TIỂU LUẬN TRIẾT SỰ TƯƠNG ĐỒNG VÀ KHÁC BIỆT GIỮA TRIẾT HỌC DUY VẬT CHẤT PHÁC VÀ TRIẾT HỌC DUY TÂM Ở HY LẠP THỜI CỔ ĐẠI - Pdf 24

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TPHCM
VIỆN ĐÀO TẠO SAU ĐẠI HỌC
Lớp Ngày 4 – K22
TIỂU LUẬN MÔN TRIẾT HỌC
ĐỀ TÀI 6 : SỰ TƯƠNG ĐỒNG VÀ KHÁC BIỆT GIỮA
TRIẾT HỌC DUY VẬT CHẤT PHÁC VÀ TRIẾT HỌC
DUY TÂM Ở HY LẠP THỜI CỔ ĐẠI
Giảng viên hướng dẫn: TS. Bùi Văn Mưa
Sinh viên thực hiện: Bùi Thị Thuỳ Dương
MSSV: 7701220220 – STT: 11
BÙI THỊ THUỲ DƯƠNG
STT:11_Nhóm 2 Cao học Ngày 4 K221
PHẦN MỞ ĐẦU
Triết học Hy Lạp cổ đại là khúc dạo đầu cho cả một nền lịch sử đồ sộ trên 2000 năm
của triết học phương Tây và đóng một vai trò quan trọng đối với lịch sử triết học thế
giới. Tìm hiểu triết học Hy Lạp cổ đại là đi tìm hiểu về cuộc đấu tranh mạnh mẽ giữa
hai trường phái triết học Duy Vật và Duy Tâm. Cuộc đấu tranh này được xem như là
sợi chỉ đỏ xuyên suốt chiều dài lịch sử triết học Hy Lạp nói riêng, và nền triết học thế
giới nói chung.
Sự tương đồng và khác biệt giữa triết học duy vật chất phác và triết học duy tâm ở Hy Lạp thời cổ đại
1
BÙI THỊ THUỲ DƯƠNG
STT:11_Nhóm 2 Cao học Ngày 4 K222
MỤC LỤC
TIỂU LUẬN MÔN TRIẾT HỌC 1
ĐỀ TÀI 6 : SỰ TƯƠNG ĐỒNG VÀ KHÁC BIỆT GIỮA TRIẾT HỌC DUY VẬT CHẤT PHÁC VÀ TRIẾT HỌC
DUY TÂM Ở HY LẠP THỜI CỔ ĐẠI 1
PHẦN MỞ ĐẦU 1
MỤC LỤC 2
1. Điều kiện ra đời của triết học Hy Lạp cổ đại 3
1.1 Về tự nhiên 3

văn minh Hy Lạp - La Mã xuất hiện muộn hơn cả, nhưng nó lại rất phong phú, đặc biệt
Sự tương đồng và khác biệt giữa triết học duy vật chất phác và triết học duy tâm ở Hy Lạp thời cổ đại
3
BÙI THỊ THUỲ DƯƠNG
STT:11_Nhóm 2 Cao học Ngày 4 K224
là về triết học. Hy Lạp cổ đại chính là cái nôi của nền triết học phương Tây. Đây là
quốc gia rộng lớn có khí hậu ôn hòa. Bao gồm miền Nam bán đảo Ban Căng (Balcans),
miền ven biển phía Tây Tiểu Á và nhiều hòn đảo ở miền Egiê. Hy Lạp được chia làm
ba khu vực. Bắc , Nam và Trung bộ
Trung bộ có nhiều dãy núi ngang dọc và những đồng bằng trù phú, có thành phố
lớn như Athen. Nam bộ là bán đảo Pelopongnedơ với nhiều đồng bằng rộng lớn phì
nhiêu thuận lợi cho việc trồng trọt. Vùng bờ biển phía Đông của bán đảo Ban Căng
khúc khuỷu nhiều vịnh, hải cảng thuận lợi cho ngành hàng hải phát triển. Các đảo trên
biển Êgiê (Egée) là nơi trung chuyển cho việc đi lại, buôn bán giữa Hy Lạp với các
nước ở Tiểu Á và Bắc Phi. Vùng ven biển Tiểu Á là đầu mối giao thương giữa Hy Lạp
và các nước phương Đông. Với điều kiện tự nhiên thuận lợi như vậy nên Hy Lạp cổ đại
sớm trở thành một quốc gia chiếm hữu nô lệ có một nền công thương nghiệp phát triển,
một nền văn hóa tinh thần phong phú đa dạng. Nơi có nhiều triết gia mà triết lý của họ
trở nên bất hủ.
1.2 Về kinh tế
Hy Lạp cổ đại nằm ở một vị trí vô cùng thuận lợi về khí hậu, đất đai, biển cả và
lòng nhiệt thành của con người là những tài vật, tài lực vô giá để cho tư duy bay bổng,
mở rộng các mối bang giao và phát triển kinh tế.
Thế kỷ VIII – VI TCN, đây là thời kỳ quan trọng nhất trong lịch sử Hy Lạp cổ
đại là thời kỳ nhân loại chuyển từ thời đại đồ đồng sang thời đại đồ sắt. Lúc bấy giờ đồ
sắt được dùng phổ biến, năng xuất lao động tăng nhanh, sản phẩm dồi dào, chế độ sở
hữu tư nhân được cũng cố. Sự phát triển này đã kéo theo phân công lao động trong
nông nghiệp, giữa nghành trồng trọt và ngành chăn nuôi. Xu hướng chuyển sang chế
độ chiếm hữu nô lệ đã thể hiện ngày càng rõ nét. Sự phát triển mạnh mẽ của công
nghiệp, thủ công nghiệp từ cuối thế kỷ VIII TCN là lực đẩy quan trọng cho trao đổi,

toàn bộ bán đảo Hy Lạp thế kỷ thứ II TCN, Hy Lạp một lần nữa bị rơi vào tay của đế
quốc La Mã. Tuy đế quốc La Mã chinh phục được Hy Lạp, nhưng lại bị Hy Lạp chinh
phục về văn hóa.
Sự tương đồng và khác biệt giữa triết học duy vật chất phác và triết học duy tâm ở Hy Lạp thời cổ đại
5
BÙI THỊ THUỲ DƯƠNG
STT:11_Nhóm 2 Cao học Ngày 4 K226
Engels đã nhận xét “không có cơ sở văn minh Hy Lạp và đế quốc La Mã thì
không có Châu Âu hiện đại được”. Vì điều kiện kinh tế, nhu cầu buôn bán, trao đổi
hàng hóa mà các chuyến vượt biển đến với các nước phương Đông trở nên thường
xuyên. Chính vì thế tầm nhìn của họ cũng được mở rộng, những thành tựu văn hóa của
Ai Cập, Babilon đã làm cho người Hy Lạp ngạc nhiên. Tất cả các lĩnh vực, những yếu
tố của nước bạn đều được người Hy Lạp đón nhận, “Những người Hy Lạp mãi mãi là
đứa trẻ nếu không hiểu biết gì về Ai Cập”.
Trong thời đại này Hy Lạp đã xây dựng được một nền văn minh vô cùng xán lạn
với những thành tựu rực rỡ thuộc các lĩnh vực khác nhau. Chúng là cơ sở hình thành
nên nền văn minh phương Tây hiện đại.
Về văn học, người Hy Lạp đã để lại một kho tàng văn học thần thoại rất phong
phú, những tập thơ chứa chan tình cảm, những vở kịch hấp dẫn, phản ánh cuộc sống
sôi động, lao động bền bỉ, cuộc đấu tranh kiên cường chống lại những lực lượng tự
nhiên, xã hội của người Hy Lạp cổ đại.
Về nghệ thuật, đã để lại các công trình kiến trúc, điêu khắc, hội họa có giá trị.
Về luật pháp, đã sớm xây dựng một nền pháp luật và được thực hiện khá
nghiêm tại thành bang Athen.
Về khoa học tự nhiên, những thành tựu toán học, thiên văn, vật lý… được các
nhà khoa học tên tuổi như Thalés, Pythago, Heraclite sớm phát hiện ra. Và đặc biệt,
người Hy Lạp cổ đại đã để lại một di sản triết học vô cùng đồ sộ và sâu sắc.
2. Sự hình thành, phát triển và suy tàn của triết học Hy Lạp cổ đại
Lịch sử triết học Hy Lạp - La Mã cổ đại có thể chia làm ba thời kỳ. Xuyên suốt
ba thời kỳ ấy là cuộc đấu tranh giữa chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa duy tâm mà đỉnh

không phải chỉ là một thực thể riêng biệt (như trường phái Milê) mà là gồm 4 thực thể:
đất, nước, lửa, không khí. Anaxago lại cho rằng, mọi vật đều được cấu tạo từ hạt cực
nhỏ nhờ quá trình phân giải và đồng nhất của chúng.
Sự tương đồng và khác biệt giữa triết học duy vật chất phác và triết học duy tâm ở Hy Lạp thời cổ đại
7
BÙI THỊ THUỲ DƯƠNG
STT:11_Nhóm 2 Cao học Ngày 4 K228
Đạt tới đỉnh cao nhất của chủ nghĩa duy vật thời kì này là học thuyết về nguyên tử của
Đêmôcrít. Theo ông, tất cả mọi vật đều được cấu thành từ những nguyên tử. Nguyên tử
là những phần tử vật chất nhỏ nhất, không thể phân chia được, chúng vĩnh viễn vận
động, không có điểm kết thúc.
b. Đối lập lại chủ nghĩa duy vật trên đây là chủ nghĩa duy tâm khách quan của
Platôngg. Ông là đại biểu lớn nhất của chủ nghĩa duy tâm thời cổ đại Hy Lạp. Ông đã
xây dựng học thuyết về ý niệm để chống lại chủ nghĩa duy vật. Theo ông, giới tự nhiên
bắt nguồn từ ý niệm.
c. Dao động giữa đường lối duy vật của Đêmôcrít và đường lối duy tâm của
Platông là Arixtốt. Ông là một nhà triết học lớn, bộ óc bách khoa thời cổ đại Hy Lạp -
La Mã, nhưng là một nhà triết học không triệt để. Một mặt, ông bác bỏ thuyết ý niệm
của Platông; mặt khác ông lại chủ trương hình thức là bản chất của mọi sự vật, mà hình
thức của mọi hình thức là tư duy (hình thức thuần tuý).
2.3. Thời kỳ thứ ba (từ thế kỷ thứ III TCN):
Đây là thời kỳ khủng hoảng và suy vong của chế độ chiếm hữu nô lệ ở Hy Lạp -
La Mã. Cùng với sự suy tàn đó, nền văn hoá mà nó sản sinh ra cũng suy tàn theo. Vào
cuối thế kỷ này, chỉ còn Êpiquya và học trò của ông là Lucơrexơ là tiếp tục đường lối
duy vật của Đê-mô-crít.
Triết học Hy Lạp - La Mã cổ đại đã đặt ra hầu hết các vấn đề triết học mà người
ta thường thấy mối quan hệ của nó với các khuynh hướng, các trào lưu triết học sau
này.
Trong những thành tựu triết học Hy Lạp-La Mã cổ đại, học thuyết về nguyên tử
của Đêmôcrít, tư tưởng biện chứng của Hêraclít và lôgích học của Arixtốt là những

các hiện tượng tự nhiên để rút ra những kết luận triết học.
Năm là, triết học Hy Lạp coi trọng vấn đề con người. Các nhà triết học Hy Lạp
cổ đại đã đưa ra nhiều quan niệm khác nhau về con người, cố lý giải vấn đề quan hệ
giữa linh hồn và thể xác, về đời sống đạo đức – chính trị - xã hội của họ. Dù còn có
Sự tương đồng và khác biệt giữa triết học duy vật chất phác và triết học duy tâm ở Hy Lạp thời cổ đại
9
BÙI THỊ THUỲ DƯƠNG
STT:11_Nhóm 2 Cao học Ngày 4 K2210
nhiều bất đồng, song nhìn chung, các triết gia đều khẳng định con người là tinh hoa cao
quý nhất của tạo hóa.
CHƯƠNG II: KHÁI QUÁT VỀ TRIẾT HỌC DUY VẬT CHẤT PHÁC VÀ
TRIẾT HỌC DUY TÂM Ở HY LẠP THỜI CỔ ĐẠI
Do là một trong những nền triết học mở đường trong lịch sử triết học nhân loại
hơn nữa các quan niệm triết học được rút ra trên cơ sở suy luận, suy đoán từ sự quan
sát trực tiếp các sự kiện xảy ra trong tự nhiên, trong xã hội nên triết học Hy Lạp cổ đại
mang nặng tính sơ khai, chất phác, ngây thơ. Tuy nhiên, từ trong sự khởi đầu đó, các
nhà triết học sau này đã nhìn thấy ở triết học Hy Lạp cổ đại mầm mống của tất cả các
kiểu thế giới quan sau này và xem nó là một đỉnh cao của triết học nhân loại. Tuỳ thuộc
vào từng thời kỳ lịch sử, tuỳ từng không gian địa lý cụ thể mà triết học Hy Lạp cổ đại
chia thành các trường phái và các giai đoạn phát triển khác nhau, nhưng chung quy
cũng bao gồm hai phái chính là triết học duy vật và triết học duy tâm.
1. Chủ nghĩa duy vật
Chủ nghĩa duy vật được hình thành từ trường phái Milet- trường phái Heraclite,
trường phái Đa nguyên và đạt được đỉnh cao như trong trường phái Nguyên tử luận.
1.1 Trường phái Milê:
Trường phái triết học đơn nguyên do ba nhà triết học duy vật là Talet,
Anaximăngđrơ, Anaximen xây dựng, nhằm làm sáng tỏ bản nguyên vật chất của thế
giới. Nếu bản nguyên thế giới được Talet cho là nước, Anaximăngđrơ cho là apeiron,
còn Anaximen cho là không khí. Những quan niệm triết học duy vật của trường phái
Milê tuy còn mộc mạc, thô sơ nhưng có ý nghĩa vô thần chống lại thế giới quan thận

Anaxagorax cho rằng cơ sở đầu tiên của tất cả mọi sự vật là “những hạt giống”.
Anaxagorax xem “ mọi cái được trộn lẫn trong mọi cái”.
Tuy nhiên, quan điểm của họ cũng còn mang tính sơ khai, nghĩa là còn hạn chế.
Những hạn chế này được thuyết phục bởi thuyết nguyên tử luận. Nhưng thuyết này vẫn
còn sơ khai và nhận định bằng cảm tính.
Sự tương đồng và khác biệt giữa triết học duy vật chất phác và triết học duy tâm ở Hy Lạp thời cổ đại
11
BÙI THỊ THUỲ DƯƠNG
STT:11_Nhóm 2 Cao học Ngày 4 K2212
1.4. Trường phái nguyên tử luận
Trường phải này là đỉnh cao của triết học duy vật cổ đại trong giai đoạn cực
thịnh với các đại biểu Lơxip, Đêmôcrit, trong đó, Lơxip là người đầu tiên nêu lên các
quan điểm về nguyên tử. Đêmôcrit là người phát triển các quan điểm này thành một hệ
thống chặt chẽ và có sức thuyết phục. Mặc dù còn nhiều hiền tế nhưng với những thành
tựu đạt được, ông ta đã nâng chủ nghĩa duy vật lên đỉnh cao, làm cho nó đủ sức đương
đầu chống lại các trào lưu duy tâm đang thời ấy thịnh hành lúc bấy giờ, mà trước hết là
trào lưu duy tâm nổi tiếng của Platôngg. Sang thời kỳ suy tàn của triết học Hy Lạp cổ
đại, Êpicua đã củng cố, bảo về và phát triển thêm học thuyết nguyên tử.
Lơxip( Leucippe (500 – 440 TCN)), cho rằng cái tồn tại (nguyên tử) tồn tại
nhưng khác với Pác mê níc ông cũng cho rẵng cái không tồn tại(chân không) cũng tồn
tại. Nguyên tử và chân không không cùng khởi nguyên thế giới. Trong vũ trụ, luôn có
những cơn lốc xoáy của các nguyên tử xảy ra trong chân không, do vậy mà các nguyên
tử cùng kích thước tụ lại với nhau theo từng loại để tạo ra đất, lửa, nước, không khí. Từ
đó tạo nên tinh tú loài người và các tinh tú rực sáng. Vạn vật đều sinh, diệt theo luật
nhân quả.
Đêmôcrit (Démocrite (460 – 370 TCN)) là học trò của Leucippe đã kế thừa và
phát triển thuyết nguyên tử luận trên một phương diện mới. Theo ông vũ trụ được cấu
thành bởi hai thực thể đầu tiên là nguyên tử và chân không. Hai thực thể này là căn
nguyên của các sự vật hiện tượng. Mặc dù Đê môcrit không giải thích được nguồn gốc
của vận động, không biết được linh hồn là hiện tượng tinh thần nhưng việc ông khẳng

thức bởi tu duy – lý tính. Quan điểm này của Pácmênic đã được Dênông bảo vệ nhiệt
thành. Nhà hùng biện đã đưa ra những apôri để đào sâu tư duy lý luận, và thông qua
chúng, ông muốn chứng minh, tồn tại là đồng nhất, duy nhất, và bất biến, còn tính
phức tạp, đa dạng và vận động của thế giới là không có thực.
Sự tương đồng và khác biệt giữa triết học duy vật chất phác và triết học duy tâm ở Hy Lạp thời cổ đại
13
BÙI THỊ THUỲ DƯƠNG
STT:11_Nhóm 2 Cao học Ngày 4 K2214
2.3. Trường phái duy tâm khách quan
Thể hiện lập trường chính trị của tầng lớp chủ nô bảo thủ chống lại nền dân chủ
Athen và hệ thống triết học duy vật của trường phái nguyên tử luận. Được xây dựng
bởi Socrate và Platông.
Socrate (469 – 399 TCN), khác với nhiều nhà bác học khác là không nghiên cứu
về giới tự nhiên, ông dành phần lớn nghiên cứu về con người, đạo đức. “Con người hãy
nhận thức về chính mình”. Bàn về con người dưới khía cạnh đạo đức. Platông (427 –
347 TCN), xuất thân trong một gia đình chủ nô quý tộc ở Athen. Ông trở thành kiệt
xuất nhất thời cổ đại Hy Lạp bởi quan niệm triết học duy tâm khách quan. Ông xây
dựng chủ nghĩa duy tâm khách quan với nội dung chính là “thuyết ý niệm”, với giá trị
bên trong là phép biện chứng của khái niệm và nhiều tư tưởng sâu sắc khác về đạo đức,
chính trị, xã hội.
3.Triết học nhị nguyên của Arixtốt
Aristote (384 – 322 TCN). Ông sinh ra tại miền Bắc Hy Lạp, là học trò xuất sắc
của Platôngg. Tuy nhiên ông đứng trên quan niệm duy vật tiến bộ phê phán thuyết ý
niệm của Platônggg ,nhưng ông cũng không ủng hộ quan điểm của các trường phái duy
vật bàn về khởi nguyên vật chất của vũ trụ. Khi bàn về cá vấn đề siêu hình , sự do dự
giữa chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa duy tâm đã đua Arixtốt đến với chủ nghĩa nhị
nguyên, và từ chủ nghĩa nhị nguyên ông đã rơi vào chủ nghĩa duy tâm khi đưa ra
thuyết nguyên nhân. Tuy nhiên khi bàn về vật lý học , ông lại bộc lộ rõ quan điểm duy
vật của mình. Theo Arixtốt ông cho rằng thuộc tính quan trọng của thế giới là “vận
động”. Vận động không tách rời vật thể tự nhiên. Vận động của thế giới tự nhiên có

chỉ khác nhau về hình thức, trật tự, tư thế. Nguyên tử có rất nhiều nhưng mỗi nguyên tử
có một hình thức nhất định: hình cầu, góc cạnh và mỗi loại sinh vật đều được cấu thành
bởi các nguyên tử do chúng kết hợp với nhau theo một trật tự nhất định. Ông quan
niệm sinh vật biết đổi là do sự sắp xếp các nguyên tử. Ông quan niệm về bản nguyên
Sự tương đồng và khác biệt giữa triết học duy vật chất phác và triết học duy tâm ở Hy Lạp thời cổ đại
15
BÙI THỊ THUỲ DƯƠNG
STT:11_Nhóm 2 Cao học Ngày 4 K2216
thế giới mang tính hình tượng nhưng chưa thoát khỏi trực quan cảm tính, biểu hiện là
ông coi các nguyên tử có hình dạng nhất định.
Còn Platôngg cho rằng ý niệm là nguồn gốc sinh ra thế giới. Ý niệm tồn tại
ngoài con người, ngoài cảm giác của con người; “ý niệm tồn tại vĩnh viễn bất biến, bất
động”. Ý niệm là cái có trước , là cái sản sinh, là nguyên nhân ,bản chất , khuôn mẫu
của sự vật; coi sự vật là cái có sau, là cái bóng được mô phỏng, sao chép từ ý niệm.
Các sự vật cụ thể có thể cảm thụ được bằng cảm giác chỉ là bản sao của các ý niệm,
dựa vào ý niệm hay đúng hơn là thế giới ý niệm. Platôngg thừa nhận có hai thế giới tồn
tại: thế giới ý niệm, là thế giới tồn tại vĩnh viễn, bất biến, bất động, tuyệt đối chân thực
cơ sở tồn tại của thế giới sự vật cảm tính. Còn thế giới sự vật cảm tính là thế giới tồn
tại không chân thực, luôn luôn biến đổi, là cái bóng của ý niệm, do ý niệmsản sinh ra,
phụ thuộc vào ý niệm loài người cũng thuộc về thế giới này.
• Về vũ trụ: Đêmôcrit cho rằng vũ trụ là vô tận vĩnh cửu, là vô hạn đa dạng, không được
sáng tạo và không bị huỷ diệt. Còn Platông thì ngược lại ông cho rằng vũ trụ này
không tồn tại thực, tất cả chỉ là sự phức hợp của ý niệm do ý niệm quy định do thượng
đế quyết định và không tồn tại.
• Về vấn đề linh hồn: theo Đêmôcrit, ông đă bác bỏ quan niệm về sự sản sinh ra sự sống
và con người của thần thánh. Theo ông sự sống là kết quả biến đổi dần dần từ thấp đến
cao của tự nhiên. Sinh vật đầu tiên xuất hiện ở môi trường nước và dưới tác động của
nhiệt độ. Sinh vật đó sống dưới nước, sau đó dần dần xuất hiện sinh vật có vú sống trên
cạn. Cuối cùng là con người ra đời trên quả đất. Ông đă phân biệt rõ ràng sự vật và
sinh vật chúng khác nhau ở chỗ sự vật không có linh hồn, còn sinh vật có linh hồn: linh

của sự vật toát ra những hơi thở tinh tế tạo thành hình ảnh của chúng, những hơi thở
tinh tế đó tác động vào cơ quan cảm giác của con người làm cho mọi người cảm nhận
được sự vật. Song cảm giác là nhận thức “mờ tối” vì nó chưa làm cho con người hiểu
được bản chất tinh tế nằm sâu trong sự vật. Do đó con người phải dựa vào nhận thức
sâu sắc hơn. Qua đây chúng ta có thể thấy theo Đêmơcrít “ lý tính”, phải dựa vào
“những dẫn chứng” do cảm tính đem lại và sau đó cần phải đi sâu vào phân tích tìm
chân lý đang còn nằm sâu dưới đáy bể. Điều này có thể thấy rằng ông không hề phủ
nhận khả năng nhận thức chân lý khách quan của con người.
Sự tương đồng và khác biệt giữa triết học duy vật chất phác và triết học duy tâm ở Hy Lạp thời cổ đại
17
BÙI THỊ THUỲ DƯƠNG
STT:11_Nhóm 2 Cao học Ngày 4 K2218
Còn Platông cho cho rằng nhận thức chẳng qua là sự hồi tưởng lại của linh hồn
bất tửu (lý trí) về những gì nó đã từng chiêm ngưỡng trong thế giới ý niệm nhưng lãng
quên. Linh hồn nhận thức bằng cách đàm thoại với nhau đẻ làm thức tỉnh các ý niệm
trong bản thân mình. Tranh luận, sự va chạm giữa các ý kiến chung, chúng là biện pháp
khám phá ra các ý kiến riêng khác hay thậm chí trái ngược nhau để tiến đến sự thừa
nhận những ý kiến chung. Nhận thức chân lý là khám phá ý niệm tồn tại sẵn trong linh
hồn con người, hoàn toàn diễn ra bên ngoài hoạt động cảm tính của con người, vì hoạt
động cảm tính chỉ mang lại kiến giải sai lầm về thế giới sự vật.
• Về quan điểm chính trị- xă hội :
Đêmôcrit đứng trong lập trường của phái chủ nô dân chủ, kịch liệt chống lại
phái chủ nô quý tộc. Ông ra sức bảo vệ và tuyên truyền cho chế độ dân chủ của chủ nô
trong đó thể hiện quyền lợi của ḿnh gắn liền với sự phát triển ngày càng một mạnh mẽ
của thương mại và công nghiệp. Ông đề cao, ca ngợi cổ vũ cho tình thân ái, tính ôn hoà
lợi ích chung và quyền lợi chung của công dân tự do. Theo ông “ cần phải ưa thích cái
nghèo trong một Nhà nước dân chủ hơn so với cái gọi là cuộc sống hạnh phúc trong
chế độ chuyên chế tựa như là tự do tốt hơn nô lệ” (3). Đương nhiên là do xuất thân từ
tầng lớp chủ nô dân chủ Đêmôcrit chỉ đề cập đến nền dân chủ của chủ nô, còn bản thân
nô lệ thì cũng như các nhà tư tưởng khác, ông cho rằng phải biết tuân theo người chủ

• Về quan niệm đạo đức:
Đêmôcrit cho rằng, đạo đức học giúp làm rõ số phận, cuộc sống và hướng dẫn
hành vi, thái độ của từng con người. Sự hiểu biết là cơ cở của hành vi đạo đức. Sống
đúng mực, ôn hoà, không gây hại cho mình và cho người khác là sống có đạo đức.
Hạnh phúc của con người là trạng thái mà trong đó con người sống trong sự hưởng lạc
vừa phải trong sự thanh thản của tâm hồn tự do.
Xuất phát từ đạo đức học duy lý, Platôngg cho rằng, sống hạnh phúc là sống có
đạo đức. Sống có đạo đức là làm điều thiện. Hành vi hướng thiện là hành vi không dựa
trên khoái lạc, lợi chủ quan mà là hướng đến những ý tưởng tuyệt đối khách quan
thuộc về thế giới ý niệm ở trên trời. Con người chỉ nhận thức được những ý tưởng này
bằng lý trí. Theo Platông, con người muốn sống hạnh phúc phải dùng lý trí để chiêm
nghiệm những ý tưởng và khắc phục những dục vọng thấp hèn , giúp linh hồn thoát
Sự tương đồng và khác biệt giữa triết học duy vật chất phác và triết học duy tâm ở Hy Lạp thời cổ đại
19
BÙI THỊ THUỲ DƯƠNG
STT:11_Nhóm 2 Cao học Ngày 4 K2220
khỏi gông cùm thể xác. Như vậy, theo Platôngg, con người không thể tìm thấy hạnh
phúc cho riêng mình ở xung quanh mình, dưới trần gian; con người chỉ có thể đạt được
hạnh phúc trong thế giới ý niệm, ở trên trời, sau khi chết.
2. Sự giống nhau giữa triết học duy vật chất phác và triết học duy tâm ở Hy Lạp thời cổ
đại:
Tuy có sự đấu tranh gay gắt giữa chủ nghĩa duy vật và duy tâm trong suốt chiều
dài lịch sử triết học Hy Lạp, nhưng vẫn có một vài sự tương đồng ở hai trường phái
triết học này.
Thứ nhất là vấn đề con người: Các nhà triết học Hy Lạp cổ đại đã đưa ra nhiều
quan niệm khác nhau về con người, cố lý giải vấn đề quan hệ giữa linh hồn và thể xác,
về đời sống đạo đức – chính trị - xã hội của họ. Dù còn có nhiều bất đồng, song nhìn
chung, các triết gia đều khẳng định con người là tinh hoa cao quý nhất của tạo hóa.
Thứ hai, các nhà triết học cổ đã đã biết gắn bó giữa triết học và khoa học tự
nhiên để tổng hợp mọi hiểu biết về các lĩnh vực khác nhau để hướng tới việc xây dựng

đầu tiên, xây dựng nên một nền văn minh châu Âu sau này.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Tài liệu:
TS Bùi Văn Mưa và cộng sự –“Triết học phần 1-Đại cương về lịch sử Triết học”
(2011)
Thích Trí Huệ-“Các Trường Phái Triết Học Hy Lạp cổ đại, cuộc đời và cái chết của
triết gia Socrate”-2012
Nguyễn Minh Trường –“ Triết học cổ đại Hy Lạp”-2010
Vũ Dương Ninh – “Lịch sử văn minh thế giới” – Tái bản lần thứ 14 năm 2012.
2. Website
/>%E1%BA%A1p_c%E1%BB%95_%C4%91%E1%BA%A1i
/>hoc-co-dai-Hy-Lap-158141
/>%E1%BA%A1p-c%E1%BB%95-%C4%91%E1%BA%A1i#!p=1
/>lap.html
Sự tương đồng và khác biệt giữa triết học duy vật chất phác và triết học duy tâm ở Hy Lạp thời cổ đại
21
BÙI THỊ THUỲ DƯƠNG
STT:11_Nhóm 2 Cao học Ngày 4 K2222
Sự tương đồng và khác biệt giữa triết học duy vật chất phác và triết học duy tâm ở Hy Lạp thời cổ đại
22


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status