BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP.HCM
VIỆN ĐÀO TẠO SAU ĐẠI HỌC
TIỂU LUẬN TRIẾT HỌC
ĐỀ TÀI 1:
SỰ TƯƠNG ĐỒNG VÀ KHÁC BIỆT GIỮA TƯ TƯỞNG
VEDANTA VÀ PHẬT GIÁO HỌC VIÊN THỰC HIỆN : LÊ THANH NGÂN
STT : 41
NHÓM THỰC HIỆN : NHÓM 5
LỚP : CAO HỌC NGÀY 4 – K22
GVHD : TS. BÙI VĂN MƯA Tp.HCM, tháng 12/2012
SỰ TƢƠNG ĐỒNG VÀ KHÁC BIỆT GIỮA
TRIẾT HỌC PHẬT GIÁO VÀ VEDANTA Ở ẤN ĐỘ THỜI CỔ ĐẠI
MỞ ĐẦU
Chƣơng 1: Khái quát về triết học Ấn Độ thời cổ đại – trung đại
1.1 Hoàn cảnh ra đời triết học Ấn Độ thời cổ đại – trung đại
MỞ ĐẦU
Có thể thấy rằng Đức Phật, giáo chủ khai sáng Đạo Phật, là một người được giáo dục trong môi
trường của Veda. Từ khi sinh ra, lớn lên và thậm chí cả khi đi xuất gia tu hành, ngài cũng trang bị
cho bản thân bằng những kinh nghiệm đã được hấp thu từ nền giáo dục của truyền thống Veda. Sự
tham cầu học và đạt được những kết quả tối cao trong phương pháp của hai đạo sĩ A-la-la và Uất-
đầu-ca, sự tìm cầu giải thoát bằng đường hướng khổ hạnh , đã cho thấy rõ điều đó. Hơn nữa, cùng bắt
nguồn trên mảnh đất của triết lý, lẽ tất nhiên Phật giáo và Bà-la-môn giáo nói chung và triết hệ
Vedanta nói riêng không thể nào không có những mối quan hệ nhất định được.
Do vậy, để làm rõ mối tương quan này thì cần thiết so sánh những điểm tương đồng và dị biệt của hai
khối tư tưởng triết lý và đạo học đã được coi là chủ yếu nhất của Ấn Độ.
Trong khuôn khổ của một bài tiểu luận ngắn không phải là một bài khảo cứu chuyên ngành – nên nó
chỉ được giới hạn trong những điểm cơ bản nhất mà bằng phương pháp phân tích so sánh người viết
đã sử dụng để đánh giá về sự tương đồng và dị biệt của hai trào lưu tư tưởng đã có quan hệ sâu đậm
lẫn nhau trong suốt chiều dài lịch sử.
CHƢƠNG 1:
KHÁI QUÁT VỀ TRIẾT HỌC ẤN ĐỘ THỜI CỔ ĐẠI
1.1. Bối cảnh Ấn Độ thời cổ đại
1.1.1. Điều kiện tự nhiên
Ấn Độ cổ đại là một lục địa lớn ở phía nam Châu Á. Phía Tây Nam và Đông Nam giáp Ấn Độ
Dương, phía Bắc là dãy Hymalaya hùng vĩ án ngữ theo một vòng cung dài 2.600km. Có những yếu
tố địa lý rất trái ngược nhau: vừa có núi cao, lại vừa có biển rộng; vừa có sông Ấn chạy về phía Tây
lại vừa có sông Hằng chảy về phía Đông; vừa có đồng bằng phì nhiêu, lại có sa mạc khô cằn, vừa có
chính thống phủ nhận, bác bỏ uy thế của kinh Veda và đạo Bàlamôn. Hệ thống này gồm ba trường
phái là Jaina, Lokayata và Buddha (Phật giáo)
1.2. Đặc điểm triết học Ấn Độ cổ đại – trung đại
Trước hết, triết học Ấn Độ là một nền triết học chịu ảnh hưởng lớn của những tư tưởng tôn giáo.
Giữa triết học và tôn giáo rất khó phân biệt. Tư tưởng triết học ẩn giấu sau các lễ nghi huyền bí, chân
lý thể hiện qua bộ kinh Veda – Upanisad. Tuy nhiên, tôn giáo của Ấn Độ cổ đại có xu hướng ―hướng
nội‖ chứ không phải ―hướng ngoại‖ như tôn giáo phương Tây. Vì vậy xu hướng trội của các hệ thống
triết học – tôn giáo Ấn Độ đều tập trung lý giải và thực hành những vấn đề nhân sinh quan dưới góc
độ tâm linh tôn giáo nhắm đạt tới sự giải thoát tức là đạt tới sự đồng nhất tinh thần cá nhân và tinh
thần vũ trụ (Atman và Brahman).
Thứ hai, các nhà triết học thường kế tục mà không gạt bỏ hệ thống triết học có trước.
Thứ ba, khi bàn đến vấn đề bản thể luận, một số học phái xoay quanh vấn đề ―tính không‖, đem đối
lập ―không‖ và ―có‖. Quy cái ―có‖ về cái ―không‖ thể hiện một trình độ tư duy trừu tượng cao. CHƢƠNG 2
KHÁI QUÁT VỀ TRIẾT HỌC PHẬT GIÁO VÀ TRIẾT HỌC VEDANTA
2.1. Sơ lƣợc thời kỳ Veda
Nói về thời kỳ Veda (khoảng 1500 năm TCN đến năm 1000 TCN) và thời kỳ Sử thi hay thời đại
―anh hùng‖ (khoảng từ năm 1000 TCN đến năm 700 TCN), kinh Veda thể hiện những quan niện
hoang sơ của người Ấn Độ cổ về vũ trụ, lý giải về vẽ tận cùng của đạo, cố gắng đi tìm thực chất bản
tính con người, chỉ ra con đường giải thoát cho cuộc đời. Những tác phẩm có giá trị như kinh
Upanishad, được xem như những thánh kinh ghi lại lời dạy của thần linh, hai bộ sử thi đồ sộ
Mahabharata và Ramayana vừa có giá trị sử học, văn học, ngôn ngữ học, vừa có ý nghĩa triết học,
đạo đức được người Ấn Độ tự hào cho rằng ―Cái gì không thấy trong sử thi thì cũng không thấy ở Ấn
Độ‖. Vì vậy, không gì ngạc nhiên khi Upanishad, Mahabharata và Ramayana, Phật giáo, Hiđu đã tồn
tại hơn 3000 năm nay và vẫn còn truyền tụng không chỉ tại Ấn Độ mà còn vươn xa khắp nơi trên thế
giới trong đó có Việt Nam.
2.1.1. Quá trình hình thành và phát triển
Trước khi Phật ra đời, xã hội Ấn độ rơi vào cuộc khủng hoảng trầm trọng về mọi mặt của đời sống
xã hội. Thời kỳ này tầng lớp Bà La Môn được kính trọng, tôn sùng tuyệt đối; bởi họ là những người
được coi là có tri thức, có khả năng giảng dạy đạo lý và cúng tế thần linh. Còn giai cấp Sát Đế lợi
(vua chúa, tướng lĩnh….) thống trị quốc gia, thâu tóm gần như toàn bộ đất đai. Trong khi đó, các giai
cấp dưới phải lao động vất vả, chịu mọi sự khổ cực để cung phụng cho các giai cấp trên. Chính
những lý do này khiến cho đời sống xã hội ngày càng nảy sinh mâu thuẫn sâu sắc và dẫn đến sự phản
kháng của đông đảo quần chúng nhân dân lao động, đòi quyền tự do, bình đẳng. Cũng chính vào thời
điểm này ánh sáng từ bi trí tuệ của Phật giáo đã xuất hiện. ―Phật giáo xuất hiện như là sự đáp ứng
nhu cầu tinh thần phản kháng xã hội; một mặt nó phản ánh nỗi bất hạnh, đau khổ thực tế của nhân
dân Ấn độ; mặt khác nó phản kháng chế độ đẳng cấp nghiệt ngã, chống lại sự áp bức, bất bình đẳng
giữa con người. Nó công khai chống lại giáo lý truyền thống của kinh Veda và đạo Bà la môn, bác bỏ
uy quyền thần thánh, xây dựng niềm tin vào chính con người‖. Phật giáo ra đời vào thế kỷ VI TCN.
Người sáng lập là Sidsharta (Tất Đạt Đa). Sau này ông được vinh danh là Sakyamuni (Thích ca Mâu
ni)
Phật là tên theo âm Hán Việt của Buddha, có nghĩa là giác ngộ. Kinh điển Phật giáo gồm Tam Tạng
kinh điển: Kinh Tạng, Luật Tạng và Luận Tạng. (Xem Phụ lục 3)
2.1.2. Các nét đặc trưng
a. Thế giới quan
Thế giới quan Phật giáo nguyên thủy chứa đựng những yếu tố duy vật và biện chứng chất phác, phủ
nhận tư tưởng về đấng sáng tạo Brahman, cũng như phủ nhận"Cái tôi" (Atman) và dưa ra quan niệm
―Vô ngã‖ (Anatman) và ―Vô thường‖.
Phạm trù "Vô ngã" bao hàm tư tưởng cho rằng, vạn vật trong vũ trụ chỉ là sự "giả hợp" do hội đủ
nhân duyên nên thành ra "có" (tồn tại). Ngay bản thân sự tồn tại của thực thể con người cũng do
nhân duyên kết hợp và được tạo thành bởi hai thành phần là thể xác (Rupa - sắc) và tinh thần (Nâma
- danh), do sự hợp tan của ngũ uẩn ( sắc - thụ - tưởng - hành - thức). Duyên hợp ngũ uẩn thì là ta,
duyên tan ngũ uẩn ra thì không còn là ta, là diệt, nhưng không phải là mất đi mà là trở lại với ngũ
uẩn. Ngay các yếu tố của ngũ uẩn cũng luôn biến hóa theo luật nhân quả không ngừng, vì thế, vạn
vật và con người cứ biến hóa vụt mất, vụt còn, không có sự vật riêng biệt nào tồn tại mãi mãi, không
- Đạo đế: Chỉ ra con đường diệt khổ đạt tới giải thoát. Đó là con đường "tu đạo", hoàn thiện đạo
đức cá nhân thâu tóm vào 3 điều phải học tập, rèn luyện là Giới – Định – Tuệ, gồm 8 nguyên tắc
(bát chính đạo) là
+ Chính kiến: hiểu biết đúng đắn
+ Chính tư duy: suy nghĩ đúng đắn
+ Chính ngữ: giữ lời nói phải
+ Chính nghiệp: giữ đúng trung nghiệp
+ Chính mệnh: giữ ngăn dục vọng
+ Chính tinh tiến: rèn luyện không mệt mỏi
+ Chính niệm: có niềm tin vững chắc vào sự giải thoát
+ Chính định: an định, không bị ngoại cảnh chi phối
2.2. Triết học Vedanta
2.2.1. Quá trình hình thành và phát triển
Veda giáo là tôn giáo được hình thành sớm nhất ở Ấn độ, cũng là giai đoạn đầu tiên của Ấn Độ giáo.
Nó ra đời dựa trên triết lý thánh kinh Vệ Đà. Người ta thường gọi tôn giáo này là đa thần giáo, bởi họ
thờ cúng rất nhiều các vị thần. Đến những thế kỷ đầu của thiên niên kỷ thứ nhất TCN, do xã hội phát
triển dẫn đến sự bất bình đẳng về giai cấp ngày càng sâu sắc; và dựa trên nền tảng Vệ đà, cũng như
các hình thức dân gian… đã tập hợp thành một tôn giáo mới gọi là Bà La Môn. Đây cũng là giai
đoạn chuyển thứ hai của quá trình hình thành Ấn Độ giáo sau này. Nếu như Vệ đà giáo thờ cúng rất
nhiều thần linh thì Bà La Môn giáo chỉ tập trung tôn thờ ba vị thờ chính yếu như sau: Brahma (Phạm
thiên hay Đại Phạm Thiên),Visnu (Tì nữu), Shiva (Thấp bà thiên). Ngoài ra Bà La Môn giáo còn thờ
các vị thần khác như thần Agni, thần Indra, thần Surya… và họ cũng sùng bái nhiều loại động vật
như voi, khỉ và nhất là bò…. Vào thời kỳ này có đến sáu phái triết học: Sankhya (Số luận), Yoga (Du
già), Vaisesika (Thắng luận), Nyaya (Chánh lý), Mimansa (Di man tát) và Vedanta (Phệ đàn đà). Các
phái triết học này được xem thuộc hệ thống của Bà la môn giáo.
Người sáng lập triết hệ Vedanta là Sankara (k.788-820 SCN), còn gọi là Sankaracarya. Khởi nguyên
của triết hệ này là cuốn kinh Brahmasutra, một trong những tác phẩm quan trọng nhất của triết học
Ấn Ðộ. Kinh ấy gồm có 555 câu châm ngôn và những câu thơ về triết học Vedanta, theo truyền
Brahman tuyệt đối bất biến. Triết hệ Vedanta đưa ra câu trả lời rằng Brahman chuyển thể bản thân
thành vạn vật làm nên thế giới, nhưng khi làm như thế, bản thân Brahman không biến đổi. Do đó,
theo ý nghĩa nào đó, Brahman được xem là nguyên nhân của thế giới. Nhưng thực tế không đơn giản
như thế vì nguyên nhân và kết quả là hai cái tách biệt nhau; nếu Brahman có tính vĩnh hằng thì chẳng
cái gì có thể tách biệt với ngài. Do đó, Brahman và thế giới quả thật đồng hóa. Không có cái gì
không là Brahman nhưng đồng thời, không có cái gì là Brahman. Theo Vedanta, Brahman là thực tại
tối cao và phi nhị nguyên. Các tôn giáo hoặc các triết thuyết nhị nguyên đều dựa vào sự hiện hữu của
một Thượng đế có nhân cách và có ngôi vị (personal God) nên không thể nào biết tới cái nào đó
tương đương với khái niệm Brahman. Như ‗luận cứ ba điểm‘ ở trên, con người nếu với sự trừu tượng
hóa của ý niệm và bằng lối tiếp cận duy lý, thì không thể nào hiểu được Ý thức tuyệt đối (Brahman).
Chỉ cần hơi có ý định cụ thể hóa Brahman là Brahman đã có thể trở thành Isvara hay Thượng đế của
triết hệ Yoga. Sankara vạch ra đường nét tổng quát Vedanta rằng lý trí không thể lãnh hội Brahman,
vì tri giác chỉ có thể áp dụng cho thế giới kinh nghiệm. Bạn không thể với tới quá bên kia các giác
quan. Nói cách khác, bản ngã hoặc linh hồn là một khía cạnh của Brahman, do đó, người ta có khả
năng biết trực tiếp Brahman qua bản ngã. Trong thực tế, Brahman chính là cái ‗Tôi‘ đang hành động,
tách biệt với thể xác và các khía cạnh khác của bản ngã (cái tôi) có thể được nhìn thấy và mô tả.
Sankara cũng phân biệt thực tại phi phẩm tính (Nirguna Brahman) với thực tại có phẩm tính (Saguna
Brahman). Có thể nói Nirguna Brahman chỉ là ý thức thuần túy ở trình độ cao. Thuật ngữ Nirguna
Brahman gợi lên một thực thể vừa tối thượng vừa siêu việt, vượt ra ngoài trạng thái có và trạng thái
không có phẩm tính. Còn Saguna Brahman được xem là hành động ở trình độ thấp, như một sức lực
sống động trong mọi sự và cũng là Isvara, từ ngữ tổng quát dùng để gọi Thượng đế. Thuật ngữ
Saguna Brahman gợi ra một Brahman có đủ thứ phẩm tính để tiện cho việc thờ phượng.
Các phái Vêđanta sau này lại giải thích Brahman - Sutra theo quan điểm hữu thần, hay duy tâm
khách quan. Họ coi Brahman là linh hồn vũ trụ, vĩnh hằng; còn Atman là linh hồn cá thể, một bộ
phận của linh hồn tối cao, tưc Thượng đế Brahman. Phái Vêđanta chịu sự phê phán mạnh mẽ của các
trường phái khác, vì vậy, nó đã không đứng vững trước lập trường duy tâm nhất nguyên của mình.
Sang thời trung đại, nó đã chuyển dần sang lập trường nhị nguyên. Dù vậy, nó vẫn là cơ sở triết học
của giáo lý đạo Bàlamôn – Hinđu.
3.2. Sự khác biệt giữa triết học Phật giáo và triết học Vedanta
3.2.1. Về thực tại tối cao
Triết học nhất nguyên luận duy tâm chủ quan của Vedanta cho rằng chỉ có Brahman, tức ý thức
thuần túy là tồn tại duy nhất, mà Brahman lại được đồng nhất với "Cái tôi" (Atman). Thế giới vật
chất không tồn tại hiện thực, hình ảnh của nó chỉ là ảo ảnh do "Vô minh" sinh ra. Khi toàn bộ kinh
nghiệm bỏ ngỏ cho sự thông giải sai lạc, chúng ta có thể bị đánh lừa. Và thế giới như chúng ta biết
tới, có thể như một giấc mộng mà chúng ta đang trải qua giấc mộng ấy. Thực tại tuyệt đối và duy
nhất là Brahman, đồng hóa với bản ngã (cái tôi) là Atman. Nói cách khác, Ðại ngã hiệp làm một với
Tiểu ngã. Triết hệ Vedanta đưa ra câu trả lời rằng Brahman chuyển thể bản thân thành vạn vật làm
nên thế giới. Còn theo các quan điểm sau này của triết hệ Vedanta thần hóa cho rằng Brahma là
đấng tối cao sáng tạo vũ trụ và con người. Tất cả các thần khác như thần tình yêu Visnu, thần hủy
diệt Siva, thần mặt trời Surya, nữ thần rạng đông Usa . . . đều bắt nguồn từ một thần duy nhất là
Brahma. Brahman vừa là linh hồn, vừa là thể xác, là cao nhất, không có gì cao hơn nữa. Như tất cả
các nan hoa ở trục xe và bánh xe là tất cả của sự sống, thần thánh, thế giới, cơ quan đều được chứa
trong Bản ngã vũ trụ là Brahman.
Điều này đã bị thế giới quan Phật giáo nguyên thủy chứa đựng những yếu tố duy vật và biện chứng
chất phác qua sự phân tích nhân quả, Phật giáo cho rằng không thể tìm ra một nguyên nhân đầu tiên
cho vũ trụ, có nghĩa là không có một đấng tối cao nào cả, điều này phủ nhận tư tưởng về đấng sáng
tạo Brahman, cũng như phủ nhận"Cái tôi" (Atman) một cách tương đối với tư tưởng của triết hệ
Vedanta bằng quan niệm ―Vô ngã‖ (Anatman) và ―Vô thường‖. Mọi sự vật hiện tượng tùy thuộc
nhiều nhân, nhiều duyên phát sinh, không ai tạo ra nó cả. Thanh Tịnh Đạo Luận nói: ―Không thể tìm
ra một Đấng sáng tạo, một Brahman hay một vị nào khác, làm chủ vòng luân chuyển của đời sống,
chỉ có những hiện tượng diễn biến tùy thuộc vào các điều kiện.‖ Trong kinh Tiểu Bộ, Đức Phật dạy,
sự sinh thành, hoại diệt của các pháp (thế giới sự vật hiện tượng) là do tương quan, tác động của
Mười Hai Nhân Duyên (Duyên Khởi). Từ phân tích trên ta thấy, Bà -la-môn giáo nói chung và
Vedanta nói riêng vì chủ trương có đấng sáng tạo, có thần linh nên thuộc về tôn giáo thần khải và
thuộc loại nhất thần giáo. Trong khi Phật giáo, không phải nhất thần, cũng không phải đa thần. Đây
cũng chính là điểm khác biệt đầu tiên giữa hai giáo lý.
Tư tưởng về vũ trụ quan và nhân sinh quan của Vedanta thì phong phú và đa dạng. Nhưng cách đặt
vấn đề và giải quyết vấn đề về thế giới và con người lại không hiệu quả, bởi triết lý của họ mang
nặng tính thần quyền chưa thoát khỏi tận gốc cái bóng của học thuyết Phạm Thiên
Trong khi đó nền tảng triết lý của Đạo Phật lại trái ngược tương đối triết hệ Vedanta. Đức Phật cho
rằng vạn vật do duyên sinh nên tất cả là vô thường, vô ngã. Lời tuyên bố ấy đã đánh dấu một bước
ngoặc vô cùng trọng đại, giải thoát nhân sinh ra khỏi các triết lý thần khải
Đối với xã hội, Đạo Phật đã làm một cuộc cách mạng xóa bỏ tư tưởng giai cấp đầy bất công, về
phương diện tu tập thì đạo Phật chủ trương thực hành giáo lý Trung Đạo đả phá con đường khổ hạnh
Chính vì giá trị thiết thực ấy đã làm cho Đạo Phật tồn tại mãi với thời gian như lịch sử đã ghi nhận :
―Tại các nước Á Đông, mọi nền đạo học, thần học hết sức phong phú, nhưng cho đến nay dần dần
tan biến đi để chỉ còn lại một Đạo Phật tồn tại và đại diện cho Đông Phương trong thực tại sinh hoạt
thế giới hiện nay‖. Tất cả những điều này minh chứng Đạo Phật có một bản sắc độc đáo riêng mà các
triết phái khác không có được. PHỤ LỤC 1: BÀI ĐỌC THÊM “SƠ LƢỢC VỀ KINH VEDA”
Trong nền văn minh rực rỡ của Phương Đông thì Ấn Độ là một trong những cái nôi triết học, tôn
giáo lâu đời và phong phú của nhân loại. Nói về thời kỳ Veda (khoảng 1500 năm TCN đến năm 1000
TCN) và thời kỳ Sử thi hay thời đại ―anh hùng‖ (khoảng từ năm 1000 TCN đến năm 700 TCN),
những kinh Veda thể hiện những quan niện hoang sơ của người Ấn Độ cổ về vũ trụ, lý giải về vẽ tận
cùng của đạo, cố gắng đi tìm thực chất bản tính con người, chỉ ra con đường giải thoát cho cuộc đời.
Những tác phẩm có giá trị như kinh Upanishad, được xem như những thánh kinh ghi lại lời dạy của
thần linh, hai bộ sử thi đồ sộ Mahabharata và Ramayana vừa có giá trị sử học, văn học, ngôn ngữ
học, vừa có ý nghĩa triết học, đạo đức được người Ấn Độ tự hào cho rằng ―Cái gì không thấy trong
sử thi thì cũng không thấy ở Ấn Độ‖. Vì vậy, không gì ngạc nhiên khi Upanishad, Mahabharata và
Ramayana, Phật giáo, Hiđu đã tồn tại hơn 3000 năm nay và vẫn còn truyền tụng không chỉ tại Ấn Độ
mà còn vươn xa khắp nơi trên thế giới trong đó có Việt Nam.
Về nguồn gốc thần thoại tôn giáo, người Ấn Độ xem kinh Veda là những chân lý thiên khải cho loải
người ở mỗi đầu chu kỳ của vũ trụ. Một chu kỳ của vũ trụ theo người ấn độ có tên là Kalpa, tính từ
khi vũ trụ sáng tạo ra cho tới khi tiêu diệt đi, bằng một ngày của Brahma hay bằng 1.000 Mahayuga
Như vậy, Veda theo nghĩa hẹp gồm bốn bộ kể trên, trong đó quan trọng nhất là bộ Rig – Veda gồn
các Samhitas và những kinh xuất hiện muộn hơn như Brahmanas (nghi thức tế tự), Aranyaka (Kinh
rừng) và Upanishad (áo nghĩa thư) là những kinh tiếp tục bình chú, giải thích những tư tưởng khác
nhau trong kinh Veda ở giai đoạn đầu
Với những hiện tượng tự nhiên và xã hội ẩn dấu những điếu bí ẩn, kỳ diệu, mạnh mẽ, vốn là cái nôi
sinh trưởng, tồn tại của con người nhưng lại luôn gây ra cho đời sống con người biết bao những tai
họa, bất trắc khôn lường, từ đó người Ấn Độ đã sáng tạo nên một thế giới các vị thần có tính chất tự
nhiên để giải thích các hiện tượng phong phú, phức tạp của hiện thực. Các vị thành đầu tiên xuất hiện
trong các kinh Veda đều tượng trưng cho sức mạnh của các lực lượng, các sự vật tự nhiên mà người
Ấn Độ thờ phụng như trời, đất, mặt trời, mặt trăng, vòm trời, tinh tú, lửa, ánh sánh, gió, mưa, rạng
đông và cả sinh thực khí. Về sau, người Ấn Độ lại sáng tạo ra biểu tượng các vị thần mới để lý giải
các hiện tượng trong lĩnh vực đạo đức, luân lý xã hội, như thần ác, thần thiện, pháp thần, thần công
lý. Người Ấn Độ cổ tin và giải thích rằng trong vũ trụ này đồng thời tồn tại ba thế lực có liên quan
với nhau là thần linh, con người và quỷ ác, ứng với ba cõi của vũ trụ bao la là thiên giới, trần thế và
địa ngục. Họ đã phân tích các hiện tượng tự nhiên và lý giải chúng qua biểu tượng của thế giới thần
linh phong phú, hiện diện ở khắp mọi nơi và khắp mọi thời, chia nhau chi phối sự biến hóa của vũ trụ
vạn vật theo sự điều khiển của nguyên lý rita (rita nghĩa đen là chân xác, thích hợp, trật tự vận hành
vũ trụ). Vì thế kinh Rig – Veda viết: ―Toàn thể vũ trụ được thành lập trên nguyên lý rita và vận hành
trong đó‖ ( Rig – Veda, I, 156, 3). Họ say mê gửi gắm tâm hồn, cuộc sống tự nhiên của mình vào thế
giới của các vị thần linh ấy. Do vậy, họ rất sùng thượng tín ngưỡng, cầu nguyện và hiến tế. Bất cứ
việc gì đối với bản thân, gia đình và bộ tộc, họ đều cầu khẩn chư thần, với các mục đích rõ rệt.
Chẳng hạn, làm lễ cầu nguyện khi cưới vợ, lễ chúc phúc khi sinh con, lễ cầu nguyện cho gia đình an
vui, cho đàn gia súc không bị dịch bệnh và sinh đẻ nhiều, lễ cầu cho mưa thuận gió hòa, mùa màng
bội thu, lễ cầu nguyện để được khỏe mạnh sống lâu,…Họ cúng tế không phải chỉ là sự mê tín mà đó
chính là lòng tin, niềm say mê cuộc sống hồn nhiên và sự khẳng định cuộc sống, lẽ sống của mình,
Do đó, họ cho rằng đem lòng thành kính của mình để tụng niệm trước thần linh là bổn phận và hạnh
phúc của con người. Các thần linh trong kinh Veda ngụ ở khắp ba cõi: đất hay hạ giới (Prithvi),
không trung hay cõi trung gian (Antariksha), trời hay thiên giới (Dyaus). Nhưng chư thần có đông
đảo đến đâu cũng chỉ là sự biểu hiện khác nhau của một ―Đấng duy nhất‖. Hình ảnh mà người ta cho
của muôn loài.Vâyu cũng có nghĩa là ―thâm nhập tràn lan‖.
Thần Mặt trời Sùrya, do căn tự ―sur‖ hay ―svar‖ nghĩa là ―sáng chói‖, là nguồn sống của vũ trụ, là
minh trí của tất cả sinh vật, biểu thị bởi mười hai nguyên lý tối cao (Âditya). Mười hai thần Aditya là
những vị nào? Đó là mười hai tháng trong năm, vì khi chuyển vận, các vị thần đó cuốn theo tất cả thế
gian, Vì lẽ đó, các thần ấy được gọi là Âditya (nguyên lý tối thượng)‖. Mặt trời là trung tâm của vũ
trụ, vừa thuộc thế giới không biểu hiện vừa thuộc thế giới hiện tượng. Mặt trời là con mắt của vũ trụ,
là nguyên nhân của ban ngày; ngày tổn tại vĩnh cửu, là nguồn gốc của thời gian. Các tinh tú cõi đời
(vasu), những nguyên lý của sự sống (rudra), thần Gió, thần Lửa và tất cả các thần khác đều là thành
phần của thần mặt trời. Thần Mặt Trời Suârya có bốn vợ: Samjnâ (Trí thức), Rajni (Hoàng hậu),
Prabhâ (Ánh sáng) và Chaya (Bóng Tối). Suarya có nhiều con, trong số có Yama (Tử thần).
Thần Samjnâ còn có tên là Saranyuâ (Mây). Tương truyền rằng Samjnâ không thể chịu nổi sức nóng
của chồng lâu được, nên phải trốn vào rừng đi tu, nhờ các thiên thần tạo ra nàng Châyâ có dung mạo
giống hệt mình để đánh lừa Suârya. Khi khám phá ra sự thật, Suârya đi kiếm. Samjnâ bèn biến thành
con ngựa cái. Suârya cũng lập tức biến thành con ngựa đực để theo vợ. Vì thế mà Samjnâ sinh ra một
cặp sinh đôi, mình người đầu ngựa, tức là hai thần Ashivins, thần của nhà nông và cũng là thần y
chữa bệnh cho chư Thần. Sau đó Suârya dẫn vợ về nhà. Cha vợ là Tvashtri (Hoá công) muốn cho con
gái khỏi bị đau đớn vì sức nóng, bèn xén bớt một ít tia sáng của Suârya. Những mảnh này được tạo
thành cái đĩa của Thần Bảo Tồn Vishnu, cái chĩa ba của Thần Huỷ Diệt Shiva, cái chuỳ của Thần Tài
Sản Kubera, cùng là khí giới của nhiều thần linh khác nữa.
Thần Không trung Varuna (bầu trời), theo người Ấn Độ là vị thần bao la, rộng lớn với muôn ngàn
con mắt luôn đứng dõi trông theo sự vận hành của vũ trụ và canh giữ, bảo vệ công lý dưới sự phụ tá
của thần điều khiển Rita (đạo trời, thiên lý, trật tự điều hành vũ trụ)
Người Ấn Độ cổ không chỉ dùng biểu tượng các vị thần để giải thích các hiện tượng tự nhiên mà còn
để giải thích các luân lý đạo đức xã hội. Vì vậy, thần Varuna mới đầu chỉ là khoảng trời trùm vũ trụ
bao la, y phục là vòm trời cao xanh thăm thẳm nhưng sau thì Varuna được sùng bái thành vị thần đạo
đức, lý tưởng nhất trong kinh Veda. Thần Varuna không chỉ là thần chuyên duy trì trật tự vận hành
của vũ trụ, mà còn là thần giám sát cả thế giới, bảo vệ công lý, thưởng người thiện, phạt kẻ ác và tha
thứ cho kẻ nào biết cầu nguyện mình.
Thần linh dưới con mắt người Ấn Độ cổ là những bậc hiện sinh, siêu việt và mang tính tự nhiên. Tuy
vị thần, ba lực lượng nhưng thực chất chỉ là sự thể hiện của một nguyên lý duy nhất tối cao của vũ
trụ. Sáng tạo là để bảo tồn rồi hủy diệt, hủy diệt để sáng tạo rồi bảo tồn, bảo tồn hủy diệt rồi sáng tạo.
Đặc tính của thần sáng tạo Brahma là hoạt động, tình cảm, tác dụng điều hòa (rajas); đặc tính của
thần Hủy diệt Shiva là tối tăm, thụ động (tamas); đặc tính của thần Bảo tồn Vishnu là sáng suốt,
thuần khiết (sattva). ―Tam vị nhất thể‖ là đối tượng tôn thờ của đạo Bàlamôn, hình thức thứ hai của
Ấn Độ giáo, cũng như của đạo Hindu sau này. Brahma là đấng tự sinh và là đấng sáng tạo vũ trụ duy
nhất tối cao. ―Vạn vật phát hiện từ nơi ngài và vũ trụ đã có sẵn ở trong ngài…Cũng như cây sồi có
sẵn ở trong hạt sồi, cũng như trái cây có sẵn ở trong mầm hạt cây, sẵn sàng nảy nở và phát triển,
muôn vật hữu hình đã có sẵn ở Brahma và mọi mầm mống đều phát sinh từ nơi ngài‘
Trong kinh Munkada cũng viết: ―Phạm thiên đệ nhất chư thấn xuất sinh, sáng tạo tất cả, trì hộ thế
gian‘. Thần Brahma có màu da đỏ hồng. Màu đỏ là màu tượng trưng cho nguyên lý sáng tạo vũ trụ.
Brahma có bốn cánh tay cầm bốn pho Veda; hoặc có khi cầm bốn pho Veda trong tay thứ nhất, tay
thứ hai cầm cây trượng, tay thứ ba cầm cây cung và tay thứ tư cầm một bình nước. Hình ảnh phổ
biến nhất của Brahma là một vị thần có bốn dầu với hàm râu dài (Chatur ârana). Brahma là nguồn
gốc của tri thức. Vợ của Brahma chính là hình ảnh nhân hóa của tri thức (Sarasvati). Chính Brahma
đã dạy minh giác Phạm thể làm căn bản mọi kiến thức cho Atharvan. ―Minh giác Phạm thể do Phạm
thiên dạy cho Atharvan xưa được Atharvan truyền cho Angri, Angri dạy cho Satyavâha thuộc dòng
Bharadvâjas và Bharadvâjas dạy cho Angira, vừa minh giác siêu việt vừa minh giác hạ tầng‖.
Cuộc đời của Brahma chia ra ngày và đêm; trong đó ngày thức đêm ngủ. Khi Brahma thức vạn vật
sinh trưởng. Khi ông ngủ vũ trụ tiêu tan, nhưng rồi sẽ tái sinh lại sau khi ông tỉnh giấc. Một ngày một
đêm của Brahma lâu bằng 4.320.000.000 năm. Brahma sống lâu 100 năm.
Các truyền thuyết và sách cổ tích Ấn Độ cổ đã đưa ra nhiều thuyết khác nhau để giải thích lai lịch
của Brahma. Một thuyết kể lại rằng Brahma ra đời do cuộc phối hợp giữa Đấng tối cao với năng lực
của ngài là Mâyâ. Một thuyết khác lại nói Brahma được sinh ra trong một quả trứng vàng, tức kim
noãn, hay Hoàng kim thai tử Hiranyagabha trôi nổi trên mặt biển vô biên. Sau khi nằm trong trứng
vàng một năm, thần mới phân quả trứng ra làm đôi, một nửa trên là trời, một nửa dưới là đất và
khoảng giữa là không trung. Ngài nặn cho núi cao, đào cho biển sâu, ban sinh khí cho chư thần, tạo
ra thể xác và sự sống cho muôn loài, trao quyền hành chi phối muôn loài cho các thần, quy định trật
tự vũ trụ. Thuyết thứ ba phổ biến hơn cả cho rằng Brahma được sinh ra từ một đóa sen mọc từ rốn
xin của một đạo sĩ thấu thị (Rishi) xuống trần, Shiva đã phải xõa tóc cho dòng nước xuôi theo và đổ
xuống nhẹ nhàng, nếu không thì thế gian đã rung chuyển và xụp đổ tan tành. Một hôm thần Brahma
trông thấy thần Vishnu đang nằm trên một chiếc lá sen trên mặt nước nguyên thủy, Brahma hỏi danh
tính. Vishnu bèn xưng danh và kêu Brahma bằng con. Brahma tức giận và tuyên bố chính mình mới
là đấng sáng tạo và hủy diệt vũ trụ.
Vishnu bát bỏ lời của Brahma, cương quyết cho mình mới là đấng sáng tạo, bảo tồn và hủy diệt vũ
trụ, hai bên đang cãi cọ tranh giành ngôi thứ, thì bỗng hiện ra một cột lửa cao ngất tưởng chừng như
không có khởi nguyên. Hai thần bèn ngừng cuộc tranh luận và đồng ý chia nhau đi tìm đầu và cuối
của cột lửa. Vishnu đi xuống dưới gốc và Brahma đi lên phía ngọn.
Sau một thời gian thám hiểm rất lâu, cả hai đều không đạt được mục đích và phải trở về nơi gặp gỡ
ban đầu. Vừa khi đó không gian bỗng vang lên âm thanh linh thiêng của tiếng AUM* và Shiva xuất
hiện giữa cột lửa khiến cả Brahma và Vishnu đều cảm thấy hân hoan. Khi ấy Shiva bèn nói cho hai
thần biết rằng không có ai hơn, ai kém, và ba ngôi tối linh Brahma-Vishnu-Shiva chỉ là ba tác dụng
khác nhau của cùng một bản thể. Shiva có hai đời vợ nhưng cùng là một người trải qua hai kiếp.
Kiếp thứ nhất nàng tên là Sati (Hiền phụ), con gái của Daksha (Tài Trí), một trong tám vị thần sáng
tạo do Brahma tạo ra. Daksha vốn không vưa Shiva vì Shiva thường có bề ngoài là một đạo sĩ khất
thực tiều tụy và không tỏ thái độ tôn kính mình. Daksha đã đuổi Satĩ ra khỏi địa phận của mình khi
nàng nhất định chọn Shiva làm chồng. Một lần Sati về nhà vào dịp làm lễ mừng thần Vishnu, Daksha
đã không tiếc lời nhục mạ nàng cùng Shiva. Sati bèn thoát hồn trả lại thân xác cho cha. Shiva nổi
giận, giết chết Daksha tức thì. Sati tái sinh làm con gái của thần núi Himâlaya (Núi Tuyết), mang tên
là Umâ Himavutee và thường được gọi là Pârvatĩ (Sơn nữ). Sau nhiều lần thử thách về đức tính,
Shiva lấy Pârvati làm vợ.
Khi Shiva đã múa vũ điệu Tândava, tượng trưng cho sự vận hành của vũ trụ tại hí viện Thiên Đàng
của thần sét Indra. Khi nhảy múa như vậy, Shiva đã cho phát ra năm cung điệu căn bản. Khi vợ
Shiva là nàng Pârvati cất tiếng hát thì có thêm một cung điệu thứ sáu. Sự kết hợp giữa Shiva và