MỤC LỤC
PHẦN 1: LÝ LUẬN VỀ PHÉP BIỆN CHỨNG DUY VẬT
I.Phép biện chứng duy vật – Phương pháp luận nhận thức khoa học và thực tiễn:
1.1. Khái niệm:……………………………………………………………… 2
1.2. Nội dung cơ bản của phép biện chứng duy vật:……………………… 2
1.2.1. Hai nguyên lý của phép biện chứng duy vật:……………………… 2
1.2.1.1. Nguyên lý về mối liên hệ phổ biến:………………………………… 2
a.Các tính chất của mối liên hệ:…………………………………………… 3
b. Ý nghĩa phương pháp luận:……………………………………………….3
1.2.1.2. Nguyên lý về sự phát triển:…………………………………………. 3
a. Tính chất của sự phát triển:…………………………………………… 4
b. Ý nghĩa phương pháp luận:…………………………………………… 4
1.2.2. Những cặp phạm trù cơ bản của phép biện chứng duy vật:……… 4
1.2.2.1. Cái riêng, cái chung và cái đơn nhất:……………………………… 4
1.2.2.2. Nguyên nhân và kết quả:…………………………………………… 5
1.2.2.3. Tất nhiên và ngẫu nhiên:…………………………………………… 5
1.2.2.4. Nội dung và hình thức:………………………………………………5
1.2.2.5. Bản chất và hiện tượng:…………………………………………… 6
1.2.2.6. Khả năng và hiện thực:…………………………………………… 6
1.2.3. Một số quy luật cơ bản của phép biện chứng duy vật:………………6
1.2.3.1.Quy luật chuyển hoá từ những sự thay đổi về lượng dẫn đến những sự
thay đổi về chất và ngược lại:…………………………………………….6
1.2.3.2. Quy luật thống nhất và đấu tranh giữa các mặt đối lập:………….7
1.2.3.3. Quy luật phủ định của phủ định:………………………………… 7
PHẦN 2: VẬN DỤNG PHÉP BIỆN CHỨNG DUY VẬT VÀO THỰC TIỄN
QUẢN LÝ NHÂN SỰ TRONG DOANH NGHIỆP
2.1. Người quản lý phải xuất phát từ con người cụ thể để tìm ra phương pháp
quản lý, phương pháp giao tiếp thích hợp:………………………… 8
2.2. Quản lý con người phải bằng biện pháp cụ thể, trong trạng thái động chứ
không phải tĩnh:…………………………………………………………9
2.3. Quản lý, đánh giá nhân viên phải gắn họ với điều kiện, hoàn cảnh, không
biện chứng duy vật là linh hồn sống của chủ nghĩa Mác, là khâu trung tâm hợp nhầt mọi
tư tưởng của chủ nghĩa Mác. Chính vì vập mà vấn đề quán triệt phép biện chứng duy vật
và vận dụng nó với tư cách phương pháp luận – lý luận để giải quyết các vấn đề thực tiễn
gắn với sự phát triển của đối tượng tồn tại khách quan thông qua hoạt động có ý thức của
con người luôn là một vấn đề vô cùng quan trọng.
Con người là một yếu tố hết sức quan trọng và cũng rất đặc biệt trong doanh nghiệp, con
người luôn biến đổi và quyết định hiêu quả kinh doanh trong từng giai đoạn. Do
vậy,người quản lý doanh nghiệp không thể dùng phương pháp siêu hình để quản lý. Bởi
ví phương pháp siêu hình có hạn chế của nó, như Ph. Ăngghen đã nói: “chỉ nhìn thấy
những sự vật riêng mà không nhìn thấy mối quan hệ qua lại giữa những sự vật ấy,chỉ
nhìn thấy sự tồn tại của những sự vật ấy mà không nhìn thấy sự phát sinh và sự tiêu vong
của những sự vật ấy,chỉ nhìn thấy trạng thái tĩnh của những sự vật ấy mà quên mất sự vận
động của những sự vật ấy, chỉ nhìn thấy cây mà không thấy rừng”. Ngược lại, phương
pháp biện chứng giúp cho người quản lý đánh giá con người một cách toàn diện, gắn con
người với quan hệ chung quanh, xem xét nó trong xu hướng vận động và phát triển.
Bài tiểu luận này nhằm phân tích phép biện chứng duy vật của Mác và hiệu quả của nó
khi vận dụng vào quản trị nhân sự trong thời đại ngày nay, bao gồm 2 phần chính:
Phần 1: Lý luận về phép biện chứng duy vật
Phần 2: Vận dụng phép biện chứng duy vật vào quản trị nhân sự ngày
nay.
PHẦN 1: LÝ LUẬN VỀ PHÉP BIỆN CHỨNG DUY VẬT
I.Phép biện chứng duy vật – Phương pháp luận nhận thức khoa học và thực tiễn:
1.1. Khái niệm:
Thuật ngữ “biện chứng” có gốc từ tiếng Hy Lạp là dialektica(với nghĩa là nghệ thuật
đàm thoại, tranh luận). Theo nghĩa này, biện chứng là nghệ thuật tranh luận nhằm tìm
ra chân lý bằng cách phát hiện các mâu thuẫn trong lập luận của đối phương và nghệ
thuật bảo vệ những lập luận của mình. Người Hy Lạp cổ đại cho rằng, đã là tri thức
đúng thì không thể có mâu thuẫn trong tri thức đó và quá trình đi tới chân lý là quá
trình giải quyết những mâu thuẫn trong lập luận.
Trong triết học Mác,thuật ngữ “biện chứng”được dùng đối lập với “siêu hình”. Ðó là
nào cũng có mối liên hệ với những thành phần, những yếu tố khác.
Tính đa dạng, phong phú: sự vật khác nhau, hiện tượng khác nhau, không gian
khác nhau, thời gian khác nhau thì các mối liên hệ biểu hiện khác nhau.
Sự phân chia từng cặp mối liên hệ chỉ mang tính tương đối. Mỗi loại mối liên hệ
trong từng cặp có thể chuyển hoá lẫn nhau tuỳ theo phạm vi bao quát của mối liên hệ
hoặc do kết quả vận động và phát triển của chính các sự vật.
b. Ý nghĩa phương pháp luận:
Vì các mối liên hệ là sự tác động qua lại, chuyển hoá, qui định lẫn nhau giữa các sự
vật hiện tượng và các mối liên hệ mang tính khách quan, mang tính phổ biến nên
trong hoạt động nhận thức và hoạt động thực tiễn con người phải tôn trọng quan điểm
toàn diện, phải tránh cách xem xét phiến diện.
Quan điểm toàn diện đòi hỏi chúng ta nhận thức về sự vật trong mối liên hệ qua lại
giữa các bộ phận, giữa các yếu tố, giữa các mặt của chính sự vật và trong sự tác động
qua lại giữa sự vật đó với các sự vật khác, kể cả mối liên hệ trực tiếp và mối liên hệ
gián tiếp. Chỉ trên cơ sở đó mới có thể nhận thức đúng về sự vật.
1.2.1.2. Nguyên lý về sự phát triển:
Trong phép biện chứng duy vật, phát triển dùng để khái quát quá trình vận động đi
lên từ thấp đến cao,từ đơn giản đến phức tạp, từ kém hoàn thiện đến hoàn thiện hơn.
Quá trình đó vừa diễn ra dần dần, vừa nhảy vọt làm cho sự vật, hiện tượng cũ mất đi,
sự vật, hiện tượng mới về chất ra đời. Phát triển là tự than. Ðộng lực của sự phát triển
là mâu thuẫn giữa các mặt đối lập bên trong sự vật, hiện tượng. Phát triển đi theo
đường “xoáy ốc”, cái mới dường như lặp lại một số đặc trưng, đặc tính của cái cũ
nhưng trên cơ sở cao hơn; thể hiện tính quanh co, phức tạp, có thể có những bước thụt
lùi tương đối trong sự phát triển.
c. Tính chất của sự phát triển:
Tính khách quan: nguồn gốc của sự phát triển nằm ngay trong bản than sự vật, vì thế sự
phát triển là tiến trình khách quan, không phụ thuộc vào ý thức con người.
Tính phổ biến: tính phổ biến được hiểu là nó diễn ra ở mọi lĩnh vực: tự nhiên, xã hội và
tư duy; ở bất cứ sự vật hiện tượng nào của thế giới khách quan.
Tính đa dạng, phong phú: tồn tại ở không gian khác nhau, ở thời gian khác nhau, sự vật
mối quan hệ khác và ngược lại tạo nên chuổi nhâ-quả vô tận. Do vậy, nguyên nhân,
kết quả bao giờ cũng ở trong mối quan hệ cụ thể.
1.2.2.3. Tất nhiên và ngẫu nhiên:
Trong khi phản ánh hiện thực khách quan, con người nhận thức được tính không một
nghĩa, không cùng một giá trị của các mối liên hệ khác nhau của sự vật, hiện tượng
nên phân chia chúng thành nhóm các mối liên hệ nhất định phải xảy ra đúng như thế
và nhóm các mối liên hệ có thể xảy ra, cũng có thển không xảy ra, cũng có thể xảy ra
thế này hay thế khác. Tất nhiên do mối liên hệ bản chất, do những nguyên nhân cơ
bản bên trong của sự vật, hiện tượng quy định và trong những điều kiện nhất định
phải xảy ra đúng như thế chứ không thể khác. Ngẫu nhiên do mối liên hệ không bản
chất, do những nguyên nhân, hoàn cảnh bên ngoài quy định, có thể xuất hiện, có thể
không xuất hiện, có thể xuất hiện thế này hoặc có thể xuất hiện thế khác. Giữa tất
nhiên và ngẫu nhiên có mối liên hệ biện chứng với nhau.
1.2.2.4. Nội dung và hình thức:
Nội dung là tổng hợp tất cả những mặt, những yếu tố tạo nên sự vật, hiện tượng. Hình
thức là phương thức tồn tại và phát triển của sự vật, hiện tượng; là hệ thống các mối
liên hệ tương đối bền vững giữa các yếu tố, sự vật của hiện tương.
Giữa nội dung và hình thức có mối liên hệ qua lại, quy định lẫn nhau, trong đó nội
dung giữ vai trò quyết định. Nội dung đòi hỏi phải có hình thức phù hợp với nó. Khi
nội dung thay đổi thì hình thức cũng phải thay đổi theo. Tuy nhiên, hình thức cũng có
tính độc lập tương đối và tác động tích cực trở lại nội dung. Khi hình thức phù hợp
với nội dung, nó là động lực thúc đẩy nội dung phát triển, còn khi không phù hợp,
hình thức cản trở sự phát triển của nội dung. Cùng một nội dung, trong quá trình phát
triển, có thể thể hiện dưới nhiều hình thức và ngược lại, cùng một hình thức có thể
phù hợp những nội dung khác nhau.
1.2.2.5. Bản chất và hiện tượng:
Ðể nhận thức đúng sự vật từ các hiện tượng phong phú nhiều vẻ, con người đi sâu
nghiên cứu bản chất của sự vật. Bản chất là tổng hợp tất cả những mặt, những mối
liên hệ tất nhiên tương đối ổn định bên trong, quy định sự tồn tại, vận động và phát
triển của sự vật. Hiện tượng là những biểu hiện eb6n ngoài, bề ngoài của sự vật.
đổi về lượng sang những thay đổi về chất, từ những thay đổi mang tính tiến hoá sang
những thay đổi mang tính cách mạng và ngược lại không biết sử dụng chất mới để
thúc đẩy lượng tiếp tục phát triển.
1.2.3.2. Quy luật thống nhất và đấu tranh giữa các mặt đối lập:
Ðây là “hạt nhân” của phép biện chứng duy vật, nó chỉ ra nguồn gốc, động lực của sự
phát triển. Theo phép biện chứng, mặt đối lập là những mặt có khuynh hướng biến đổi
trái ngược nhau. Sự tác động giữa chúng tạo thành mâu thuẫn bên trong của sự vật.
Các mặt đối lập vừa thống nhất, vừa đấu tranh với nhau. Trong đó,thống nhất là tương
đối, tạm thời; đấu tranh là tuyệt đối, vĩnh viễn. Sự thống nhất và đấu tranh của các
mặt đối lập là nguồn gốc, động lực của sự vận động, sự phát triển.
Quy luật này có ý nghĩan phương pháp luận to lớn trong việc phát hiện và phân tích
mâu thuẫn của sự vật cũng như tìm ra con đường đúng đắn để giải quyết âm thuẫn
nhằm thúc đẩy sự vật phát triển.
1.2.3.3. Quy luật phủ định của phủ định:
Phủ định biện chứng là quá trình khách quan,tự thân, là quá trình kế thừa cái tích cực
đã đạt được từ cái cũ, là mắt khâu trong quá trìnhdẫn tới sự ra đời của sự vật, hiện
tượng mới cao hơn, tiến bộ hơn.
Quá trình phủ định của phủ định tạo thành sự vận động, phát triển không ngừng mang
tính chu kỳ của thế giới khách quan. Trải qua một số lần phủ định, sự vật, hiện tượng
dường như lặp lại những giai đoạn đã qua trên cơ sở mới, cao hơn và như vậy, phát
triển không đi theo đường thẳng mà theo đường “xoáy ốc”.
Quy luật này có một ý nghĩa phương pháp luận to lớn trong quá trình thay thế cái củ
bằng cái mới. Nó đòi hỏi phải xuất phát từ những điều kiệnkhách quan cho phép,phải
tạo điều kiện, tiền đề cho cái mới chiến thắng cái cũ, phải biết kế thừa và phát triển
sang tạo những cái tích cực đã đạt được từ cái cũ, đồng thời phải thấy được tính chất
quanh co, phức tạp trong quá trình ra đời cái mới.
PHẦN 2: VẬN DỤNG PHÉP BIỆN CHỨNG DUY VẬT VÀO
THỰC TIỄN QUẢN LÝ NHÂN SỰ TRONG DOANH NGHIỆP
Trong hoạt động thực tiễn, nhất là trong công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước
ta hiện nay, mỗi người cần thiết phải trang bị cho mình những tri thức về thế giới
Ðiềm tĩnh
Mạnh
Cân bằng
Chậm(không linh hoạt)
Sôi nổi
Mạnh
Không cân bằng Nhanh(linh hoạt)
Ưu tư
Yếu
Không cân bằng Chậm(không linh hoạt)
Vấn đề quản lý con người cụ thể còn phải chú ý đến cá tính của họ. Trong thực tiễn
quản lý doanh nghiệp, có một số cá tính thường gặp biểu hiện thông qua hành vi của
người lao động là:
Tính bướng bỉnh và hay có thái độ chống đối: Những người này thường không
thích quyền lực, hay ngang tang, gây gổ. Do vậy, người quản lý phải có
phương pháp quản lý thích hợp (thậm chí đôi lúc phải độc tài) để thu phục và
chế ngự tính khí ngang bướng đó, hướng năng lực của họ vào những mục tiêu
mong muốn.
Làm việc không tự chủ được: Ðây là những người luôn thiếu ý chí và nghị lực.
Người quản lý phải có thái độ và biện pháp cứng rắn nhằm giúp cho họ có
niềm tin mới.
Có tinh thần vì tập thể, vì cái chung: Những người này sẽ phát huy năng lực
cao nhất nếu người quản lý biết áp dụng phương pháp dân chủ. Họ luôn muốn
hợp tác với nhiều người và sẵn sàng giúp đỡ người khác vì cái chung, họ luôn
tự giác , tự chủ trong công việc, vừa có tinh thần hợp tác, luôn luôn đi đúng
hướng và cần rất ít sự quản lý.
Có tính tự giác cao trong công việc: Họ là những người không thích nói nhiều,
khong thích nhắc nhở. Người quản lý chỉ nhắc nhở họ khi thật cần thiết. Họ sẽ
phát huy năng lực cao nhất khi được quản lý bằng phương pháp khoa học để họ
tự do hoạt động.
của công việc mà người lao động đang làm, nó là điều kiện cơ bản làm cho các công
việc trong doanh nghiệp tồn tại. Còn thời gian là điều kiện cơ bản làm biến đổi các
công việc trong doanh nghiệp “ dưới hình thức cái nọ nối tiếp cái kia”.
Mối liên hệ hữu cơ giữa không gian với sự tồn tại các công việc của người lao động,
giữa thời gian với sự biến đổi của các công việc mà người lao động đang làm, cho
phép người quản lý doanh nghiệp giải thích được bản chất sự thống nhất và sự khác
biệt giữa các công việc khác nhau của người lao động.
2.4. Trạng thái tâm lý của người nhân viên đều xuất phát từ những điều kiện
khách quan:
Người quản lý phải quan tâm tìm hiểu nguyên nhân của trạng thái vui buồn, bi
quan,… không phải ngay chính bản thân người lao động mà từ những quan hệ khách
quan như công việc, gia đình ,đồng nghiệp và cũng xuất phát từ trạng thái đó mà
giao việc phù hợp cho họ. Theo quan điểm của chủ nghĩa duy vật biện chứng, chính
sự tồn tại xã hội quyết định ý thức xã hội.Vì vậy, chìa khoá để giải thích nguồn gốc
của những trạng thái tâm lý của người lao động chính là ở những điều kiện vật chất
của họ. V.I Lênin chỉ rõ:”Ý thức con người không phải chỉ phản ánh thế giới khách
quan mà còn tạo ra thế giới khách quan”. Chính vì vậy, người quản lý phải biết quan
tâm đến những điều kiện cần thiết nào làm ảnh hưởng lớn đến tâm lý của người lao
động chẳng hạn:
Chọn lựa người làm việc hợp với sở thích, hợp với sức khoẻ.
Chú ý đến sự đào tạo tại chỗ, hoặc bố trí cho người lao động được học thêm.
Thay đổi điều kiện làm việc thích hợp:ánh sáng, tiếng ồn, màu sắc,… Có chế độ lương,
thưởng, hợp lý.
Quan tâm, giúp đỡ họ khi gặp hoàn cảnh khó khăn.
2.5. Người lao động trong doanh nghiệp luôn gắn với nhiều mối quan hệ khác nhau:
Mối quan hệ giữa người và người trong doanh nghiệp có rất nhiều hình thức khác
nhau. Có mối quan hệ trực tiếp, gián tiếp, bản chất và không bản chất, trong đó mối
quan hệ bản chất vạch ra bản tính con người Vì vậy, để nậhn thức sự vật , hiện tượng,
quá trình phép biện chứng duy vật yêu cầu phải tìm ra mối quan hệ bản chất trong sự
vật đó và giữa chúng với nhau. Muốn vậy thì phải xét sự vật một cách toàn diện, giải
doanh nghiệp. Vì chính mâu thuẫn cơ bản là yếu tố quyết định sự tồn tại và phát triển
lâu dài của doanh nghiệp. Trong các mâu thuẫn trên thì mâu thuẫn giữa khách hàng và
doanh nghiệp là cơ bản nhất .Vì rằng bất kỳ doanh nghiệp nào muốn tồn tại và phát
triển, trước hết phải xác định nhu cầu khách hàng có hay không có và khả năng của
nhân viên trong doanh nghiệpc có đáp ứng được hay đáp ứng ở mức độ nào của nhu
cầu khách hàng.
Hơn nữa, sự tồn tại của doanh nghiệp chính là ở chỗ người quản lý phải giải quyết
mâu thuẫn đó liên tục không ngừng suốt trong thời gian vận động của doanh nghiệp.
Chỉ có thông qua việc giải quyết các mâu thuẫn đó giám đốc mới hiểu rõ năng lực và
trạng thái tâm lý của người lao động, giúp cho người quản lý tìm ra được những biện
pháp quản lý phù hợp, thúc đẩy khả năng đóng góp của doanh nghiệp. Vì vậy, giải
quyết mâu thuẫn trong doanh nghiệp, đưa nó phát triển đi lên chính là trải qua một
quá trình đấu tranh liên tục giữa những tư tưởng, phong cách ,quan niệm, nhu cầu ,lợi
ích khác nhau, mâu thuẫn nhau làm cho chúng chuyển hoá nhau.
Trong nội bộ giữa người lao động của doanh nghiệp kể cả những người trong cùng
một bộ phận cũng luôn xuất hiện mâu thuẫn. Tính chất, mức độ mâu thuẫn giữa họ
không phải là mâu thuẫn đối kháng nhưng ở mức độ nhiều ít, gay gắt hay không gay
gắt là tuỳ thuộc vào phương pháp quản lý, tuý thuộc vào thái độ, tuỳ thuộc vào sự
công bằng trong lao động của người quản lý.
Người lao động làm việc luôn ở trong trạng thái muốn tiến bộ và có nhiều lo lắng,
trăn trở trước công việc chung của doanh nghiệp, nếu là người quản lý giỏi thì phải
hướng những lo lắng đó đi cùng với mục đích của doanh nghiệp. Thomas H.Melon
trao đổi với các nhà quản trị rằng “nhân viên của bạn đang lo lắng. Họ lo lắng sâu sắc
về bản thân, về gia đình, về tiến bộ nghề nghiệp và về đời sống lao động hằng ngày
của họ. Nếu bạn có khả năng khơi dậy được nguồn suối đócho chảy theo những mục
đích của doanh nghiệp của bạn thì bạn sẽ đạt được những kết quả thật sự làm cho bạn
phải chóng mặt. “