Lời mở đầu:
Trong những năm gần đây, nền kinh tế của Việt Nam chúng ta đang phải đối đầu
với một trong những vẫn đề gây nhức nhối cho nền kinh tế - vấn đề lạm phát. Bên cạnh
đó tỷ giá hối đoái thay đổi nhanh và chưa ổn định khiến cho doanh nghiệp gặp rất nhiều
khó khăn cho các doanh nghiệp cả tư nhân và nhà nước. Vấn đề này đặt ra một thách thức
rất lớn cho các doanh nghiệp trong việc giải quyết, vừa vượt qua các khó khăn do lạm
phát và tỷ giá hối đoái gây ra, mặt khác vẫn phải giữ vững mục tiêu phát triển kinh tế.
Chính vì thế, bài tiểu luận chúng em hôm nay sẽ nghiên cứu sâu hơn và rõ ràng hơn về
vấn đề này, qua đó nhận biết rõ hơn tình hình hiện tại và đồng thời kết hợp nêu lên các
giải pháp nhằm giúp các doanh nghiệp vượt qua khó khăn hiện tại và đạt được mục tiêu
phát triển của mình. Bài tiểu luận của nhóm chúng em gồm … phần:
2. Lạm phát (INFLATION)
Là tình trạng mức giá chung của nền kinh tế
tăng lên trong một khoảng thời gian nhất định.
Khi nói mức giá chung tăng lên không có
nghĩa là tất cả các mặt hàng đều tăng giá, mà
trong đó có mặt hàng tăng giá nhiều có mặt
hàng tăng giá ít, có mặt hàng không đổi, thậm chí có mặt hàng giảm giá, nhưng
tổgn hợp lại thì người ta phải cần một lượng tiền lớn hơn để mua một giỏ hàng
như trước đây.
Mức độ lạm phát được đo bằng tỷ lệ lạm phát.
2.1. Tỷ lệ lạm phát (kí hiệu là If) là tỷ lệ phần trăm gia tăng trong mức giá
chung của kì này so với kì trước.
If=
Trong đó Pt là chỉ số giá năm t
Pt-1 là chỉ số giá năm t-1 2.2. Phân loại lạm phát
2.3. Nguyên nhân gây ra lạm phát:
Chúng ta cần phân tích nguyên nhân gây ra lạm phát để giải quyết vấn đề
doanh nghiệp trước tình hình lạm phát được triệt để hơn, có hướng đi để giảm
lạm phát và đầu tư phát triển thích hợp, tránh các rủi ro.
Có 2 nguyên nhân chính dẫn đến lạm phát:
=> làm đường tổng cầu AD dịch chuyển sang phải, làm cho sản lượng tăng
lên, đồng thời mức giá cũng tăng lên và tỷ lệ thất nghiệp giảm.
b. Lạm phát do cung (lạm phát do chi phí đẩy).
xuất phát từ sự sụt giảm trong tổng cung mà nguyên nhân chính là do chi phí
sản xuất của nền kinh tế tăng lên khi:
-tiền lương tăng lên trong khi năng suất lao động không đổi.
-thuế (T) tăng, lãi suất (r) tăng.
-thiên tai mất mùa, chiến tranh…
-Gía các nguyên vật liệu chính tăng cao…
II. Tác động của tỷ giá hối đoái và lạm phát đến nền kinh tế Việt Nam
a.tác động của tỷ giá hối đoái:
Tích cực:
+Tỷ giá hối đoái tăng thì sản phẩm trong nước có khả năng cạnh tranh cao
hơn, xuất khẩu tăng và nhập khẩu giảm.
=> vì nhập khẩu giảm, nên cầu về hàng hóa trong nước sẽ tăng, điều
kiện thuận lợi để các công ty tối đa hóa lợi nhuận, mở rộng phát triển.
+Khi tỷ giá hối đoái tăng lên, đồng nội tệ sẽ giảm so với đồng ngoại tệ
=> các nhà đầu tư từ nước ngoài dễ dàng xây dựng và phát triển doanh
nghiệp ở Việt Nam.
Tuy nhiên, lợi nhuận từ đầu tư ra nước ngoài sẽ cao hơn lợi nhuận đầu tư
trong nước, vốn có khuynh hướng chạy ra nước ngoài.
Tiêu cực:
Nhập khẩu của Việt Nam chủ yếu là máy móc, nguyên nhiên liệu sản xuất và
cả hàng tiêu dùng Tỷ giá tăng sẽ khiến chi phí sản xuất tăng lên
=> giá hàng hóa cũng tăng theo, nên lợi nhuận thu được sẽ ít hơn, lạm
phát tăng
Về thị trường:
Sức mua của tiền giảm.
Bất ổn do giá biến động liên tục
=> gây ra lo lắng cho người dân, khả năng duy
lý giảm, khó khăn hơn trong việc quyết định chi
tiêu.
Thu nhập khả dụng Yd= C+S, người dân tăng cường sử dụng tiền để dự trữ
ngoại tệ, vàng để hạn chế sự mất giá của đồng tiền.
=> người dân giảm tiêu dùng.
Làm thay đổi cơ cấu nền kinh tế: vì giá các loại hàng hóa tăng không cùng tỷ
lệ, làm giá tương đối của các hàng hóa thay đổi.
=> sự chọn lựa, quyết định thường thay đổi, lượng cung không kịp thích
ứng.
Nói chung: sự thay đổi của thị trường chủ yếu là sự thay đổi của lượng
cầu
về doanh nghiệp
-Chi phí thực đơn: Khi giá cả tăng lên, các doanh nghiệp phải bỏ ra chi phí để
in ấn lại catalogue và bảng giá mới gửi cho các khách hàng.
-Doanh nghiệp phải liên tục thay đổi quảng cáo để thích ứng thị trường.
-Tác động đến cung hàng hóa do cầu hàng hóa thay đổi không ngừng, giá
các yếu tố sản xuất tăng liên tục
=> cơ cấu sản xuất của doanh nghiệp bị thay đổi: nhân sự, vốn, chi tiêu,
đầu tư giảm…
-Mục tiêu của doanh nghiệp trong lạm phát cao đặt ra theo xu hướng không
còn là tối đa hóa lợi nhuận thậm chí chỉ là duy trì, ổn định, hạn chế rủi ro trong
ngắn hạn để phát triển trong dài hạn. -Việc xác định tỷ lệ lạm phát cũng đặt ra một câu hỏi lớn cho các doanh
nghiệp. Vì nếu phán đoán tỷ lệ lạm phát cao hơn tỷ lệ lạm phát thực tế thì sẽ bị
3-D Column 3
-Nguồn vốn giảm do dân mất lòng tin vào đầu tư, các ngân hàng tăng mức lãi
suất. III Gỉai pháp
Mức độ ảnh hưởng của lạm phát đến lợi
nhuận của công ty lớn hay nhỏ phụ thuộc vào
hai yếu tố. Một là khả năng hạn chế sự tăng
giá từ phía nhà cung cấp khả năng định giá
sản phẩm cao hơn mà khách hàng vẫn chấp
nhận.
Nên nhớ rằng mục tiêu ở đây không phải là
bảo vệ công hoàn toàn với lạm phát, và điều
này rõ ràng là không thể thực hiện được.
=> Nhà quản trị cần định hướng thích ứng với lạm phát chứ không nên
bảo vệ, tránh lạm phát vì lạm phát là vấn đề của cả nền kinh tế phải đương
đầu.
Tránh phán đoán sai lầm khi lợi nhuận tăng
thì công ty đang phát triển
=> Cần tính toán chuẩn xác xem lợi
nhuận thực giảm hay tăng để phán đoán
tình hình làm phát hiện tại.
Thay vào đó, công ty cần chắc chắn rằng
chi phí đầu vào tăng chậm hơn mức tăng của
giá bán ra.
=> Nhà quản trị doanh nghiệp không nên tối đa hóa lợi nhuận trong
ngắn hạn, công việc hoạch địch cần phát huy vai trò quan trọng của nó.
Nếu công ty không thể tăng giá nhanh hơn tỷ lệ lạm phát thì giá trị của công
trong các lĩnh vực khác. Do vậy khách hàng mua
thực phẩm thường dễ bị ảnh hưởng bởi lạm phát.
=> xác định mức cung của đối thủ, mức độ
cạnh tranh của trị trường, để điều chỉnh giá,
sản lượng và loại hình kinh doanh phù hợp.
(Biết người biết ta)
- Tập trung vào những công trình , dự án có khả năng thu hồi vốn nhanh , dù
lời có ít thì chúng ta vẫn nên đầu tư vì chúng ta cần phải luôn nắm giữ số vốn
trong tay nhằm ứng phó với mọi hoàn cảnh bất ngờ xảy ra . Tránh tình trạng bị
chôn vốn và ứ động hàng hóa => Nhà quản trị cần
hoạch định hướng đi
thu hồi vốn nhanh và kịp
lúc, thì lợi nhuận từ việc
mức giá chung tăng sẽ
thu về càng nhiều,
nhưng phải thích hợp vì
phải chọn thời điểm để
chi phí sản xuất tăng ít
hơn.
=> Doanh nghiệp cần rà soát lại kế hoạch kinh doanh gắn liền với kế
hoạch tài chính :
- Tập trung vào sản xuất các loại sản phẩm có chất lượng vừa phải, không
nên đầu tư vào các sản phẩm chất lượng tốt để giảm chi phí thấp nhất có thể.
Đây là một chiến lược vô cùng quan trọng. Chúng ta hãy suy nghĩ, khi lạm phát
xảy ra, giá cả các hàng hóa ngày càng tăng, mà thu nhập của người dân hầu
như vẫn dậm chân tại chỗ , thậm chí là bị giảm. Khi
đó , các doanh nghiệp vẫn tăng giá sản phẩm của
tài năng còn có thể biến cái môi trường “
khó khăn “ này thành một cơ hội để phát
triển và mở rộng doanh nghiệp của mình.
Bởi vì chúng ta đã biết, thách thức và cơ
hội luôn đồng hành cùng nhau, nếu chúng
ta không chịu thay đổi, không chịu suy nghĩ cải tiến , thì chúng ta sẽ gặp phải
những rủi ro . Đồng thời, nếu chúng ta có tầm nhìn chiến lược, có thể thấy trước
và chuẩn bị sẵn sàng cùng đối mặt với nó, chúng ta vẫn có thể biến nó thành cơ
hội của mình .
Rất nhiều người nghĩ rằng, lạm phát sẽ ảnh hưởng xấu đến cả nền kinh tế
này, thế thì làm sao mà lại có doanh nghiệp xem nó như cơ hội mà phát triển !
Suy nghĩ này có thể nói đúng mà không đúng. Tôi nói nó đúng, bởi vì khi xảy ra
lạm phát thì giá cả tăng làm cho sức tiêu dùng của người dân giảm, mà khi giá
cả càng tăng thì sẽ đến một mức làm cho người dân không còn khả năng chi trả
hàng hóa bị ứ động, không bán được mà dẫn tới phá sản. Đây là tình hình
chung của hầu hết các doanh nghiệp, và nếu chúng ta xem xét trên tầm nhìn của
quốc gia thì thật sự đây là tác hại. Thế nhưng, nếu chúng ta đứng trên cương vị
của từng doanh nghiệp mà xem xét thì chưa hẳn là không có cơ hội. Cụ thể là :
-Nếu như trong trạng thái kinh tế phát triển bình thường, các doanh nghiệp
mọc lên hằng hà sa số, chúng ta phải đối diện với sự canh tranh gay gắt, mà thật
sự thì chúng ta khó có thể vượt qua đối thủ của mình một cách trọn vẹn được.
Bởi vì trong môi trường ổn định như thế, không có điều kiện để chúng ta thể hiện
ưu điểm và khuyết điểm của đối thủ, hoặc giả có chăng nữa thì cũng không quá
rõ rệt. Thế nhưng, nếu đặt vào trong môi trường bất ổn định, lạm phát như thế
này thì nếu chúng ta thật sự có tài, chúng ta sẽ thấy được rằng đây là một cơ hội lớn. Vì chỉ trong điều kiện thế này, chúng ta mới có cái để thể hiện tài năng vượt
trội hơn người khác của mình, và các đối thủ cạnh tranh mới bị bộc lộ khuyết