợp đồng chuyên biệt, các loại hợp đồng khác không thể tìm thấy
phao cứu sinh khi gặp trường hợp bất khả kháng hay gặp hoàn cảnh khó khăn Pháp luật
sơ hở, thiếu những cơ sở pháp lý cần thiết giải quyết các vấn đề trên khiến cho các bên
Tiểu luận - môn: Luật hợp đồng thương mại quốc tế GVHD.T.S Dương Anh Sơn
25

liên quan và cơ quan tư pháp không khỏi không có những mâu thuẫn trong lập luận,
những lúng túng khi giải quyết, và những kết luận mang nhiều tranh cãi. Thực tiễn xét xử
ở nước ta, hardship chưa được đề cập như cơ chế giúp giải quyết những vướng mắc khi
điều kiện hoàn cảnh của hợp đồng thay đổi làm ảnh hưởng lợi ích của các bên liên quan
trong hợp đồng, chính vì vậy khi giải quyết các trường hợp này mỗi Tòa án lại có những
quyết định khác nhau, không thống nhất.
Hợp đồng cần thiết phải được sửa đổi khi có điều kiện, hoàn cảnh thay đổi vì nhiều
lý do. Trước tiên nhìn nhận vào quy định về điều khoản hardship của UNIDROIT trong
Bộ nguyên tắc hợp đồng thương mại quốc tế 2004 chúng ta nhận thấy, đây là điều khoản
dành cho bên bị bất lợi. Nghĩa là, nếu tiếp tục thực hiện hợp đồng như đã ký kết khi điều
kiện, hoàn cảnh thay đổi (có khó khăn trở ngại) thì một trong các bên liên quan trong hợp
đồng sẽ gặp phải rủi ro hay bất lợi. Ví dụ, hợp đồng được kí kết giữa công ty A mua và
thương nhân B bán, đối tượng hợp đồng thép xây dựng, giá thành 180 USD/tấn, số lượng
200 thép, ngày ký 01/03/2011, ngày giao hàng 10/3/201. Nhưng đến ngày 05/03/2011 thì


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status