LỜI NÓI ĐẦU
Ngay sau khi đất nước chúng ta được hoàn toàn giải phóng và thống
nhất, ngành công nghiệp in đã mau chóng đổi mới – nhập máy móc, thiết bị,
nguyên vật liệu, công nghệ về in offset và đã chuyển từ in Typụ sang in offset.
Đó là một sự chuyển đổi đúng đắn, mau chóng và rất hiệu quả, một cuộc cách
mạng về công nghệ in, nó làm cho ngành in tiến bộ lên rất nhiều.
Máy in offset đã ra đời, trải qua nhiều thập kỷ. Ngày nay, do được ứng
dụng những thành tựu mới về khoa học công nghệ mà chất lượng sản phẩm in
offset ngày càng được cải tiến và nâng cao. Phương pháp in offset có nhiều
ưu điểm là in được hình ảnh nhiều màu, tầng thứ thể hiện đầy đủ. Khi in sản
phẩm nhiều màu chất lượng cao, in được trên nhiều loại sản phẩm in khác
nhau. Chế bản nhanh, không độc hại, máy chạy được tốc độ cao. Vì vậy nó
được sử dụng rộng rãi và phát triển mạnh ở Việt Nam.
Hiện nay, các công ty và các xí nghiệp sản xuất in ở Việt Nam thường
tập trung đầu tư trang thiết bị là máy in offset tờ rời và máy in offset cuộn. Do
đặc tính kỹ thuật in, ưu khuyết điểm và phạm vi sử dụng của chúng khác nhau
mà kết quả của việc khai thác khác xa đối với công suất thiết kế mà khả năng
của máy có được.
Để giải quyết vấn đề đú, tụi nghiên cứu đề tài : “So sánh các chỉ tiêu
kinh tế kỹ thuật, xác định sản lượng in tối ưu giữa máy in offset tờ rời và máy
in offset cuộn”.
1
PHẦN I
SỰ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN
CỦA NGÀNH IN VIỆT NAM
Ngành in Việt Nam ra đời từ lâu, vào khoảng cuối đời Lờ cú một học
giả Lương Như Mộc được nhà vua cử đi công cán ở bên Trung Quốc và học
được phương pháp in phẳng bản đá ( sau này là in offset ) về áp dụng in ở
Việt Nam, từ đó nước ta hình thành ngành công nghiệp in.
Sau năm 1954 ngành công nghiệp in thực sự trở thành công cụ của
Đảng và nhà nước để phục vụ công cuộc cách mạng giải phóng dân tộc và xây
phần tử in và phần tử không in lên bản in, hình ảnh mềm mại hơn, có độ sâu
hơn. Công nghệ in sử dụng bản in không dùng nước (in offset khô) đó là bản
silicon, sản phẩm in có cường độ màu và độ bóng cao, độ bền in sản lượng
lớn, dự báo sẽ được sử dụng rộng rãi trong những năm đầu thế kỷ XXI.
Về thiết bị hiện nay, chúng ta đó cú những máy in rất hiện đại có thể in
được nhiều màu, tù động điều chỉnh cấp mực, cấp ẩm, quá trình in đặt theo
chương trình đã lập sẵn với mức độ tự động hóa cao. Việc điều chỉnh là kiểm
tra chất lượng sản phẩm in bằng máy tính CNC ( Computerized Numercal
Control). Thiết bị quét ghi số mật độ hình ảnh trên bản in EPS (Electronic
Plate Scanner), cùng các thiết bị kiểm tra điều khiển bằng lượng mực in từ xa
RCI (Remote Controlled Inking), sử dụng máy tính trung tâm kiểm tra mực in
– CCI (Computer Controlled Inking) … Ngay trờn cỏc máy in cuộn hiện đại
ngày càng hoàn thiện và có nhiều chức năng cho công nghệ gia công ấn phẩm
sau in.
Hiện nay các công ty chủ yếu đầu tư hiện đại hóa cỏc dõy truyền công
nghệ cho quá trình sản xuất in, để mục đích giảm thời gian sản xuất từ chế
bản tách màu, sắp trang chữ, chế bản ảnh đặt trang bỡnh ghộp khuụn in, in và
gia công sau in như: sách, tạp chí nhiều màu, số lượng in lớn, chất lượng in
ngày càng được nâng cao, đáp ứng được yêu cầu in nhanh, in đẹp, giá cả phải
3
chăng đảm bảo thông tin nhanh, phục vụ đầy đủ kịp thời nhu cầu văn hóa tinh
thần của nhân dân, góp phần đẩy mạnh sự phát triển kinh tế, chính trị, khoa
học kỹ thuật cho đất nước.
4
PHẦN II
CƠ SƠ LÝ THUYẾT - CÔNG NGHỆ IN OFFSET
I.CƠ SỞ LÝ THUYẾT
Phương pháp in offset về cơ bản khác với phương pháp in Typụ và in
lõm (In ống đồng), trờn khuụn in offset những phần tử in bắt mực đẩy nước
gồm có chế bản chữ và chế bản ảnh.Song song với việc chế bản ảnh (chụp
quang cơ, phân màu điện tử, quét scanner) tạo ra phim đen trắng, đúp
lếch,bốn màu là quá trình chế ra các trang chữ, tít chữ trờn mỏy vi tớnh.Sản
phẩm của chế bản chữ là những trang chữ trên giấy can.Sau khi tập hợp phim
và giấy can là lúc tiến hành các công đoạn: bình bản, phơi bản, hiện bản…để
có một bản in hoàn thiện.
6
SƠ ĐỒ QUY TRÌNH CÔNG NGHỆ CHẾ BẢN
7
bản thảo
tài liệu
ảnh mẫu
chế bản ảnh
can ảnhfilm film
quét
scanner
quang
cơ
phân
màu
phục chế ảnh
minh
họa vẽ
thủ
công
chế
bản
chữ
sắp chữ điện tử
bản in
mẫu trong đó hình ảnh màu cũng biến đổi từ tầng thứ nhạt qua các tầng thứ
trung gian rồi mới tới tấng thứ đậm nhất.
- Để phục chế bản mẫu tầng thứ khi chụp ảnh người ta phải dùng thiết bị
quang học là kính tram để phá vỡ sự liên kết thành các điểm bởi vì trên bề mặt
8
bản in không thể tạo ra được lớp mực có dầy mỏng khác nhau. Do vậy, bằng
cách tạo ra những điểm t’ram có diện tích lớn nhỏ khác nhau người ta có thể
in phục chế được những bản mẫu tầng thứ từ bản in có một lớp mực với độ
dày đồng nhất.
* Bản mẫu hỗn hợp:
- Bản mẫu hỗn hợp là loai bản mẫu trên đó có cả các hình ảnh có tính chất
của nguyên mẫu nét và cả các hình ảnh có tính chất của nguyên mẫu nửa tầng
thứ, nghĩa là loại nguyên mẫu gồm có một phần là nguyên mẫu nét, phần còn
lại là nguyên mẫu nửa tầng thứ.
- Nguyên mẫu hỗn hợp ta thường gặp là: tranh quảng cáo, tranh áp phích, bìa
sách, lịch tờ, các loại nhãn hàng…
- Bản mẫu do khách hàng làm ra mang đến nhà in, nhà in phải làm theo bản
mẫu này và không được tự ý thay đổi. Bản mẫu bao gồm nội dung và hình
thức thể hiện.
Nội dung gồm : các chữ, hình ảnh
Hình thức gồm: cách thể hiện (cách trình bày) của các nội dung trên đối với
một sản phẩm nào đó .
- Cách thể hiện của bản mẫu : Loại bản mẫu in lần đầu , loại bản mẫu này có
nội dung và hình thức tách rời nhau. Nội dung được thể hiện dưới dạng các
bản thảo chữ, hình ảnh mẫu hoặc hình ảnh và chữ dưới dạng đĩa mềm hoặc
truyền dữ liệu. Hình thức trình bày dưới dạng maket sản phẩm. Đối với loại
sản phẩm này thì bản mẫu tồn tại dưới dạng những thông tin về sản phẩm sau
này.
- Loại sản phẩm in tái bản: Loại sản phẩm này có nội dung và hình thức gắn
liền với nhau dưới dạng một sản phẩm cụ thể. Các thông tin của bản mẫu phải
2, Lộ sáng
3, Hiện hình
4, Rửa nước
5, Định hình
6, Rửa nước
7, Sấy khô và kiểm tra
10
Chụp ảnh phục chế nửa tụng dựng cỏc điểm có diện tích khác nhau để
biểu diễn mật độ khác nhau của hình ảnh các điểm đó gọi là điểm t
’
ram. Tuỳ
theo kỹ thuật tạo điểm t
’
ram người ta có thể chia làm 3 loại:
- T’ram kính : là loại t’ram khắc trờn kớnh
- T’ram công tắc : là một tấm phim trên đó mang hình ảnh điểm t’ram, mà
khi tạo ra trên film dương bản người ta ép sát film t’ram vào mặt thuốc của
film sống .
- T’ram điện tử : là t'ram được tạo ra theo chương trình t'ram hoá trong
máy phân màu điện tử
Quá trình phân màu: thực chất là từ mẫu màu để người ta chế tạo được
những film t'ram ( âm bản, dương bản) từ đó người ta chế được bản in ứng với
từng màu mực cụ thể. Phục chế màu bằng phương pháp quang cơ, chế tạo
được những khuôn in màu ứng với t'ram mực màu sau đó in chồng khớt cỏc
màu mực đú lờn một tờ in để được bản phục chế của mẫu màu.
Phục chế ảnh màu bằng phương pháp điện tử: dựng cỏc máy quét dạng
trống và dạng phẳng, đưa dữ liệu vào máy tính để xử lý ảnh, để tách màu bằng
các phần mềm đồ họa chuyên dụng như: Corel, Photoshop, Illustration… Sau
đó in ra film chuyển sang phũng bỡnh bản. Ngày nay người ta gọi công nghệ
này là từ máy tính đến film. Sau khi được film, chữ và hình ảnh người ta có
đầy đủ các dấu chỉ dẫn cần thiết: dấu khuôn khổ giấy in, dấu gấp, dấu xén, dấu
chồng màu…Tờ mẫu phơi phải có tính tái lập nghĩa là tờ mẫu phơi phải phơi
được nhiều bản giống nhau ở những điều kiện và thời điểm khác nhau.
* PHƯƠNG PHÁP CHUNG KHI BèNH BẢN:
1. Dựng maket dàn khuôn: Mục đích tạo thuận lợi cho quá trình bình bản được
nhanh chóng và chính xác. Đây là quá trình xác định vị trí thật của các chữ,
hình ảnh, trên từng khuôn để in một sản phẩm nào đó bằng cách biến các
thông tin của maket sản phẩm và maket sản xuất thành kích thước thật.Người
12
ta thường dụng maket dàn khuôn bằng cách kẻ vẽ trên những tờ giấy trắng có
độ trong suốt nhất định. Vị trí của các chữ, hình ảnh trên maket dàn khuụn cú
thể cùng chiều hoặc ngược gương với tờ in sau này.
2. Dỏn cỏc trang chữ, hình ảnh: Mục đích là tạo ra tờ mẫu phơi.
Công tác chuẩn bị: chuẩn bị film, maket, băng dính, đế bỡnh, dỏn maket
dàn khuôn bản bình sao cho vị trí của các chữ, hình ảnh phải ngược gương với
tờ in sau này .
- Chuẩn bị đế bình: Đối với đế mới ta phải cắt từ trong cuộn ra theo kích
thước phù hợp, đục lỗ định vị ( nếu bình bản bằng thước định vị ). Đối
với đế cũ ta phải bỏ hết giấy can, film chứa các chữ, hình ảnh cần bình.
- Chuẩn bị giấy can, film: Cắt những bản can, film chứa các chữ, hình ảnh
cần bình.
Dỏn cỏc tờ đế bỡnh lờn maket dàn khuôn hoặc kẹp vào thước định vị.
Dỏn cỏc dấu chỉ dẫn như: tay kê đầu, tay kê biên, dấu khuôn khổ giấy,
khuôn khổ sản phẩm, đường gấp xén, dấu chồng màu. Dỏn cỏc bản can, film
chứa các chữ, hình ảnh vào những vị trí đã xác định trên maket dàn khuôn (tất
cả các chữ, hình ảnh phải ngược gương với tờ in). Khi dán không được chồng
hai hoặc nhiều lớp giấy can, film, băng dính chồng lên nhau, không được dán
băng dính chồng lên các phần tử in hoặc sỏt cỏc phần tử in nhỏ.
Các miếng giấy can, film phải được dán ép sát phẳng chặt xuống đế bình.
Đối với sản phẩm nhiều màu thì phải bình nhiều khuụn, cỏc khuụn phải chồng
xenlulụ.
14
Cấu tạo bản tráng sẵn diazo gồm có 6 lớp:
- Lớp hạt nhám của màng cảm quang, nó tạo khả năng tiếp xúc với mẫu film
tốt hơn, rút ngắn thời gian đạt tới chân không .
- Lớp cảm quang diazo.
- Lớp thích nước(lớp tách) ngăn lớp tráng màng cảm quang đọng lại ở những
lỗ nhỏ trên mặt dương cực và tăng cường tớnh thích nước, loại bỏ chất bám
bụi, làm sạch chỗ không in.
- Lớp dương cực: Bề mặt bản nhôm sau khi được dương cực hoá sẽ trở nên
cứng hơn và ổn định hơn với hoá chất. Tăng cường sức bền chịu lực, mài mòn
và hạn chế bẩn màng.
- Cấu trúc hạt mịn được tạo nên trên bản nhôm nh cách tạo hạt bằng cơ học và
điện phân. Tạo điều kiện tốt nhất đÓ phục chế tầng thứ và làm ẩm tốt hơn.
- Đế nhụm cú độ tinh khiết cao ( trên 99,5%) kích thước ổn định, độ dày 0,29
+ 0,02mm, đảm bảo ổn định về cơ, lý, hóa trong qua trình sử dụng bản.
Mục đích của quá trình phơi bản là : truyền hình ảnh từ tờ mẫu phơi sang
bản nhôm hoặc kẽm hoặc chia tách phần tử in và phần tử không in trên bản .
Nếu lớp diazo ban đầu là octoquinol diazit thì phản ứng quang hoá xảy ra như
sau:
15
o
N
2
C = C = O
CH-COOH
Axit inđenit
Cacben
keten
- Nước (H2O) 1000ml.
Sau khi chiếu sáng tiến hành hiện hình bằng dung dịch trên, phần màng
thuốc diazo đã chiếu sáng bị loại khỏi bề mặt bản.
Để đảm bảo quá trình hiện hình tốt, người ta cho vào dung dịch hiện một
lượng glyxerin để giữ nước. Chất glyxerin sẽ bảo vệ phần tử in không bị dung
dịch hiện hình ăn mòn.
16
Khi hiện hình, ngoài phản ứng hiện hình trờn thỡ NaOH trong dung dịch
hiện còn tác dụng với lớp diazo không bị ánh sáng tác dụng ở phần tử in làm
giảm chất lượng hoặc hỏng phần tử in. Đồng thời NaOH trong dung dịch hiện
còn tác dụng với lớp oxớt nhụm ở phần tử trắng làm giảm khả năng bắt nước
và giữ nước của phần tử trắng trong lúc in.
Al
2
O
3
+ NaOH = NaAlO
2
+ H
2
O (1)
Al + NaOH = NaAlO
2
+ H
2
(2)
Nồng độ xút NaOH ảnh hưởng tới quá trình hiện hình. Nồng độ xút quá
mạnh thỡ xỳt này sẽ phản ứng trực tiếp với chất diazo ban đầu, làm phá hủy
phần tử in và tác dụng với đế bản nhôm. Nồng độ NaOH quá nhẹ sẽ không đủ
lượng xút để xảy ra phản ứng. NaOH được đưa vào trực tiếp trong hỗn hợp
Mục đích: loại bỏ những phần tử in phụ tại phần tử trắng mà không được
phép có mặt trên tờ in như : gờ mép film, những vết lỗi giấy can, băng dính,
ốc ảnh, dấu màu…
Khi bản đã hiện xong gạt sạch nước trên bề mặt, dùng bút lông và bôi
thuốc tỳt lờn bản. Sau khi tút xong, rửa sạch bản, gạt sạch nước. Đối với mỗi
loại bản diazo thường kèm theo loại thuốc tút của nó.
II.1.6. Trung hòa bản.
Để tẩy sạch phần xút dư còn đọng lại ít nhiều trên bản in sau khi rửa
nước, ta tiến hành trung hòa. Dung dịch để trung hòa là H
2
SO
4
5%. Mục đích
trung hòa là để phần xút dư thừa không tiếp tục ăn mòn phần tử in và lớp ụxit
nhụm giữ nước của bề mặt bản, sau đó rửa sạch nước.
II.1.7.Gụm bản.
Mục đích của quá trình gôm là tăng tính thấm ướt và chống ụxi húa phần
tử không in trên bề mặt bản nhôm. Dung dịch gồm: gôm arabic, dextrin, hoặc
dung dịch CMC: cỏcbon metyl cenlulo.
Kĩ thuật xoa phải đều, mỏng trên toàn bộ bề mặt bản. Sau khi hoàn chỉnh
đem sấy khô nhiệt độ:500
o
C.
18
II.1.8. Kiểm tra chất lượng bản.
Kiểm tra bằng mắt thường toàn bộ bản, xem chất lượng tổng thể, có điểm
nào nghi vấn phải xem lại bản bình. Sau khi kiểm tra chất lượng ta phải ghi
tên tài liệu, số tay màu mực.
Bản đã phơi hoàn chỉnh phải thừa mãn những yêu cầu:
- Phải thật trung thành với bản bình
C, độ ẩm 60- 65%, hàm ẩm trang
giấy 8- 10%. Độ ẩm môi trường tăng thì hàm ẩm tăng, trong khi độ ẩm môi
trường thay đổi 20% thì hàm ẩm trong giấy thay đổi 1%. Độ bền cơ học của
giấy: giấy dai nhất khi độ ẩm xấp xỉ 65%. Độ dãn cơ học của giấy thay đổi
khi độ ẩm của giấy thay đổi, đối với giấy in offset đạt tiêu chuẩn: dọc thớ từ
0.5 – 1%, ngang thớ từ 0.5 – 2%. Độ dầy của giấy thay đổi theo độ ẩm, độ dầy
giấy lớn nhất khi độ ẩm môi trường xấp xỉ 50%. Khi độ ẩm môi trường nhỏ
hơn 60% khả năng nhận ẩm ít nhất. Trong phân xưởng in offset, quá trình làm
Èm khuôn in bằng dung dịch làm ẩm đã làm cho độ ẩm tương đối của không
khí trong phân xưởng tăng lên, gây ra sự khác biệt, sự chênh lệch lớn về nhiệt
độ, độ ẩm của phân xưởng với giấy in. Giấy in không khí hậu hóa đem in
ngay sẽ bị biến dạng làm giảm độ chính xác và vẻ đẹp của tờ in, vậy nên bắt
buộc phải khí hậu hóa giấy trước khi đưa lên máy in.
Chuẩn bị giấy ở phân xưởng in: Làm tơi để các tờ giấy không dính với
nhau, bằng cách: lấy các tập mỏng đem tãi dỗ trên bàn phẳng, sau đó xếp
thành từng chồng lên mặt bàn đựng giấy.
b, Chuẩn bị mực in:
Lấy mực in theo phiếu sản xuất hoặc sự hướng dẫn khi in thử. Kiểm tra
chất lượng để xác định các chỉ số kĩ thuật, tiến hành pha chế các phụ gia của
mực in để thay đổi tính chất kĩ thuật của mực in khi cần thiết, pha trộn với
nhau để tạo ra màu mực mới ( nếu cần)… Sau đó đem cho vào máng mực của
máy in. Mực in offset cần có độ nhớt cao khi in, mực in không bị ảnh hưởng
20
và không bị biến đổi tính chất bởi các chất làm ẩm khuôn in, đồng thời các
chất làm khô không được tác động xấu làm khô màng mực in trên hệ thống lô
chà mực trong quá trình truyền mực từ bản in sang tấm cao su và sau đó từ
tấm cao su sang giấy in.
Bộ ba màu mực cơ bản là: xanh – vàng chanh – đỏ cánh sen. Khi in chỉ
có một bộ mực phù hợp với một loại tài liệu nào đó. Vì vậy, phải chọn bộ
mực cho phù hợp với tài liệu, dựa vào thang vòng màu của mực.
* ỐNG CAO SU:
Ống cao su offset cần phải kiểm tra để đáp ứng yêu cầu: Tấm cao su
phải có tính chất nhận và nhả mực tốt, độ dầy tấm cao su phải đồng đều, tấm
cao su phải không bị khuyết tật bề mặt về mặt cơ học.Tấm cao su phải được
pha cắt đúng thớ, đúng chiều.
Ngoài ra cần phải kiểm tra, đánh giá lại độ dầy của lớp độn lót nếu
không đạt yêu cầu thì thay lớp độn lót.
B.Chuẩn bị máy in.
Lựa chọn máy và thiết bị phù hợp nhất với sản phẩm in. Chuẩn bị tốt
tình trạng máy in: Khởi động máy in, kiểm tra hoạt động của máy. Tiến hành
tra dầu mỡ vào các bộ phận hoặc giữa các phần ma sát giữa các ổ bạc, các cổ
trục…
* Kiểm tra bộ phận nạp giấy, ra giấy: Công việc này đảm bảo độ chính
xác trong quá trình in. Khi tiến hành in tài liệu có chủng loại độ dầy kích
thước mới thì cần phải tiến hành thiết lập lại các yếu tố, bộ phận nạp giấy, ra
giấy. Một số loại máy in hiện đại thỡ cỏc chức năng tự đặt thông số hiệu
chỉnh theo các dữ liệu đã được lưu.
Khi điều chỉnh bằng tay:
- Định vị chính xác bàn nạp giấy, xếp chồng giấy đã được dỗ tơi và
khí hậu hóa ở trên.
- Điều chỉnh bộ phận phụ trợ tách giấy: vị trí các thanh tách giấy, cỏc
vũi hơi thổi, các con lăn đẩy giấy, các vòi hút đưa giấy, một số máy
in cũn cú bộ phận điều chỉnh độ cao của chồng giấy.
22
- Điều chỉnh các bộ phận ở trên bàn nghiêng (hoặc bàn xuống giấy):
các con lăn và băng truyền giấy, bộ phận kiểm tra đúp giấy, các
thanh tỳ giấy.
- Điều chỉnh hệ thống tay kê.
- Kiểm tra lại hoạt động của hệ thống nhíp bắt, ống trao, ống ép in
cũng như ở trên hệ thống ra giấy.
ra tờ mẫu in chuẩn ( tờ bông). Sau khi đã ký bông, dựa vào đó người ta tiến
hành in sản lượng.
- Chuẩn bị giấy in thử kết hợp hai loại: giấy sắc và giấy in thật để xen kẽ
nhau.
- Khởi động bộ phận truyền ẩm, truyền mực, dùng nước lau lớp gụm trờn
bề mặt bản in, cân bằng mực nước để tiến hành in thử.
- Căn cứ vào các tờ giấy in thật mà người ta kiểm tra. Điều kiện để kiểm tra
chất lượng tờ in thử: phải đảm bảo điều kiện tiêu chuẩn ( môi trường,
cường độ ỏnh sỏng…), đảm bảo về nội dung thông tin có chính xác không,
về vị trí tầng thứ, về màu sắc của hình ảnh trên tờ in.
B. Quá trình in sản lượng:
Sau khi nhận được tờ in đã ký bông cho máy chạy ổn định và tăng dần
tốc độ. Quá trình in sản lượng được tiến hành trên giấy in thật nhưng trong
mỗi lần dừng mỏy (vỡ lý do nào đó) thì cần phải sử dụng một số lượng giấy
sắc để tiết kiệm giấy và thường xuyên phải kiểm tra tờ in.
Để duy trì chất lượng tờ in đồng đều thì người thợ in phải thường xuyên
lấy tờ in để kiểm tra và so sánh tờ đó với tờ ký bông. Nếu có sự thay đổi phải
điều chỉnh kịp thời. Thông thường khoảng 10- 15 phỳt thỡ lấy tờ in ra kiểm
tra một lần. Tuy nhiên điều này còn phụ thuộc vào quá trình in một mằu hoặc
nhiều màu và yêu cầu chất lượng hoặc tính chất của sản phẩm .
Sau khi in xong, đếm số lượng, bàn dao cho công đoạn sản xuất tiếp theo.
Vệ sinh máy móc và toàn bộ phân xưởng.
24
PHẦN III
MÁY IN OFFSET
I.KHÁI NIỆM CƠ BẢN VỀ MÁY IN OFFSET:
Nguyên tắc hoạt động của các máy in offset đều dựa trên cơ sở sự
chuyền hình ảnh từ bản in sang tờ giấy thông qua một bề mặt cao su trung
gian. Trờn cỏc bản in đú, cỏc phần tử in và phần tử không in hầu như cùng
nằm trên một mặt phẳng. Do quá trình gia công hóa học, mà các phần tử