TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP. HỒ CHÍ MINH
VIỆN ĐÀO TẠO SAU ĐẠI HỌC
TIỂU LUẬN TRIẾT HỌC
ĐỀ TÀI:
SỰ TƯƠNG ĐỒNG VÀ KHÁC BIỆT GIỮA
TRIẾT HỌC NHO GIA & TRIẾT HỌC PHÁP
GIA Ở TRUNG QUỐC THỜI CỔ ĐẠI Học viên thực hiện : Huỳnh Thiên Thảo
Mã số học viên :7701221063
STT :63
Nhóm :7
Lớp : Ngày 4
Khóa : 22
Giảng viên hướng dẫn : TS. BÙI VĂN MƯA Thành phố Hồ Chí Minh, tháng 12 năm 2012
GVHD: TS. Bùi Văn Mưa
1
HVTH: Huỳnh Thiên Thảo
LỜI MỞ ĐẦU
o0o
Trung Hoa cổ đại là một quốc gia rộng lớn và có lịch sử lâu đời kéo dài khoảng
2000 năm lịch sử (bắt đầu từ cuối thiên niên kỷ thứ III và kết thúc bằng sự kiện Tần
Thủy Hoàng thống nhất Trung Hoa bằng uy quyền bạo lực vào cuối thế kỷ thứ III
TCN). Thời kỳ này, xã hội Trung Hoa hết sức đảo lộn vì chiến tranh, loạn lạc liên
miên. Mặc dù xã hội đầy biến động nhưng trong sự biến động đó, nhân dân Trung
Hoa đã tạo nên một nền văn hóa rực rỡ. Và cũng chính bối cảnh đó đã sản sinh các
nhà tư tưởng lớn. Nhiều trường phái triết học lần lượt ra đời và phát triển, tạo thành
một hệ thống đồ sộ, bao quát nhiều vấn đề triết học. Do vậy, có thể khẳng định
Trung Hoa cổ đại không chỉ là một trung tâm văn hóa lớn của vùng Đông Bắc Á mà
còn là một trung tâm văn hóa lớn và phong phú nhất của nền văn minh của phương
Đông - chiếc nôi lớn của văn minh nhân loại.
Thời kỳ này Trung Hoa có chín trường phái triết học chính – gọi là “Cửu gia”
trong đó Nho gia và Pháp gia là hai trường phái triết học có ảnh hưởng sâu rộng
đến vấn đề chính trị - xã hội, luân lý, đạo đức không chỉ trong xã hội Trung Hoa cổ
đại mà còn có giá trị lâu dài cho đến tận ngày nay.
Nho gia là một trường phái triết học lớn được hoàn thiện liên tục và có tầm ảnh
hưởng đáng kể đến đời sống tinh thần của nhân dân Trung Hoa cổ đại. Là một học
thuyết chính trị – đạo đức, Nho gia đặc biệt quan tâm đến vấn đề đạo đức cá nhân,
giáo dục và đào tạo con người.
Pháp gia là trường phái triết học có vai trò quyết định trong sự nghiệp thống
nhất về tư tưởng và chính trị trong xã hội Trung Hoa cổ đại. Học thuyết pháp trị của
Pháp gia đã được vương quốc Tần ra sức vận dụng và kết cục đã đưa nước Tần đến
thành công trong việc kết thúc cục diện phân tán cát cứ, thống nhất được đất nước
Trung Hoa sau những năm dài chiến tranh khốc liệt.
3
HVTH: Huỳnh Thiên Thảo
Chƣơng I: HOÀN CẢNH RA ĐỜI CỦA TRIẾT HỌC NHO GIA VÀ PHÁP GIA
Nho gia và Pháp gia xuất hiện vào khoảng thế kỷ VI TCN dưới thời Xuân Thu.
Đây là thời kỳ chuyển biến từ chế độ chiếm hữu nô lệ sang chế độ phong kiến. Xã
hội lúc này ở vào tình trạng hết sức đảo lộn. Sự tranh giành địa vị xã hội của các thế
lực cát cứ đã đẩy xã hội Trung Hoa cổ đại vào tình trạng chiến tranh khốc liệt liên
miên. Đây chính là điều kiện lịch sử đòi hỏi giải thể chế độ nô lệ thị tộc nhà Chu,
hình thành xã hội phong kiến; đòi hỏi giải thể nhà nước của chế độ gia trưởng, xây
dựng nhà nước phong kiến nhằm giải phóng lực lượng sản xuất, mở đường cho xã
hội phát triển. Sự biến chuyển sôi động đó của thời đại đã đặt ra và làm xuất hiện
những tụ điểm, những trung tâm các “kẻ sĩ” luôn tranh luận về trật tự xã hội cũ và
đề ra những hình mẫu của một xã hội trong tương lai. Họ đấu tranh để tranh giành
ảnh hưởng với nhau, tiếp thu, thâm nhập lẫn nhau. Chính trong quá trình ấy đã sản
sinh các nhà tư tưởng lớn và hình thành nên các trường phái triết học khá hoàn
chỉnh. Thời kỳ này Trung Hoa có chín trường phái triết học chính – gọi là “Cửu gia”
gồm: Nho gia, Mặc gia, Đạo gia, Âm Dương gia, Danh gia, Pháp gia, Nông gia,
Tung hoành gia và Tạp gia, trong đó Nho gia và Pháp gia là hai trường phái triết học
có ảnh hưởng sâu rộng đến vấn đề chính trị - xã hội, luân lý, đạo đức trong xã hội
Trung Hoa cổ đại và có giá trị lịch sử lâu dài cho đến tận ngày nay.
[2, tr33]
1.1 Nho gia
Người sáng lập Nho gia là Khổng tử (551 - 479 TCN). Sau khi ông mất, tư tưởng
của ông đã được các thế hệ học trò kế thừa. Đến thời Chiến Quốc, Nho gia được
chia thành tám phái, trong đó mạnh nhất là phái Mạnh Tử (372 - 298 TCN) và Tuân
Tử (313 – 238 TCN). Mạnh Tử và Tuân Tử hoàn thiện và phát triển theo hai xu
hướng khác nhau: duy tâm và duy vật.
[2, tr39]
[3]
Sau Quản Trọng phải kể đến Thân Bất Hại (401-337 TCN), là người nước Trịnh
chuyên học về hình danh, làm quan đến bậc tướng quốc. Ông đề cao “thuật” trong
phép trị nước. Một đại biểu nữa của phái Pháp gia thời kỳ này là Thận Đáo (370-290
TCN), ông là người nước Triệu và chịu ảnh hưởng một số tư tưởng triết học về đạo
của Lão Tử, nhưng về chính trị ông lại đề xướng đường lối trị nước bằng pháp luật.
Thận Đáo đề cao vai trò của “thế”. Cùng thời với Thận Đáo, có một người cũng nêu
cao tư tưởng Pháp trị, đó là Thương Ưởng. Ông đã hai lần giúp vua Tần cải cách
pháp luật hành chính và kinh tế làm cho nước Tần trở nên hùng mạnh. Trong phép
trị nước Thương Ưởng đề cao “pháp”.
[3]
Cuối cùng phải kể đến Hàn Phi, người có công tổng kết và hoàn thiện tư tưởng
trị nước của Pháp gia khi kết hợp cả ba yếu tố “pháp”, “thuật” và “thế”. Từ đó, ông
đã phát triển và hoàn thiện tư tưởng pháp gia thành một đường lối trị nước khá hoàn
chỉnh và thích ứng với thời đại lúc bấy giờ.
Tiểu luận Triết học
GVHD: TS. Bùi Văn Mưa
5
HVTH: Huỳnh Thiên Thảo
Chƣơng II: KHÁI QUÁT NỘI DUNG TRIẾT HỌC NHO GIA VÀ PHÁP GIA
2.1 Nho gia
ục con người.
a) Tư tưởng của triết học Nho gia về đạo đức
tr43]
+ Vai trò của người cầm quyền: Nho gia ủ trương “chính danh”: Vua phải
làm tròn phận sự của mình. Ngoài ra, Khổng Tử cho rằng thành bại của việc cai trị
đất nước chính là đức hạnh của nhà vua đang trị vì
[6]
.
+ Vai trò của dân: Mạnh Tử đề cao vai trò người dân bởi vì nếu không có dân sẽ
không có nước, không có nước thì không có vua, kẻ thống trị nếu không được nhân
dân ủng hộ thì chính quyền sớm hay muộn gì cũng phải sụp đổ. Nó có tác dụng cảnh
báo đối với nhà cầm quyền đương thời: Phải thi hành chính sự như thế nào đó để
được lòng dân, cũng có nghĩa là bảo về lâu dài quyền lợi của nhà cầm quyền.
2.2 Pháp gia
Trái với Nho gia, nội dung cơ bản của triết học Pháp gia là vấn đề pháp trị.
Hàn Phi quan niệm pháp luật là công cụ hữu hiệu nhất để đem lại hòa bình, ổn
định và công bằng. Ông hết sức coi trọng tác dụng của pháp luật và chủ trương xây
dựng một lý luận pháp trị hoàn chỉnh, trong đó lấy “pháp” làm hạt nhân, kết hợp
chặt chẽ “pháp”, “thuật” với “thế”.
Nội dung chủ yếu của pháp luật theo Hàn Phi là thưởng và phạt - ông gọi đó là
hai đòn bẩy trong tay vua để giữ vững chính quyền. Thưởng phạt là nhằm mục đích
thực hiện "pháp" "để cứu loạn cho dân chúng, trừ họa cho thiên hạ. Với nội dung và
mục đích như trên "pháp" thật sự là tiêu chuẩn khách quan để phân định danh phận,
phải trái, tốt, xấu, thiện ác và sẽ làm cho nhân tâm và vạn sự đều qui về một mối,
đều lấy pháp làm chuẩn. Vì vậy, "pháp" trở thành cái gốc của thiên hạ.
[3]
Cùng với "pháp", "thế" là yếu tố không thể thiếu được trong pháp trị. Pháp gia
cho rằng muốn có luật pháp rõ ràng minh bạch và được dân tuyệt đối tôn trọng thi
hành thì nhà vua phải có “thế”. "Thế" trước hết là địa vị, thế lực, quyền uy của
người cầm quyền mà trước hết là của nhà vua. "Thế" có vị trí quan trọng đến mức có
thể thay thế được hiền nhân. “Thế” không chỉ là địa vị, quyền hành của vua mà còn
[5]
.
Nội dung đạo đức của Nho gia là luân thường, xoay quanh năm mối quan hệ nền
tảng của xã hội (luân): vua tôi, cha con, chồng vợ, anh em, bạn bè và năm chuẩn
mực đạo đức cá nhân (thường): nhân, nghĩa, lễ, trí, tín. Đó là những tiền đề để thực
hiện thuyết chính danh, làm cho xã hội được ổn định, trật tự.
+ Pháp gia: nội dung cơ bản trong tư tưởng triết học Pháp gia là pháp trị. Pháp
gia coi pháp luật là công cụ hữu hiệu để đem lại hoà bình, ổn định và công bằng, do
đó Pháp gia đã đề xuất tư tưởng dùng luật pháp để trị nước.
Sở dĩ tư tưởng của Hàn Phi đối lập với tư tưởng Nho gia là bởi ông có một quan
niệm hết sức sâu sắc về thực tiễn. Khác với Khổng-Mạnh lấy cái quá khứ được tuyệt
Tiểu luận Triết học
GVHD: TS. Bùi Văn Mưa
8
HVTH: Huỳnh Thiên Thảo
đối hóa để đo hiện tại, Hàn Phi cho rằng: mọi suy nghĩ, hành động, lý luận phải đều
được bắt nguồn từ chính thực tiễn của đất nước. Then chốt của việc xây dựng đất
nước giàu mạnh là phải dựa vào pháp luật. Pháp luật được thi hành một cách phổ
quát và đúng đắn thì xã hội mới ổn định, xã hội ổn định lại là tiền đề quan trọng để
xây dựng đất nước giàu mạnh, làm cho dân chúng được yên bình, hạnh phúc.
[6]
3.2 Ý thức về sự vận động của xã hội:
+ Nho gia: Nho gia cho rằng vạn vật không ngừng biến đổi theo một trật tự
không gì cưỡng lại được, mà nền tảng tận cùng của nó là thiên mệnh.
Xuất phát từ thiên mệnh, nho gia tìm kiếm sự thống nhất giữa trời, đất, người và
vạn vật, đặc biệt là trên bình diện đạo đức-chính trị-xã hội, chứ không để ý đến khía
cạnh sinh học-tự nhiên trong con người.
tránh phạm pháp; lấy pháp luật làm chuẩn tắc cho hành vi của dân.
3.4 Quan điểm chính trị:
+ Nho gia: Nho gia kiên trì vương đạo và chủ trương “lễ trị” (cai trị bằng luân
lý, chuẩn mực, quy phạm đạo đức) hay “nhân trị” (cai trị bằng tình người, bằng sự
yêu người).
“Lễ” là một trong những phạm trù lớn và cơ bản của Nho gia, được hiểu theo
hai nghĩa:
-Hiểu theo nghĩa rộng là những phong tục tập quán, lễ nghi, nghi thức, quy chế,
kỷ cương, trật tự, tôn ti của cuộc sống chung trong cộng đồng xã hội và cả lối cư xử
hàng ngày. Với nghĩa này, lễ là cơ sở của xã hội có tổ chức bảo đảm cho sự phân
định trên dưới rõ ràng, không bị xáo trộn, đồng thời nhằm ngăn ngừa những hành vi
và tình cảm cá nhân thái quá.
-Hiểu theo nghĩa một đức trong “ngũ thường” thì là ý thức, thái độ, hành vi ứng
xử, nếp sống của mỗi con người trong sự thực hành những lễ nghi, nghi thức, giáo
huấn, kỷ cương do Nho gia đề ra.
“Lễ” với những cách hiểu trên là cơ sở, là công cụ chính trị, là vũ khí của một
phương pháp trị nước, trị dân lâu đời của Nho gia. “Lễ trị” có thể đưa tất cả hoạt
động vào nề nếp, có thể ngăn chặn mọi lỗi lầm sắp xảy ra.
[2,
tr43]
“Nhân trị” phát sinh từ học phái Nho gia được hiểu là sự cai trị đất nước đặt trên
cơ sở bản thân nhà cầm quyền; sự hưng suy của xã hội đều do nơi giá trị bản thân
của những người cầm quyền mà ra và vấn đề cốt lõi tập trung ở chỗ làm sao cho
người cai trị có đủ tài đức, nghĩa là bên cạnh khả năng, nhà cầm quyền cần phải có
đủ đức hạnh. Thuyết nhân trị còn được hiểu là cách cai trị, theo đó, nhà cầm quyền
phải lấy đạo đức mà giáo hóa, dẫn dắt dân chúng chứ không phải dùng dến cưỡng
chế, trừng phạt.
[1,
Ông tin chắc rằng, nền tảng của việc cai trị đất nước chính là tự chế ước bản thân.
Một vị quân chủ cao quý nắm giữ chính quyền sẽ tự nhiên mang lại hòa bình và ổn
định cho đất nước. Theo ông, tiền đề quyết định sự thành bại trong việc trị nước
chính là đức hạnh của nhà vua đang trị vì. Đức hạnh đó được gọi là “nhân” và đạt
được qua “lễ”.
[6]
+ Pháp gia: Hàn Phi quan niệm nhà vua cũng chỉ là người bình thường như bao
người khác. Cái làm cho đất nước trị hay loạn không phải là ông vua của nước đó ra
sao, mà là nền pháp trị của nước đó như thế nào. Pháp gia không chú trọng nhiều
đến việc tu nhân của người cầm quyền.
Tiểu luận Triết học
GVHD: TS. Bùi Văn Mưa
11
HVTH: Huỳnh Thiên Thảo
Hàn Phi chủ trương pháp trị, song cũng rất chú trọng đến “thuật” của nhà vua,
bởi vì theo ông, bầy tôi đối với nhà vua không phải có tình thân cốt nhục, chỉ vì bị
tình thế buộc không thể không thờ. Nhà vua dựa vào pháp trị để làm cho đất nước
giàu mạnh. Do vậy, nhà vua phải có “thuật” để dùng người. Đối với Hàn Phi,
“thuật” chính là một loạt các phương pháp bổ nhiệm, miễn nhiệm, thi cử, thưởng
phạt của nhà vua. Trong đó, phép hình danh là một thuật không thể thiếu được của
bậc quân chủ. Với cách nhìn như vậy thì “pháp” và “thuật” gắn bó chặt chẽ với
nhau, đó đều là những “công cụ của bậc đế vương”.
Ngoài “pháp” và “thuật”, Hàn Phi đặc biệt coi trọng “thế”. “Thế” chỉ một sức
mạnh quyền uy tuyệt đối, cũng chính là quyền thống trị tối cao của vua. “Thế” có vị
trí quan trọng đến mức có thể thay thế được hiền nhân. Hàn Phi cho rằng, chỉ khi
nào nắm quyền thống trị trong tay, thì một người nào đấy mới là kẻ thống trị, mới có
thể cai trị dân chúng. Theo ông: “Cái thế là cơ sở để thắng đám đông”. Để yên ổn trị
cũng đã từng chủ trương "Tiên phú hậu giáo", nhưng thật sự thì chữ "phú” đó chỉ
chiếm một tỉ số rất nhỏ trong nấc thang giá trị của Nho gia. Đến Mạnh Tử thì lại
càng coi trọng nhân nghĩa hơn phú cường.
Để đạt tới mục tiêu phú cường của mình, Hàn Phi chủ trương áp dụng chính sách
"Canh chiến", đưa hết trăm họ vào hệ thống tổ chức "Canh chiến". Được như vậy thì
vào thời bình, nhân dân sẽ nỗ lực canh tác, làm cho nước giàu, nhờ có pháp lệnh
khuyến khích; một khi xảy ra chiến tranh, thì khối nông dân đã được tổ chức sẵn
trong thời bình, đều trở thành lính chiến, có thể đưa ngay ra chiến trường chống
giặc. Như vậy, ngoài việc Pháp gia rất chú trọng phát triển nông nghiệp, tích trữ
lương thực và của cải làm cho đời sống của xã hội no đủ, đất nước giàu mạnh thì
Pháp gia còn hết sức coi trọng việc xây dựng quân đội hùng mạnh.
Chƣơng IV: SỰ TƢƠNG ĐỒNG GIỮA HAI TRƢỜNG PHÁI TRIẾT HỌC
Ngoài những đặc điểm khác biệt trên, triết học Nho gia và Pháp gia cũng có
những nét tương đồng như sau:
+ Nho gia và Pháp gia đều thực hiện “thuyết chính danh”. Muốn xã hội có trật
tự thì mọi người phải thực hiện đúng danh phận của mình.
Khổng tử đã nêu ra tư tưởng chính danh (danh nghĩa là tên gọi, danh phận, địa
vị; chính có nghĩa là đúng, là chấn chỉnh lại cho đúng tên gọi và danh phận). Do đó,
chính danh là làm cho mọi người ai ở địa vị nào, danh phận nào thì giữ đúng vị trí
và danh phận của mình, cũng không dành vị trí của người khác, không lấn vượt và
làm rối loạn
[4]
. Để xã hội ổn định thì mọi người cần làm đúng danh phận. Riêng đối
với người cầm quyền vua- thiên tử được thay trời cai trị thì càng phải làm đúng danh
của mình, như vậy mọi người mới noi theo. Đặc biệt, trong việc chính sự (việc
Tiểu luận Triết học
GVHD: TS. Bùi Văn Mưa
quyền phong kiến thống nhất.
Tiểu luận Triết học
GVHD: TS. Bùi Văn Mưa
14
HVTH: Huỳnh Thiên Thảo
Chƣơng V: HẠN CHẾ CỦA TRIẾT HỌC NHO GIA VÀ PHÁP GIA
Bên cạnh những mặt tích cực thì trong tư tưởng triết học Nho gia và Pháp gia
cũng còn có những hạn chế:
+ Nho gia:
Việc đào tạo con người theo “lễ” mang tính khắt khe đã gò bó, trói buộc con
người, thủ tiêu tính năng động sáng tạo của cá nhân, làm cho con người thụ động và
do đó xã hội trì trệ.
Ý nghĩa tích cực của tư tưởng chính danh là làm cho con người ý thức được trách
nhiệm, nghĩa vụ của mình một cách rõ ràng trong các mối quan hệ xã hội. Tuy
nhiên, tư tưởng này cũng kìm hãm tự do của nhân cách tới mức không chấp nhận bất
kì sáng kiến nào của con người, làm cho con người luôn ở trạng thái nhu thuận, chỉ
biết phục tùng theo danh phận đã được định trước.
Bên cạnh đó những tư tưởng của Nho gia còn có một số hạn chế đó là ủng hộ lối
sống gia trưởng trong gia đình, tư tưởng trọng nam khinh nữ, phân biệt giai cấp.
+ Pháp gia:
Pháp gia chủ trương lấy pháp luật làm căn bản trong việc cai trị đất nước. Trên
thực tế, sau khi sử dụng hệ thống pháp trị, nhà Tần đã trở nên hùng mạnh và thu
phục được các nước còn lại, thống nhất Trung Quốc, mở ra một trang sử mới cho
dân tộc Trung Hoa. Song, sang đến đời Hán, Nho gia đã hưng thịnh trở lại, Pháp gia
cùng hệ thống pháp trị nhanh chóng mất đi chỗ đứng của mình. Sỡ dĩ Pháp gia thất
con người mới “xứng tầm thời đại”, đáp ứng yêu cầu đổi mới toàn diện đất nước của
Đảng ta hôm nay.
Những tư tưởng về pháp trị của Pháp gia đã có những đóng góp to lớn cho sự
phát triển của tư tưởng Trung Hoa cổ đại và quan trọng nhất là cho sự nghiệp thống
nhất đất nước Trung Hoa lúc bấy giờ. Mặc dù Pháp gia chỉ tồn tại một thời gian
ngắn trong lịch sử Trung Hoa do có nhiều điểm hạn chế nhưng tư tưởng Pháp gia
vẫn còn nhiều yếu tố tích cực (như việc xây dựng pháp luật phải nghiêm minh, công
bằng, khách quan) có giá trị và có thể vận dụng trong xây dựng nhà nước pháp
quyền Xã hội chủ nghĩa ở nước ta hiện nay.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
[1] Trường ĐH Kinh Tế TP.HCM - Khoa Lý luận chính trị - Tiểu ban Triết học,
Triết học (phần I) dùng cho học viên cao học và nghiên cứu sinh không thuộc
chuyên ngành triết học, LHNB Trường Đại học Kinh Tế TP.HCM, 2011
[2] Bộ Giáo dục và Đào tạo, Giáo trình Triết học Mác-Lênin (dùng trong các trường
đại học và cao đẳng), NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2006
[3] Nguyễn Thị Kim Bình, Tư tưởng trị nước của Pháp gia và vai trò của nó trong
lịch sử, Tạp chí Khoa học và Công nghệ, Đại học Đà Nẵng – Số 3 (26), 2008
[4] Nguyễn Thị Thanh Mai, Tư tưởng đạo đức Nho giáo và ảnh hưởng của nó ở
nước ta hiện nay, Tạp chí Nghiên cứu văn hóa, Đại học Văn hóa Hà Nội – Số 2
[5] Nguyễn Thị Thanh Mai, Về vấn đề đào tạo con người của Nho giáo và sự vận
dụng của Hồ Chí Minh, Tạp chí Nghiên cứu văn hóa, Đại học Văn hóa Hà Nội – Số
4
[6] Nguyễn Tài Đông, Tư tưởng Pháp trị của Hàn Phi, Viện Triết Học
[7]
[8] />triet-hoc-nho-gia-ve-chinh-tri-dao-duc.html
MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU 1
Chƣơng I: HOÀN CẢNH RA ĐỜI CỦA TRIẾT HỌC NHO GIA VÀ PHÁP GIA 3
1.1 Nho gia 3