ước lượng trọng lượng thai, tuổi thai bằng siêu âm hai và ba chiều - Pdf 24

1. Đặt vấn đề:
Siêu âm từ khi phát hiện, ứng dụng trong chẩn đoán từ năm 1947 đến nay
đã có nhiều tiến bộ vượt bậc. Đã có nhiều và rất nhiều nghiên cứu công bố
cũng như bài viết nhiều về ứng dụng của siêu âm trong sản khoa, tuy nhiên do
sự tiến bộ như vũ bão của máy siêu âm, sự thay đổi mô hình bệnh tật, sự khác
nhau giữa các chủng tộc người trên thế giới, sự thay đổi về chiều cao cân nặng
của trẻ sinh ra theo thời gian, cũng như nhu cầu chớnh đáng sinh ra cho gia
đình, cho xã hội đứa trẻ khỏe mạnh về thể chất cũng như tinh thần, thì việc bác
sỹ chọn phương tiện siêu âm riêng lẻ hoặc phối hợp với các phương tiện khác
như lâm sàng, cận lâm sàng sao cho đạt hiệu quả như mong muốn là vấn đề
không thể cũ mà phải vận động tích cực để theo kịp nhu cầu của xã hội.
Siêu âm được áp dụng ở Việt Nam từ giữa thập niên 80 của thế kỷ
trước. Đến nay đã có nhiều thay đổi trong chẩn đoán y học đã khiến cho giá
trị của kỹ thuật siêu âm nói chung và trong sản khoa không thể chối cãi được.
Từ siêu âm hai chiều về bụng, mô mềm, sản phụ khoa, tim mạch đến siêu âm
Doppler màu, siêu âm 3 chiều, siêu âm 4 chiều …Vị trí của kỹ thuật này
ngày càng được củng cố.
Qua chuyên đề :” Ứng dụng của siêu âm trong sản khoa” chúng tôi muốn
tìm hiểu về những ứng dụng của siêu âm trong giai đoạn hiện nay cũng như
tìm hiểu về những thành tựu đáng nhớ mà siêu âm đã mang lại cho ngành sản
khoa nhằm cũng cố kiến thức cũng như hy vọng tìm thấy điều gì đó mới lạ
trong nghiên cứu: “Ước lượng trọng lượng thai, tuổi thai bằng siêu âm hai
và ba chiều” của mình.
2. Nội dung:
Ứng dụng siêu âm trong sản khoa là lĩnh vực rất rộng, tựu chung có
những nội dung chính như sau: [PTD, kỹ thuật siêu âm và ứng dụng trong sản
phụ khoa, p31, NXB khoa học và kỹ thuật, 2007]:
- Đo kích thước của vật quan sát
1
- Nhận dạng vật quan sát
- Nghiên cứu tốc độ và sự di động của vật quan sát

2.2.4. Xác định tuổi thai
2.2.4. Ước lượng cân nặng
2.2.5. Xác định độ trưởng thành của thai
2.2.6. Chẩn đoán thai kém phát triển
2.2.7. Xác định tư thế thai, chẩn đoán ngôi thế khi chuyển dạ
2.2.8. Đo khung chậu, đánh giá sự bất tương xứng giữa đường kính lưỡng
đỉnh thai (ĐKLĐ) và các đường kính nhô hậu vệ, lưỡng gai hông trong
quá trình chuyển dạ (có giá trị trong ngôi ngược)
2.2.9 Chẩn đoán bánh nhau: nhau bong non, vị trí nhau bám, đo kích
thước bánh nhau để tiên lượng thai
2.2.10 Xác định nước lượng nước ối
2.2.11 Theo dõi sinh lý thai:
- Cử động thai
- Hô hấp thai
- Huyết động học thai
- Chức năng bài tiết thận thai
2.4 Siêu âm hướng dẫn trong các trường hợp:[ Duyệt]
2.4.1. Chọc hút nang noãn qua bàng quang ít dùng, qua đầu dò âm đạo khi:
Khi có chỉ định thụ thai trong ống nghiệm
Đặt đầu dò tiếp xúc vào âm đạo qua lớp gen
Định vị nang và chọc kim vào nang, có hướng xuyên 15
0
so chùm siêu
âm. Đầu dò siêu âm có thể gắn với kim chọc và hút tự động sau khi đã định
hướng chọc và độ sâu thích hợp
3
2.4.2. Chọc cuống rốn để lấy máu xét nghiệm trong các trường hợp sau:
- Nguy cơ bệnh lý tán huyết thai
- Bất đồng miễn dịch
- Cần làm nhiễm sắc đồ trong các bệnh lý: dị dạng thai, thai kém phát

- Xác định tính chất nước ối; cú phõn su, định lượng estriol, hormon
H.P.L, men trong nước ối, α feto protein, pregnanetriol nước ối
- Chọc buồng ối để điều trị: truyền máu, truyền đạm, rút nước ối để
giảm áp lực buồng ối, hủy thai, gây chuyển dạ…
2.4.3. Sieõu aõm để hướng dẫn sinh thiết gai nhau: siêu âm có thể thấy
vùng nhau bám một cách dễ dàng nên có thể hướng dẫn hút sinh thiết tại
vùng nhau bám
Chỉ định:
- Mẹ > 35 tuổi
- Tiền sử sinh con rối loạn nhiễm sắc thể
- Bố hoặc mẹ có biểu hiện rối loạn nhiễm sắc thể
- Bố hoặc mẹ có bệnh mang tính di truyền liên quan giới tính
Phương pháp này thường áp dụng ở tuổi thai từ 9 – 12 tuần , sau 12 tuần sẽ
khó thực hiện vì khoảng cách ở cổ tử cung và vị trí rau bám có thể xa hơn.
- Định vị vùng rau bám bằng phương pháp siêu âm hình ảnh tức thì:
Bàng quang căng đầy nước tiểu, hình ảnh tử cung vẩu càng rõ.
- Phương pháp siêu âm hướng dẫn sinh thiết gai rau qua đường bụng
chỉ sử dụng khi phương pháp hút sinh thiết qua đường cổ tử cung không thực
hiện được. Thủ thuật phải được thực hiện trong điều kiên vô trùng và dưới sự
hướng dẫn của siêu âm nhìn hình ảnh tức thì (RT) để định vị rau bám để chọc
ống hút đúng vị trí.
5
2.5 Chỉ định sau sinh:
2.5.1 Chẩn đoán sót rau, co hồi tử cung
2.5.2 Chẩn đoán nhiễm trùng, tạo khối mủ, khối máu tụ…
2.5.3 Chẩn đoán vở bàng quang, vở tử cung, viờm phỳc mạc
2.5.4 Chẩn đoán sót gạc sau mổ
2.6 Các phương tiện siêu âm được sử dụng trong sản khoa:
Có 4 dạng khác nhau của siêu âm trong hình ảnh y học. Bao gồm:
2.6.1. A-mode: là dạng đơn giản nhất. Một transducer đơn quét 1 đường

2.6.5.2 Thuaọn lụùi cuỷa siờu âm 3 chiều so với 2 chiều
ẹoỏi vụựi ngửụứi laứm siờu âm:
Nhaọn dieọn thửùc teỏ giaỷi phaồu bề maởt thai nhi
Phaựt hieọn hoaởc loái trửứ ủaựng tin caọy caực dũ dáng bề maởt.
Quan saựt ủửụùc caực dũ dáng phửực táp vaứ dửụựi nhiều goực
ủoọ khaực nhau.
ẹoỏi vụựi cha mé:
Taờng cửụứng moỏi quan heọ chamé-con
Cha mé coự theồ thaỏy dũ dáng con baống chớnh maột hó
Tin tửụỷng chaộc chaộn hụn trong caực trửụứng hụùp dũ dáng
cần boỷ thai.
Cha mé thaỏy roừ hỡnh aỷnh con, giaỷm nhu cầu giaỷi thớch
Siêu âm 3 chiều coự giaự trũ khi khaỷo saựt maởt vaứ chi thai . Theo
nghiờn cứu cuỷa Pretorius gồm 71 ca thai <24 tuần: tyỷ leọ xaực ủũnh mõi
bỡnh thửụứng cuỷa siờu âm 3 chiều 92% so vụựi siờu âm 2chiều laứ 76%, chi laứ
85% so vụựi 52%.
7
Nhiều baỏt thửụứng ụỷ maởt coự theồ chaồn ủoaựn chớnh xaực baống
siờu âm 3 chiều nhử: taọt caốm nhoỷ, maởt dét, thieồu saỷn giửừa maởt,
baỏt thửụứng ụỷ muừi, voứi voi, moọt maột, hai maột gần nhau xa nhau, u
quaựi ụỷ maởt . . .
Sửù hoựa või voứm só hoaứn taỏt ụỷ 12 tuần do ủoự SA 2D chổ
chaồn ủoaựn ủửụùc caực dị tật nhử thoaựt vũ naừo, võ só . . khi thai 12
tuần. SA 3D coự theồ phaựt hieọn sụựm hụn, giuựp khaỷo saựt ủửụùc caực
ủửụứng liẽn khụựp, khaỷo saựt maởt phaỳng ủửựng ngang chi tieỏt.
Caực baỏt thửụứng cuỷa heọ thần kinh thấy trên siêu âm 3 chiều:
Thuaọn lụùi 70%:
Võ naừo
Nang ủaựm roỏi máng mách
HC Dandy Walker


9
2.6.6. Các phương pháp ước lượng trọng lượng thai bằng siêu âm.
Từ thập kỷ 60 đó cú hàng loạt các nghiên cứu áp dụng siêu âm thai
trong chẩn đoán tuổi thai [6], [5], [31] lượng thai [18], [19] theo dõi sự phát
triển của thai [15].
2.6.6.1. Đường kính lưỡng đỉnh (ĐKLĐ).
Năm 1964 các tác giả đã sử dụng số đo ĐKLĐ làm cơ sở để ước đoán
trọng lượng thai. Willocks [86] Campbell S [10] đều chứng minh ĐKLĐ liên
quan ít với cân nặng r = 0,5, sai số chẩn đoán ± 450g trong 68% trường hợp.
Kohorn (1984) [22] nghiên cứu của mỡnh cú phương trình hồi quy
Y = 82,36 X - 4310.56 với Y: trọng lượng thai (g)
X: ĐKLĐ (cm)
- Pacog (1988)
Y = 72,19X - 3125,15 với Y: trọng lượng thai
X: ĐKLĐ (mm)
Độ sai lệch ± 350g
- Phan Trường Duyệt (1985) [1].
Y = 92.3 - 5359,1 với Y: trọng lượng thai (g)
X: ĐKLĐ
r = 0,731 với p < 0,001
- Phạm Thị Thanh Nguyệt (2000) [6]
Y = 88,69X - 5061,55 với Y: trọng lượng thai (g)
X: ĐKLĐ (mm)
r = 0,7435
Nghiên cứu của Schaub và CS, Wolff và CS: ĐKLĐ của người dân đảo
Ăngtin cao hơn so với người Pháp khoảng 2mm suốt thời gian mang thai [29]
đường kính lưỡng đỉnh của người dân Châu Phi sống ở Pháp thấp hơn 5% so
với người Pháp, càng thấp nhiều hơn khi thai > 32 tuần. Nguyễn Đức Hinh [5]:
các giá trị ĐKLĐ người Việt Nam đều thấp hơn Campbell và Newman ít nhất

- Spellacy (1988) [31]
Y = 21,62X - 3530,82 với: Y: cân nặng (g)
X: CVVĐ (cm)
r = 0,602, p < 0,01
Độ sai lệch chẩn đoán ± 400gr là 69,25% trường hợp
- Phan Trường Duyệt 1985 [1]
Y = 150,53X - 1609,30 với: Y: cân nặng (g)
X: CVVĐ (mm)
r = 0,503, p < 0,01
2.6.6.3. Diện tích đầu
* Potter 1982 [27] đưa ra công thức tính diện tích đầu (DTĐ)
DTĐ =
π
x
2
)
2
(
KCT§ KL§§
+
Và phương trình hồi quy:
Y = 0,85X - 2567,37 với Y: trọng lượng thai (g)
X: DTĐ (cm
2
)
r = 0,856; p < 0,01
* Robert (1984) [28]
Y = 1,36X - 5759 với Y: trọng lượng thai (g)
X: DTĐ (cm
2

- Sai lệch trung bình 290g trên thai có cân nặng 2000g.
- Sai lệch trung bình 450g trên thai có cân nặng 4000g.
- Phan Trường Duyệt 1985 [1]
Y = 89,40X - 1,3 với Y: trọng lượng thai (g)
X: chu vi bụng (cm)
r = 0,508
Sai lệch chẩn đoán 300g trong 32,4%, 200g gặp trong 54%
2.6.6.6. Diện tích mặt cắt bụng thai qua tĩnh mạch rốn (DTB).
* Pearce (1988) [67]:
Y = 0,62X - 1661,58 với Y: cận nặng thai (g)
X: DTB (cm
2
)
Sai lệch chẩn đoán ± 400gr chiếm tỷ lệ 81,68% trường hợp.
13
* Solinger (1990) [79]
Y = 0,49X - 1115,72 với Y: cận nặng thai (g)
X: DTB (cm
2
)
Sai lệch chẩn đoán ± 350gr chiếm 78,37% trường hợp
* Phan Trường Duyệt [2]
Y = 28,39X + 518,8 với Y: cân nặng thai (g)
X: DTB (cm
2
)
r = 0,82, p < 0,001
Sai lệch chẩn đoán 200g gặp trong 35,1% trường hợp.
Sai lệch chẩn doỏn 300g gặp trong 21,62% trường hợp.
Đây là phương pháp có độ chẩn đoán khá chính xác, hệ số tương quan cao.

đổi bù trừ nhau khi có động tác thở của thai.
* Zillanti [32]:
Y = 87,26X - 5881 với Y: trọng lượng thai (g)
X: ĐKNB (mm)
Với sai lệch chẩn đoán ± 350g chiếm 78,69% trường hợp
* Phan Trường Duyệt [1]:
Y = 64,305X - 3499,31 với Y: trọng lượng thai (g)
X: ĐKNB (mm)
r = 0,790, p < 0,001
Với sai lệch chẩn đoán 200 - 300g chiếm 23,33%.
* Phạm Thị Thanh Nguyệt [6]:
Y = 79,71X - 4995,02 với Y: trọng lượng thai (g)
X: ĐKNB (mm)
15
2.6.6.9. Chiều dài xương đùi (CDXĐ).
CDXĐ có thể sử dụng như một tham số độc lập trong chẩn đoán tuổi
thai và đánh giá sự phát triển của thai, thay thế phương pháp đo ĐKLĐ trong
trường hợp không đo được. CDXĐ còn có giá trị gợi ý chẩn đoán các bất
thường về xương như rối loạn phát triển xương, chứng lùn, bệnh Down [7].
Bệnh lý bất sản sụn xương là ĐKLĐ/CDXĐ tăng lên rõ rệt.
Trong cùng tuần tuổi thai có giá trị CDXĐ của người Việt Nam đều
thấp hơn các tác giả O'Brien, Queenan [26].
Chênh lệch mức thấp nhất là 1,6mm (lúc 38 tuần so với O'Brien và
Queenan), mức cao nhất là 5,9mm (lúc thai 40 tuần so với Collet và CS) [26].
CDXĐ ở người Châu Âu cao hơn người Việt Nam và Singapre 2,3 -
3,2mm ở tuổi thai 14 - 30. Cũng như ĐKLĐ, CDXĐ cũng mang tính đặc
trưng cho từng dân tộc [3].
Chiều dài các xương dài của các chi mang tính đặc trưng của từng dân
tộc nên có giá trị tuyệt đối khác nhau có ý nghĩa. Nếu các giá trị số đo chiều
dài các xương nằm trên đường bách phân 90 hoặc dưới đường bách phân 10

3
D: ĐKLĐ thai (mm)
B: DTB thai (cm
2
)
Theo tác giả Phan Trường Duyệt [1]
Y = 1,2009X - 107,94 với Y: thể tích thai (cm
3
) theo công thức trên
X: trọng lượng thai (g)
r = 0,874; p < 0,001
2.6.6.12. Phương pháp kết hợp đo các phần thai bằng siêu âm để chẩn đoán
trọng lượng thai trong tử cung:
* Campogrande, Todros và Brizolar (1987) [11] trình bày tương quan
chặt chẽ giữa các trị số đo kết hợp các phần thai trong tử cung như: ĐKLĐ,
ĐKNN và DTB thai để chẩn đoán trọng lượng thai với hàm số tương quan.
Y = 19,11772X + 19,39136T + 0,4606W + 0,298392 - 1497,19
Trong đó: Y: trọng lượng thai (g)
X: ĐKLĐ (mm)
T: ĐKNN (mm)
W: DTB (cm
2
)
17
Sai lệch chẩn đoán:
Dưới 200g gặp trong 56% trường hợp.
Dưới 300g gặp trong 66% trường hợp.
Dưới 400g gặp trong 84% trường hợp.
* Phạm Thị Thanh Nguyệt (2000) [6]:
Qua khảo sát 3234 siêu âm thai và lần lượt tớnh cỏc phương trình hồi

trọng lượng thai [6].
18
2.6.6.13. Đo thể tích cánh tay và đùi thai bằng siêu âm 3 chiều.
Thể tích các chi phản ánh tình trạng dinh dưỡng và tốc độ phát triển
của thai trong tử cung. Sự phát triển của siêu âm 3 chiều có thể cho phép ước
lượng thể tích ở những cấu trúc có hình dạng không đều như tạng thai, chi thai
Trước đây người ta cũng dùng siêu âm 2 chiều để đo thể tích chi nhưng độ chính
xác không cao do chỉ dùng một mặt cắt và xem chi như hình ống đều đặn.
* Thể tích cánh tay thai.
Chang và CS (2002) [13] là người đầu tiên nghiên cứu tính thể tích
cánh tay: là phương pháp đo nhiều lát cắt: sử dụng mặt phẳng đo chiều dài
xương cánh tay, sau đó đầu dò di chuyển ở 3 khoảng ở 2 đầu và giữa xương.
Liang và CS [24] (1997) nghiên cứu trên 105 thai kỳ bình thường cho rằng:
ước lượng trọng lượng thai bằng đo thể tích cánh tay chính xác hơn, giảm sai
số đo quan sát hơn siêu âm 2 chiều.
Lee và CS [56] nghiờn cứu trên 100 thai kỳ đánh giá trọng lượng thai
bằng siêu âm 3 chiều so với trọng lượng thai bằng siêu âm 2 chiều theo công
thức của Hadlock với 2/3 trọng lượng thai chính xác đến 5%.
* Thể tớch đùi thai
Chang và CS [16] nghiờn cứu trên 100 thai kỳ đánh giá trọng lượng
thai bằng siêu âm 3 chiều và kết luận đo thể tích đùi thai để ước lượng trọng
lượng thai chính xác hơn siêu âm 2 chiều, và chỉ mất khoảng 10 đến 15 phút.
Fong - Ming Chang, MD, Reng - ing Liang, MD, Huei - Chen Ko PhD và CS
(1997) [38] qua nghiên cứu đưa ra hàm số tương quan giữa trọng lượng thai
và thể tích đùi như sau:
Y = 1080,87350 + 22,44701X với Y: trọng lượng thai (g)
X: thể tích đùi thai (ml)
r = 0,89; N = 100; p < 0,0001
19
Song TB và CS [30] so sánh 2 phương pháp ước lượng trọng lượng thai

Độ tin cậy 95%
• Đinh Thị Hiền Lê (2000) [15]:
Y = 0,86X
2
X 7,53x + 18,78 với Y: tuổi thai (tuần)
X: CDĐM (mm)
d. Phương pháp đo chiều dài xương đùi
• O Brien GD, Queenran JT (1981) [26] áp dụng đo xương đùi thai để
chẩn đoán tuổi thai và độ tin cậy bằng 95%, mối tương quan r = 0,998.
Kết quả sai lệch tối đa 7 ngày.
Phương pháp đo xương đùi có độ sai lệch trong chẩn đoán như sau [2]
- Sai lệch < 5ngày ở thời điểm thai 28 - 35 tuần.
- Sai lệch 8 ngày ở thời điểm thai 15 tuần.
- Sai lệch 6 ngày ở thời điểm 40 tuần.
Nguyễn Đức Hinh (2000) [5] nghiên cứu ở thai > 30 tuần chẩn đoán
tuổi thai dựa vào CDXĐ có sai số ± 11 ngày khoảng tin cậy 80%.
e. Phương pháp đo ĐKLĐ
• Campbell S (1968) [11] đó nêu phương pháp đo ĐKLĐ bằng siêu âm
chẩn đoán tuổi thai có độ chính xác cao, sai lệch chẩn đoán ± 9 ngày gặp
trong 95% trường hợp.
• Phan Trường Duyệt [2]
Thai từ 14 - 20 tuần:
Y = 3,15X - 19,75 với Y: tuổi thai (tuần)
X: ĐKLĐ (mm)
y + 1SD = 3,23X - 19,78
y - 1SD = 3,038X - 19,22
21
Tốc độ phát triển ĐKLĐ giai đoạn này nhanh 3,5 - 4mm/tuần.
• Thai sau 31 tuần: ĐKLĐ giảm dần
Y = m

Biểu đồ phát triển của ĐKLĐ thai ở Đức (sử dụng tại trường đại học
Charite (Đức).
Biểu đồ phát triển của ĐKLĐ thai ở Hà Lan (sử dụng tại trường
Đại học Erasmus, Rotterdam (Hà Lan).
Biểu đồ phát triển ĐKLĐ thai (trị số trung bình
±
1SD) hiện nay
đang sử dụng tại Hà Nội
Tốc độ phát triển ĐKLĐ thai ở Việt Nam gần giống như tốc độ phát
triển của thai ở Châu Âu nhưng kích thước về ĐKLĐ tương ứng tuổi thai
sai khác nhiều.
23
Bảng 1.1. So sánh giá trị đường kính lưỡng đỉnh trong nghiên cứu của tác
giả Phan Trường Duyệt và Nguyễn Đức Hinh (sau 11 năm) [1], [2].
Tuổi thai
Giá trị trung bình
1 2
Chênh
lệch
Một độ lệch chuẩn
(1SD)
1 2
31 79,0 77,7 - 1,3 3,59 2,43
32 80,4 80,0 - 0,4 3,13 2,17
33 83,7 82,1 - 1,6 3,62 3,2
34 85,1 84,1 - 1,0 3,88 3,3
35 86,9 85,9 - 1,0 3,35 2,30
36 88,6 88,2 - 0,4 3,60 1,94
37 89,9 89,2 - 0,7 3,21 2,03
38 91,3 90,2 - 1,1 3,31 3,1

r = 0,91
* Nguyễn Đức Hinh (2000) [5]
KL§§
CDX§
ở thai > 30 tuần có tỉ lệ 75,4% ± 3,52% (KTC 95)
Và phương trình của mối tương quan Y = 0,51X + 56,84; r = 0,93
Cho thấy mối tương quan giữa tỉ lệ
KL§§
CDX§
với tuổi thai là mối
tương quan tuyến tính.
Điểm giống nhau của 2 nghiên cứu này là tỉ lệ
KL§§
CDX§
tăng dần theo
tuổi thai và CDXĐ tăng nhanh hơn ĐKLĐ.
25


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status