BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP. HCM
PHÒNG QUẢN LÝ ĐÀO TẠO SAU ĐẠI HỌC
Tiểu Luận Triết Học
Đề tài số 05
SỰ TƯƠNG ĐỒNG VÀ KHÁC BIỆT GIỮA
NHO GIA VÀ PHÁP GIA
HVTH : ĐỖ DIỆU THÚY
Stt : 65
Nhóm : 07
Lớp : Cao học ngày 4 – K22
GVHD : TS. Bùi Văn Mưa
Tp HCM, Tháng 12 năm 2012
ĐỖ DIỆU THÚY TRANG 1
NHẬN XÉT CỦA GIÁO VIÊN HƯỚNG DẪN
…………………………………………………………………
…………………………………………………………………
…………………………………………………………………
…………………………………………………………………
…………………………………………………………………
…………………………………………………………………
…………………………………………………………………
…………………………………………………………………
…………………………………………………………………
…………………………………………………………………
…………………………………………………………………
…………………………………………………………………
…………………………………………………………………
…………………………………………………………………
Chính vì thế, việc tìm hiểu tư tưởng Triết học của Nho gia – Đạo gia và những ảnh
hưởng của của nó đến xã hội Việt Nam là một việc cần thiết để lý giải những đặc trưng
của Triết học Phương Đông, qua đó hiểu biết thêm về sự phát triển tư tưởng của Việt
Nam.
Do vậy, em xin chọn đề tài : ‘Sự tương đồng và khác biệt giữa Nho gia và Đạo
gia’ để thực hiện tiểu luận môn Triết Học.
CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN.
1. Triết học Nho gia thời Trung Quốc cổ đại.
1.1 Hoàn cảnh ra đời và phát triển:
Trong lịch sử Trung Hoa cổ đại, Nho gia là một thuật ngữ bắt đầu từ chữ Nho,
theo Hán tự từ “Nho” gồm từ “Nhân” đứng gần chữ “Nhu”. Nho gia còn được gọi là
nhà Nho người đã học sách thánh hiền được thiên hạ cần để dạy bảo người đời ăn ở hợp
luân thường, đạo lý…Nhìn chung “Nho” là một danh hiệu chỉ người có học thức, biết lễ
nghĩa.
Cơ sở của Nho giáo được hình thành từ thời Tây Chu, đặc biệt với sự đóng góp
của Chu Công Đán, còn gọi là Chu Công. Đến thời Xuân Thu, xã hội loạn lạc, Đức
Khổng Tử (sinh năm 551 trước công nguyên) phát triển tư tưởng của Chu Công, hệ
thống hóa và tích cực truyền bá các tư tưởng đó. Chính vì thế mà người đời sau coi ngài
là người sáng lập ra Nho giáo. Ông coi hoạt động đạo đức là nền tảng xã hội, là công cụ
để hoàn thiện xã hội và hoàn thiện nhân cách cá nhân cho con người. Đến thời Chiến
Quốc, do bất đồng về bản tính con người mà nho gia bị chia thành 8 phái trong đó có
phái của Tuân Tử và Mạnh Tử là mạnh nhất. Mạnh Tử có đóng góp đáng kể trong sự
phát triển của Nho gia nguyên thủy.
Sang thời Tây Hán, Đổng Trọng Thư (179-104 TCN) đã dựa trên lợi ích giai cấp
phong kiến thống trị, khai thác lý luận âm dương – ngũ hành, đưa ra thuyết trời sinh
van vật, con người và thiên nhiên cảm ứng để hoàn chỉnh thêm Nho gia trong việc giải
thích vạn vật, con người và xã hội. Những quan điểm này nhanh chóng trở thành tiêu
chuẩn đạo đức và nền tảng tư tưởng xã hội của giai đoạn phong kiến Trung Quốc lúc
bấy giờ. Không những vậy Nho gia trong giai đoạn này còn mở rộng thành một hệ
thống niềm tin, tín ngưỡng – nghi thức được phổ biến trong toàn xã hội.
thân". Sau khi tu thân xong, người quân tử phải có bổn phận phải "hành đạo" (Đạo
không đơn giản chỉ là đạo lí. Đạo ở đây là con đường để hoàn thiện chính mình, hoà
hợp đất trời trở về bản ngã “bổn thiện”).
Trong cuốn Đại học (Một trong Tứ Thư, những cuốn sách chính của Nho giáo) có
ghi chép: “Khi bản thân tu luyện, gia tộc hài hòa. Khi gia tộc hài hòa, đất nước mới
ĐỖ DIỆU THÚY TRANG 5
được thịnh trị. Khi đất nước được thịnh trị, khắp nơi sẽ thái bình. Từ bậc quân vương
cho đến kẻ dân thường trăm họ, tất cả phải coi tu luyện bản thân là điều quan trọng
nhất”. Thuyết về quản lý thế giới và làm lợi cho dân của Nho giáo là một phần của văn
hóa Trung Quốc truyền thống vốn rất sâu sắc. Nó đã tự thiết lập cho mình những lý
tưởng về đạo đức và hệ thống tiêu chuẩn giá trị mà đã đặt định ra nền tảng cho cả xã
hội Trung Quốc trong hàng ngàn năm. Nó giúp gìn giữ các tiêu chuẩn đạo đức của xã
hội ở một mức khá cao.
Nho gia nguyên thủy cho rằng, nền tảng của gia đình – xã hội là những quan hệ
đạo đức – chính trị, đặc biệt là ba quan hệ tam cương đó là: vua – tôi, cha – con, chống
– vợ. Vua – tôi biểu hiện bằng đức trung, Cha – con biểu hiện bằng đức hiếu, Giữa
trung và hiếu thì trung đứng đầu. Các quan hệ này nho gia gọi là đạo. Khi các quan hệ
này chính danh thì xã hội ổn định, gia đình yên vui. Và ngược lại, nếu xảy ra bất ổn xã
hội để chấn chỉnh lại ba mối quan hệ này thì nho gia lấy giáo dục đạo đức làm cứu
cánh.
Khổng Tử dạy: "Con người nếu không hiếu cha mẹ, không kính tổ tiên thì bất cứ
việc xấu nào họ cũng dám làm. Một người hiếu cha mẹ, kính tổ tiên thì không những là
lời nói việc làm mà khởi tâm động niệm họ đều nghĩ rằng, nếu như việc này ta làm mà
không đúng pháp thì có lỗi với cha mẹ, làm nhục tổ tiên thì họ sẽ không dám làm."
Khổng Tử đã xây dựng thuyết thiên mệnh để làm chỗ dựa vững chắc cho lý luận
đạo đức của mình. Dựa trên thuyết thiên mệnh, Khổng Tử cho rằng: Thiên mệnh chi vị
tính, xuất tính chi vị đạo, tu đạo chi vị giáo và tính tương cẩn, tập tương viễn. Ông cho
rằng, nếu lập đạo của trời, nói về âm và dương; lập đạo của đất, nói về cương và nhu;
thì lập đạo của người , phái nói về nhân và nghĩa.
Đức Khổng Tử nêu lên ngũ luân với thuyết chính danh và chữ “Nhân” để làm
Khổng Tử nói: "Người quân tử sợ ba điều: sợ mệnh trời, sợ bậc đại nhân, sợ
lời nói của thánh nhân. Kẻ tiểu nhân không biết mệnh trời, nên không sợ, (mà còn)
khinh nhờn bậc đại nhân, giễu cợt lời nói của thánh nhân. Người quân tử ung dung mà
không kiêu căng, kẻ tiểu nhân kiêu căng mà không ung dung”.
Trong tu thân, sự học là rất quan trọng. Khổng Tử nói: “Ta đi học là học cho
ta, để gây cái phẩm giá của ta, chứ không phải là để khoe với người. Ta chỉ lo không
làm được những việc đáng cho người ta biết, chứ không lo người ta không biết mình”.
“Muốn nhân mà không muốn học thì bị cái che mờ là ngu, muốn trí mà không muốn
học thì bị cái che mờ là cao kỳ, muốn tín mà không muốn học thì bị cái che mờ là hại
ĐỖ DIỆU THÚY TRANG 7
nghĩa, muốn trực mà không muốn học thì bị cái che mờ là ngang ngạnh, muốn dũng mà
không muốn học thì bị cái che mờ là loạn, muốn cương mà không muốn học thì bị cái
che mờ là táo bạo khinh suất”.
Muốn trở lại người có "lễ" thì phải học mà học thì phải thông qua chữ Văn. "Văn"
ấy có thể đã thành vǎn và cũng rất có thể đang ở dạng truyền ngôn, bất thành văn. Do
đó vai trò của người thầy là rất quan trọng, đặc biệt là ở tư cách đạo đức.
2. Triết học Pháp gia thời Trung Quốc cổ đại.
1.1Hoàn cảnh ra đời và phát triển:
Quản Trọng (Thế kỷ VI TCN) là người đầu tiên bàn về vai trò của pháp luật
như là phương cách trị nước. Đối với ông, người trị nước phải coi trọng luật, lệnh, hình,
chính.Ông được xem là người khới xướng Pháp gia và cũng chính là cầu nối giữa Nho
gia và Pháp gia.
Sau Quản Trọng là Thân Bất Hại (401-337 TCN), Ông đưa ra chỉ trương ly
khai “Đạo đức”, chống “Lễ” và đề cao “Thuật” trong phép trị nước.
Thêm đại biểu nữa của triết học Pháp gia là Thương Ưởng (390-338 TCN) và
Thận Đáo (370-290 TCN). Trong phép trị nước Thương Ưởng đề cao “Pháp” theo
nguyên tắc “Dĩ hình khử hình” (dùng hình phạt để trừ bỏ hình phạt).Còn Thận Đáo là
người nước Triệu và chịu ảnh hưởng triết học về đạo của Lão Tử, nhưng về chính trị
ông lại đề xướng đường lối trị nước bằng tư tưởng pháp trị và đặc biệt là ông chủ
trưởng dùng thuật. Thận Đáo cho rằng Pháp luật phải khách quan như vật “vô vi” và
nào). Hơn nữa, hệ thống luật pháp cai quản đất nước, chứ không phải là nhà vua cai trị.
Nếu có thể làm cho pháp luật có hiệu lực, thậm chí một vị vua kém tài cũng trở nên
mạnh mẽ.
Thuật (術 shù): phương pháp, thủ đoạn hay nghệ thuật. Những thủ đoạn
đặc biệt và “bí mật” được vị vua cai trị dùng để đảm bảo rằng những người khác (quan
lại ) không thể chiếm quyền kiểm soát quốc gia. Điều đặc biệt quan trọng là không
một ai có thể biết được những động cơ thực sự của những hành động của nhà vua, và vì
thế không ai biết được cách đối xử thế nào để có thể tiến thân, ngoại trừ việc tuân theo
“pháp” hay các luật lệ.
Thế (勢 shì): tính chính thống, quyền lực hay uy tín. Chính vị trí của
nhà vua cai trị, chứ không phải nhà vua, nắm giữ quyền lực. Vì thế việc phân tích
ĐỖ DIỆU THÚY TRANG 9
khuynh hướng, hoàn cảnh và những yếu tố thực tại là điều căn bản của một vị vua cai
trị thực sự.
Hình phạt: Theo Pháp gia hình phạt nghiêm khắc để chữa cái loạn của
dân chúng, trừ bỏ cái họa trong thiên hạ. Khiến cho kẻ mạnh không lấn át người yếu, kẻ
đông không xúc phạm số ít, người già cả được thỏa lòng, người trẻ và cô độc được
trưởng thành, biên giới không bị xâm lấn, vua và tôi thân yêu nhau, cha con giữ gìn cho
nhau”.
Nông nghiệp và chiến tranh: Hàn Phi coi phú cường là mục tiêu tối cao
của quốc gia. Để đạt tới mục tiêu phú cường đó, Hàn Phi chủ trương áp dụng chính
sách "Canh chiến", đưa hết trăm họ vào hệ thống tổ chức "Canh chiến". Được như vậy
thì vào thời bình, nhân dân sẽ nỗ lực canh tác, làm cho nước giàu, nhờ có pháp lệnh
khuyến khích; một khi xây ra chiến tranh, thì khối nông dân đã được tổ chức sẵn trong
thời bình, đều trở thành lính chiến, có thể đưa ngay ra chiến trường chống giặc.
ĐỖ DIỆU THÚY TRANG 10
CHƯƠNG II: SỰ TƯƠNG ĐỒNG VÀ KHÁC BIỆT
GIỮA NHO GIA VÀ PHÁP GIA
1. Sự tương đồng :
Qua tìm hiểu ở phần cơ sở lý luận ta nhận thấy có những điểm tương đồng giữa Nho
Dựa vào cở sở lý luận đã nêu ở chương 1, ta nhận thấy sự khác biệt giữa Nho gia
và Pháp gia:
Sự khác
biệt
Nho gia Pháp gia
Thuyết
trị quốc
Quan điểm Khổng Tử phản đối
việc nhà cầm quyền dùng luật
pháp, hình phạt để cai trị dân. Ông
đề cao đức trị. Ông cho rằng,
nguyên nhân làm cho xã hội loạn
lạc, dân tình khổ sở là do không
“chính danh”, muốn xã hội ổn định
và phát triển thì phải giáo hoá đạo
đức và thực hiện “chính danh, định
phận”. “Chính danh, định phận” là
làm mọi việc cho ngay thẳng,
người nào có địa vị, bổn phận
chính đáng của người ấy cứ thế mà
làm, trên dưới, vua tôi, cha con,
chồng vợ trật tự được phân minh,
“Vua cho ra vua, tôi cho ra tôi, cha
cho ra cha, con cho ra con” (Luận
ngữ, Nhan Uyên, 11). Ông nói:“nếu
không chính danh thì lời nói sẽ
không đúng đắn, lời nói không
đúng đắn sẽ dẫn đến việc thi hành
sai… Cho nên nhà cầm quyền xưng
danh thì đúng với phận, với nghĩa,
(Tôn quân quyền). Theo Hàn Phi
Tử, thế quan trọng đến mức có thể
thay thế vai trò của bậc hiền nhân.
Muốn thi hành được “pháp” thì
phải có “thế”. Pháp và thế không
ĐỖ DIỆU THÚY TRANG 12
dân có thể tránh được tội lỗi nhưng
không biết liêm sỉ. Cai trị dân mà
dùng đạo đức, đưa dân vào khuôn
phép mà dùng lễ thì dân sẽ biết
liêm sỉ và thực lòng quy phục. Nội
dung đường lối đức trị là thực hiện
3 điều: dân đông, kinh tế phát triển,
dân được học hành. Biện pháp để
thi hành là: thận trọng trong công
việc, gìn giữ chữ tín, tiết kiệm
trong tiêu dùng, thương người, sử
dụng sức dân hợp lý… Để xây
dựng xã hội đại đồng, cần dựa vào
sự nghiệp giáo dục để uốn nắn
nhân cách, bồi dưỡng đào tạo nhân
tài theo hai phương châm: tiên học
lễ, hậu học văn và học đi đôi với
hành, học để vận dụng vào thực tế.
Để học tốt, người học trò phải có
tinh thần khiêm tốn và cầu tiến, biết
suy tư và luôn tích cực trong học
tập… Mạnh Tử chủ trương thực
hành đường lối đức trị dựa trên tinh
thần quý dân (Dân vi quý, xã tắc
chính trị – xã hội có quan hệ chặt
chẽ với nhau.
Chính trị
xã hội
Khổng Tử – người sáng lập Nho
gia, đã làm hết sức nhằm mục đích
cho người quân tử cai trị đất nước.
Ông tin chắc rằng, nền tảng của
việc cai trị đất nước chính là tự chế
ước bản thân. Một vị quân chủ cao
quý nắm giữ chính quyền sẽ tự
nhiên mang lại hòa bình và ổn định
cho đất nước. Khổng Tử đã từng
nói: “Bản thân mà chính đáng, dù
không cần mệnh lệnh thì (người
khác) cũng thi hành; còn nếu bản
thân không chính đáng, dù có mệnh
lệnh thì (người khác) cũng không
tuân theo” (Kỳ thân chính, bất lệnh
nhi hành; kỳ thân bất chính, tuy
lệnh bất tòng. Luận Ngữ. Tử Lộ).
Mặc dù không yêu cầu mọi ông vua
đều phải như Nghiêu Thuấn –
thánh hiền mang tính lý tưởng,
song theo ông, tiền đề quyết định
sự thành bại trong việc trị nước
chính là đức hạnh của nhà vua đang
trị vì. Đức hạnh đó được gọi là
“nhân” và đạt được qua “lễ” (chế
ước bản thân quay về với điều lễ là
tham nghiệm được mà lại quyết
định ngay thì đó là ngu. Nếu không
thể quyết định được mà lại theo
ngay thì đó là dối trá. Cho nên
chuyện nêu cao các tiên vương,
quyết định theo Nghiêu và Thuấn
nếu như không phải là ngu thì cũng
là dối trá vậy. Cái học ngu và dối
trá, cái hành động bác tạp và trái
pháp luật này vị vua sáng không
theo” [1, 561]. Các nhà Nho luôn
muốn thần thánh hóa bậc quân chủ,
song để pháp luật có được tính phổ
quát nhất định, hay nói cách khác,
để có được một nền pháp trị, Pháp
gia nói chung và Hàn Phi Tử nói
riêng đã tước bỏ ý nghĩa thần thánh
mà những kẻ cai trị luôn muốn tự
khoác lên mình.
Hàn Phi Tử quan niệm nhà
vua cũng chỉ là người bình thường
như bao người khác. Cái làm cho
ĐỖ DIỆU THÚY TRANG 14
đất nước trị hay loạn không phải là
ông vua của nước đó ra sao, mà là
nền pháp trị của nước đó như thế
nào. Hàn Phi Tử quan niệm pháp
luật là công cụ hữu hiệu nhất để
đem lại hòa bình, ổn định và công
bằng: “Bậc thánh nhân hiểu rõ cái
chiều đến, thế nào cũng trở về nhà
ăn cơm. Cơm đất, canh bùn có thể
đùa để chơi, nhưng không thể dùng
để ăn. Khen những điều truyền tụng
từ thượng cổ, hùng biện mà không
chắc chắn, nói chuyện nhân nghĩa
ĐỖ DIỆU THÚY TRANG 15
của các tiên vương mà không biết
sửa đổi nước, thì đó cũng đều là
những điều có thể dùng để đùa chơi
chứ không dùng để trị nước” [4,
327].
Hàn Phi Tử phê phán một
cách gay gắt những người hủ Nho,
coi đó là “bọn học giả dốt nát ở đời
không biết bản chất của việc trị và
loạn, cứ nói năng nhảm nhí và dẫn
những sách của người xưa để làm
rối việc cai trị ở đời này Nếu
nghe lời họ thì nguy, nếu dùng kế
họ thì loạn. Đó là điều ngu hết sức
lớn và là mối lo hết sức lớn” [4,
129].
Hàn Phi Tử hiểu rất rõ và sâu sắc
về pháp luật, coi “pháp luật là
mệnh lệnh ban bố rõ ràng ở nơi cửa
công, hình phạt chắc chắn đối với
lòng dân, thưởng cho những kẻ cẩn
thận giữ pháp luật, nhưng phạt
những kẻ làm trái lệnh” [1, 478-
lực lượng sinh ra thế giới và con
người, nên trời đóng vai trò chi
phối toàn bộ những gì vận động
xung quanh con người, lương tri,
lương năng của con người cũng do
trời phú mà có nên con người phải
biết kính trời, luôn suy nghĩ và
hành động theo ý trời.
Học thuyết Khổng Tử bắt nguồn
từ cơ sở tự nhiên vốn có, để rồi nối
tiếp và nâng cao nó lên. Trên trời
chỉ có một mặt trời và dưới đất
cũng chỉ có một ông vua mà thôi.
Bởi vậy mà Đổng Trọng Thư đã
nói một câu lừng danh: Thiên bất
biến, Đạo diệc bất biến (Trời không
thay đổi thì đạo cũng không thay
đổi). Khổng Tử dựa vào ba luận
điểm: Thuyết thiên mệnh, Lễ giáo
và thuyết chính danh
Thuyết thiên mệnh: Trời có một
sức mạnh siêu nhiên, mà con người
từ lâu vốn đã tin ở sức mạnh siêu
nhiên cho nên con người cúi đầu
trước Trời thì không thể không cúi
đầu trước con trời (Thiên tử)
Lễ giáo là biểu hiện sự thần phục
của con người trước siêu nhiên.
Con người một khi đã thần phục
trước siêu nhiên thì cũng không
Danh.
Về quan
niệm đạo
đức con
người
Nho gia thể hiện tính nhân bản sâu
sắc trong những quan niệm về đạo
đức con người. Họ xét đạo đức con
người dựa trên hệ thống các phạm
trù như : nhân, nghĩa, lễ, trí, tín,
dũng… Với nhân và nghĩa là quan
niệm trung tâm của đạo đức Nho
gia. Nhân là cách đối xử của con
người với con người, để tạo ra
người. Theo Khổng Tử, nhân đó là
lòng thương người (ái nhân), còn
Mạnh Tử cho rằng nhân đó là lòng
trắc ẩn. Nghĩa được hiểu là những
gì hợp đạo lý mà con người phải
làm, bất kể điều đó có đem lại lợi
ích gì cho người thực hiện việc làm
đó hay không (p59&60). Theo Nho
gia thì đạo đức là phương tiện chủ
yếu để cai trị đất nước, là điều kiện
quan trọng để hình thành và hoàn
thiện con người góp phần củng cố
và duy trì trật tự xã hội. (p64).
Pháp gia thừa nhận bản tính con
người là ác mà không xem xét vấn
đề đạo đức con người dựa trên các
dùng đến biện pháp cưỡng chế và
hình phạt như phái Pháp gia (p64).
Từ việc thừa nhận bản tính con
người là ác nên quan điểm về giáo
dục con người của phái Pháp gia
mang tính hà khắc. Thể hiện ở
thuyết Pháp trị qua ba quan điểm
Pháp, Thế, Thuật:
Pháp được hiểu là những qui định
có tính chất khuôn mẫu mà mọi
người trong xã hội phải tuân theo.
Thế được hiểu là địa vị, thế lực,
quyền uy của người cầm đầu chính
thể. Muốn thi hành được Pháp thì
phải có Thế.
Thuật được hiểu là phương pháp,
thủ thuật, cách thức, mưu lược điều
khiển việc, khiến người ta triệt để
thực hiện các mệnh lệnh mà không
hiểu người sai dùng họ như thế nào.
Thuật bao gồm ba mặt là bổ nhiệm,
khảo hạch và thưởng phạt (p75)
Về xây
dựng con
người
-Nho gia quan niệm xây dựng con
người theo chuẩn mực đạo đức, đó
là tiêu chuẩn của người quân tử :
muốn trở thành người quân tử phải
tu thân. Để tu thân phải đạt đạo (là
sau:
+ Vua : mang phẩm chất của người
cai trị, phải là người quân tử, không
thể là dân võ biền mà phải là người
có vốn văn hóa toàn diện. Vua phải
hiểu và thực hành đạo đức, khi đó
trên dưới sẽ hòa mục.
hiểu những nguyên tắc pháp trị, và
chịu khép mình trong những
nguyên tắc đó. Người cai trị phải
đặt ra hệ thống luật pháp một cách
rõ ràng, ban bố rộng rãi cho mọi
người cùng biết để tuân theo.
+ Tầng lớp nhân dân : hiểu rõ và
thực thi nghiêm chỉnh luật pháp đã
định.
Hàn Phi Tử đòi hỏi vua phải dùng
Pháp như trời (nghiêm minh, không
vị nể), dùng Thuật như quỷ (linh
động, uyển chuyển). Nghĩa là nếu
như Pháp được công bố rộng rãi
trong nhân dân, bắt buộc họ phải
tuân theo thì thuật là cơ trí ngầm, là
thủ đoạn của vua được dấu kín.
Nhờ Thuật mà vua chọn được
người tài năng, trao đúng chức vụ
quyền hạn và loại được kẻ bất tài
(p75&76).
ĐỖ DIỆU THÚY TRANG 20
+Tầng lớp nhân dân : lấy hiếu, đễ
đối với Pháp gia, buộc tội nó là một xã hội mà ngày nay chúng ta gọi là xã hội chuyên
chế. Nhiều học giả Trung quốc tin rằng chính một phản ứng chống lại pháp gia đã làm
cho chính trị đế quốc Trung Quốc mang nhiều đặc tính cá nhân và đạo đức hơn là sự
nhấn mạnh vào sự cai trị của pháp luật. Tuy nhiên, quan điểm này về nhà Tần có thể là
có thành kiến, bởi vì đa số các sách sử Trung Quốc đều do các học giả Khổng giáo viết
ra, mà những nhà nho Khổng giáo lại bị đàn áp ở thời Tần.
Tuy có những mặt hạn chế nhưng ta nhận thấy cả hai đều hướng việc xây dựng
một xã hội tốt đẹp trên cơ sở những triết lý về con người, cách đối nhân và xử thế giữa
người với người. Tuy vậy, hai triết lý trên giải quyết cùng một vấn đền dựa trên hai
quan điểm khác nhau. Nho gia thì hướng đến đức trị còn Pháp gia thì hướng đến pháp
trị. Nho gia cho rằng để xây dựng một xã hội phồn vinh thì cần phải giáo dụng con
người sao có nhân, nghĩa, lễ, trí, tín, dũng… Trong khi đó, Pháp gia hướng đến việc
xây dựng một hệ thống luật lệ có thưởng phạt nghiêm minh.
CHƯƠNG III: MỞ RỘNG VÀ KẾT LUẬN
ĐỖ DIỆU THÚY TRANG 22
1. Ảnh hưởng tích cực và tiêu cực của Nho gia đối với xã hội Việt Nam:
Tích cực:
Nho gia chiếm được vị trí chủ đạo trên vòm trời tư tưởng của chế độ phong
kiến Việt Nam, Nó làm cho sản xuất nông nghiệp và trao đổi hàng hoá được đẩy mạnh
hơn trước.
Nho gia đem lại một bước tiến khá căn bản trong lĩnh vực văn hoá tinh thần của xã
hội phong kiến nước ta từ thế kỷ XV, nó làm cho nền giáo dục phát triển hết sức mạnh
mẽ nhất là dưới triều Lê Thánh Tông. Tạo được truyền thống ham học, truyền thống tôn
sư trọng đạo, truyền thống coi trọng người có học. Tạo được cơ chế tuyển dụng người
tài qua thi cử. Bất cả xuất thân ra sao (nông dân, người thợ, lính tráng ) nếu học giỏi
đỗ đạt thì có thể ra làm quan giúp nước (ở phương Tây thời kỳ này, chức tước chỉ được
chuyển giao nội bộ trong các gia đình quý tộc, dân thường hầu như không với đến)
Hơn nữa sự thịnh trị của Nho gia từ thế kỷ XV cũng là một hiện tượng góp phần
thúc đẩy lịch sử tư tưởng nước ta tiến lên một bước mới. Là một học thuyết tích cực
nhập thể, nó cổ vũ và khuyến khích mọi người đi sâu vào tìm hiểu những quan hệ xã
lực. Nó không giải đáp được vấn đề ấy vì nó đã sớm bỏ con đường phát triển tư duy
trừu tượng.
Khi Nho giáo chiếm vị trí độc tôn thì lễ chế của nó đặc biệt phát triển mạnh. Khi
đó nó bắt đầu đè nặng lên con người và bóp nghẹt nếp sống giản dị, những quan hệ xã
hội trong sáng, những tình cảm tự nhiên và chân thực của suy sụp cùng với xã hội
phong kiến thì nó trở nên phản động, cổ hủ và lạc hậu.
Do đó,bên cạnh những ảnh hưởng tích cực, Nho giáo cũng đem lại không ít tác
động tiêu cực mà cho đến nay nó vẫn còn là nhân tố kìm hãm sự phát triển văn hoá tại
các vùng nông thôn Việt Nam.
Tuy nhiên Nho giáo còn có những mặt hạn chế mà mỗi thời đại trong lịch sử Việt
Nam đều có sự nhìn nhận và kế thừa. Tóm lại, cả hai mặt tiến bộ và hạn chế của Nho
giáo đều để lại dấu ấn trên những con người Nho sĩ. Có người thì mặt tốt nhiều hơn mặt
xấu, có người thì ngược lại. Sự tốt xấu đó là kết quả của hoàn cảnh khách quan cũng
như yếu tố chủ quan của mỗi người quyết định.
ĐỖ DIỆU THÚY TRANG 24
Nho giáo Việt Nam được xem là một trong những tín ngưỡng quan trọng của Việt
Nam, đóng góp trong việc xây dựng chỗ dựa vững chắc trong việc phát triển kinh tế,
lịch sử, kiến trúc và tồn tại các triều đại phong kiến như nhà Lý, Trần Lê, Nguyễn,
Hiện nay có khoảng 3,5% đến khoảng 4% dân số theo Nho gia, nhưng hầu hết là ở Bắc
Bộ.
Ảnh hưởng tích cực và tiêu cực của Nho gia đối với xã hội Việt Nam:
Trong lịch sử Việt Nam, không ai là một nhà tư tưởng theo phái Pháp gia thực sự
cả, vì học thuyết ấy không được truyền bá rộng ở ta. Tuy không theo hoàn toàn nhưng
Hồ Chí Minh cũng vận dụng những ưu điểm của tư tưởng “pháp trị” để thể hiện nổi bật
ở việc bảo đảm tính khoa học, hiệu lực và nghiêm minh của pháp luật.
2. Ảnh hưởng nho gia, pháp gia với tư tưởng Hồ Chí Minh:
Thái độ nhất quán của Nguyễn Ái Quốc- Hồ Chí Minh đối với Khổng Tử và Nho
giáo, thái độ ấy đã được Người nêu rõ trong bài nói tại Hội nghị huấn luyện toàn quốc
lần thứ nhất 1950: “Tuy Khổng Tử là phong kiến và tuy trong học thuyết của Khổng Tử
có nhiều điều không đúng song những điều hay trong đó thì chúng ta nên học”. Trong