Bộ giáo dục và đào tạo
Trường Đại học sư phạm nghệ thuật Trung ương
Trường Cao đẳng sư phạm tháI bình
====== =======
Tiểu Luận
Lịch Sử Âm Nhạc
Sự khác biệt âm nhạc phương Đông và phương Tây
Giáo Viên hường dẫn:
Người thực hiện : Bùi Văn Tuân
Lớp : Đại học sư phạm nhac KII
Năm học 2009 – 2010
1
‘Mục lục
I .Phân mở đầu
1. Lý do chọn đề tài
2.Muc đích nghiên cứu
3.Đối tượng nghiên cứu
4.Phương pháp nghiên cứu
II.Nội dung
1. Đặt vấn đề
2. Nội dung
a. Sự khác biệt trong việc sử dụng âm thanh.
b. Sự khác biệt trong sử dụng điệu thức.
c. Sự khác biệt trong sử dụng các yếu tố của âm nhạc.
c.1. Giai điệu
c.2. Tiết tấu
d. Cơ cấu nhạc cụ dẫn đến việc sử dụng cũng như phong cách biểu diễn có
sự khác biệt.
thường đặt Đức cao hơn Tài, hay chữ Tài bao giờ cũng phải đứng sau chữ Tâm (cách gọi
khác của Đức). Các quan niệm về “tam tài” (thiên - địa – nhân), "vạn vật tương đồng”,
“thiên nhân hợp nhất”… thực chất là sự đề cao tính cộng đồng, tính tập thể, coi con
người là bình đẳng với vạn vật. Ngược lại, người phương Tây thiên về tư duy tuyến tính
và đi liền với nó là năng lực phân tích, cho nên trong cách ứng xử, họ thường nặng về lý,
với khuynh hướng chủ đạo là đặt Trí lên trên hết, đề cao tính cá nhân, coi con người là
trung tâm vũ trụ, chúa tể của muôn loài… Sự khác biệt ấy được thể hiện hầu như ở mọi
phương diện đời sống xã hội, trong đó có văn hóa, nghệ thuật và âm nhạc nói riêng.
Tóm lại lich sử âm nhạc thế giới luôn là kho tàng kiến thức rộng lớn chứa đựng bên
trong nó những tinh hoa nghệ thuật, mỗi thời đại, mỗi vùng miền lại có nhưng nét những
sự khác biệt chính vì thế nó tạo ra sự đa dạng và phong phú về văn hoá mang đậm bản
3
sắc khác nhau giưa hai vùng miền Đông – Tây, nhưng mỗi vùng lại có những cái hay cái
đặc sắc riêng lôi cuốn khiến tôi không thể không tìm hiểu và so sánh.
2Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu lich sử âm nhạc thế giới nói chung và lịch sử âm nhạc phương Đông và
phương Tây nói riêng là để trả lời cho câu hỏi “sự khác biệt âm nhạc phương Đông -
phương Tây như thế nào?” đồng thời nghiên cứu đề tài này nhầm mục đích tích luỹ kiến
thức âm nhạc cho bản thân để đưa vào trong các tiết dạy nhạc truyền đạt tới học sinh.
Nghiên cứu sự khác biệt âm nhạc giữa hai vùng điển hình để chúng ta thấy rõ được
sự phát triển của xã hội cũng như những ảnh hưởng của âm nhạc trong xã hội. Song
song với sự phát triển của xã thì âm nhạc (món ăn ăn tinh thần) không những phản ánh
đúng bản chất của xã hội thực tại mà còn góp phần không nhỏ vào sự phát triển đó.
3.Đối tượng nghiên cứu.
Đối tượng mà tôi chon nghiên cứu là lịch sử âm nhạc thế giới cụ thể là hai nền văn
hoá tiêu biểu cho hai vùng đó là: văn hoá văn minh Hy – La cổ đại và hai nước lớn đại
diện là Trung – ấn.
4.Phương pháp nghiên cứu.
- Chủ yếu là sưu tầm tài liêu, phân tích chứng minh, so sánh, biện luận cho nôi
dung đề tài. Việc so sánh qua các dẫn chứng thực tế sẽ góp phần làm sáng tỏ đề tài.
trên thế giới. Những cái độc đáo, cái đặc sắc của âm nhạc mỗi vùng, mỗi quốc gia, mỗi
dân tộc một mặt luôn được bảo tồn cùng với sự tồn vong của từng dân tộc. Hơn nữa, nó
luôn là chất liệu quan trọng không thể thiếu để làm phong phú và đa dạng cho các sắc
thái riêng của âm nhạc, để làm cho âm nhạc không tự biến thái thành cái gì đó mang tính
nhất thể hoá, xơ cứng và nhàm chán.
Như chúng ta đã biết, âm nhạc bắt nguồn từ cuộc sống lao động của xã hội loài
người, phản ánh tâm tư, tình cảm, ước vọng trong cuộc sống… của con người trong mỗi
quốc gia, mỗi dân tộc, mỗi địa phương… Dù được thể hiện qua lời hát – tiếng đàn, qua
thị hiếu thẩm thấu âm thanh, qua giai điệu, tiết tấu, điệu thức, cách thức cơ cấu nhạc cụ,
phong cách biểu diễn, phong cách sử dụng nhạc cụ thì bản chất ấy của âm nhạc không
hề thay đổi. Đây là vấn đề hết sức rộng lớn mà trong phạm vi bài viết này không thể đề
cập hết, cho nên, chúng tôi chỉ nhìn vấn đề dưới góc độ hẹp của dòng âm nhạc chuyên
nghiệp (một bộ phận của âm nhạc nói chung) và dựa vào những cách thức biểu hiện ấy
để làm cơ sở cho những suy nghĩ riêng của mình về sự khác biệt giữa âm nhạc Phương
Đông và âm nhạc Phương Tây.
2Néi dung.
a. Sự khác biệt trong việc sử dụng âm thanh.
Âm nhạc Phương Đông và âm nhạc Phương Tây cùng dùng con số để thể hiện các âm
có độ cao. Tuy nhiên, cách lý giải thì có sự khác nhau:
Người phương Tây – tiêu biểu là Hy Lạp cổ đại - thường dùng tần số làm số đo chủ yếu
của âm thanh, chẳng hạn cách định âm của Pythagore (582 - 493), theo nguyên tắc định
âm “vòng quãng 5” để xác định các bậc âm: Đô - Son – Rê – La – Mi – Xi – Fa#; họ lấy
cách định âm bằng sợi dây, và sự khác biệt của âm thanh được qui định một cách khoa
học theo âm chuẩn 1 cung = 9 comma. Theo đó, âm La1 ứng với 440 Hz và âm càng cao
thì con số ứng với nó càng lớn; từ âm La1 cố định làm chuẩn, mà sau này tất cả các nhạc
cụ trong dàn nhạc đều phải được định hình theo nó và âm nhạc Phương Tây còn coi âm
Đồ là âm cơ bản đầu tiên. Khoảng thế kỷ III trước Công nguyên, đến thế kỷ II sau Công
5
nguyên có trường phái “hòa thanh học” phản đối phương pháp dùng “số học” để nghiên
cứu nhạc luật của Pythagore, họ đề ra phương pháp dựa vào tai nghe làm cơ sở và đã
b. Sự khác biệt trong sử dụng điệu thức.
Nhiều nhà nghiên cứu âm nhạc đã đối chiếu điệu thức 5 âm và 7 âm cổ đại của Trung
Quốc (phương Đông) và Hy Lạp (phương Tây) đã thấy sự sắp xếp các quãng của hai
điệu thức 5 âm tương đối giống nhau, song hai điệu thức 7 âm lại khác. Bán âm đầu tiên
trong điệu thức Trung Quốc nằm giữa bậc IV và V( Sanh Tân và Lâm Chung), còn trong
điệu thức trưởng Hy Lạp nó lại nằm ở bậc III và IV. Tuy nhiên, hình thức sắp xếp các
6
bậc trong điệu thức 7 âm của Trung Quốc chỉ nằm trong sách vở ở thời kỳ đầu và trong
âm nhạc cung đình. Còn âm nhạc dân gian thì quãng bán âm giữa bậc III và IV đã hình
thành từ sớm (như trong âm nhạc cổ đại Hy Lạp) và đến thế kỷ VI sau công nguyên đã
thấy nó được sử dụng trong âm nhạc cung đình.
Khu vực Tây Á (Iran, Thổ Nhĩ Kỳ, các nước Ảrập) đã xác lập được điệu thức âm
nhạc và lý luận âm nhạc cơ bản. Cách sử dụng điệu thức tiêu biểu là điệu thức Maqam
và thang âm này gồm 7 nốt. Trong âm nhạc khu vực Tây Á thời kỳ Islam (thế kỷ VII –
XVIII), đạo Hồi ra đời - thờ thánh A La và đã có nhiều quan niệm liên quan đến con số
7 (7 sắc cầu vồng, một tuần 7 ngày, 7 tuần = 49 ngày), Họ cho rằng con số 7 là thiên
đàng ở tầng thứ 7 (tầng cao nhất) và ông thánh của họ ở trên đó có quyền lực cao nhất.
Bởi vậy, thang âm Maqam mà họ sử dụng 7 nốt nhạc có liên quan đến quan niệm trên.
Âm nhạc cổ điển Iran sử dụng điệu thức 7 âm Dastogah. Về thực chất điệu thức này có
ảnh hưởng của điệu thức Maqam. Nó có 12 điệu thức gốc, có sử dụng quãng vi phân
(thăng 1/2 - 1/4; giáng 1/2 - 1/4) và có nhiều cao độ hơn âm nhạc Phương Tây.
Âm nhạc cổ điển Ảrập sử dụng điệu thức 7 âm Maqam. Có sử dụng quãng vi phân rất
phức tạp. Hệ thống thăng - giáng (một quãng 8 được chia thành 10 phần) có ba cấp độ:
thăng 2/10 – 3/10 – 4/10 giáng 2/10 – 3/10 – 4/10. Do thẩm mỹ của Ảrập không chia đều
5/10 và lý thuyết của người phương Đông cho rằng phân ra 5/10 là không có trong thực
tế. Bởi vậy, đây là vấn đề khác hẳn so với âm nhạc chuyên nghiệp phương Tây khi chia
đều theo hệ thống bình quân luật.
Trên cơ sở lấy hai dãy bốn âm cùng một dạng thức quãng đem đặt kế tiếp nhau
(không gối đầu nhau) sẽ được một điệu thức có các tên gọi khác nhau như: Iolien,
Eolien, Phrigien, Mixolidien, Lidien, Dorien, Locrien.
linh hoạt của giọng người trong âm điệu cùng sự tô điểm cho giai điệu bằng việc sử
dụng những yếu tố như: những quãng vi cung, những lối vuốt và rung. Âm nhạc Phương
Đông nặng về giai điệu, quan tâm đến giai điệu trong việc diễn tả các trạng thái cảm
xúc, các ý tưởng âm nhạc…Giai điệu trong âm nhạc Phương Đông chủ yếu khai thác
đơn tuyến chiều ngang, chuyển điệu bằng đặc tính âm thanh, không có những tình huống
xung đột gay gắt, không có được tính triết lý nội tâm như âm nhạc phức điệu, cũng như
không bị hoà âm chiều dọc và những tiến hành hợp âm chỉ đạo chi phối như trong âm
nhạc Phương Tây, mà có liên quan tới những điệu thức giai điệu xây dựng trên những
thang âm đặc biệt… Ngược lại, âm nhạc Phương Tây không chỉ nghe giai điệu theo
chiều ngang mà còn chú ý tới hoà âm theo chiều dọc, cho nên, âm nhạc Phương Tây coi
hoà âm là một trong những yếu tố chính để diễn tả hình tượng âm nhạc, thậm chí hoà âm
còn thể hiện phong cách sáng tác, trường phái âm nhạc…
c.2. Tiết tấu
Tiết tấu, dấu nhấn trọng âm và cú pháp trong âm nhạc Phương Đông được bắt
nguồn từ thơ ca và việc cộng các phách thành hình thức những chu kỳ nhịp liên quan tới
sự phân câu, xoay quanh giọng người với sự nhấn mạnh âm thanh chủ yếu mang tính
kích động, tạo cảm giác vấp váp, qui luật mạnh nhẹ không đều (điều này được đạt tới
thông qua độ dài dàn trải của các âm). Ví dụ như: Ả Rập có nhịp 2, 4, 6, 7, 9, 10 và đặc
biệt có nhịp 120 phách; Thổ Nhĩ Kỳ có nhịp 9 phách còn gọi là nhịp thêm (2 + 2 + 2 +
8
3), nhịp 8 phách gọi là nhịp bớt (3 + 2 + 3). Qui luật phách mạnh – phách nhẹ cũng khác
hẳn ở chỗ âm ngắn lại rơi vào phách mạnh (gọi là Duma) và âm dài rơi vào phách nhẹ
(gọi là Tek), trong khi âm nhạc Phương Tây, âm dài thường rơi vào phách mạnh.
Tư duy về tiết tấu trong âm nhạc Phương Tây là thường nhân nhịp (với nhịp 16 phách ở
âm nhạc Phương Đông, họ có thể phân ra làm 4 câu, mỗi câu 4 nhịp, mỗi nhịp 4 phách).
Việc chia các nhịp thành phách của âm nhạc Phương Tây bắt nguồn từ múa, xoay quanh
cơ thể con người, đồng thời liên quan tới nhịp điệu, với dấu nhấn làm động lực là chủ
yếu (gồm những sự tương phản mạnh yếu).
d. Cơ cấu nhạc cụ dẫn đến việc sử dụng cũng như phong cách biểu diễn có sự
khác biệt .
Các nhạc cụ của khu vực Đông Nam Á phần lớn được chế tác bằng đồng (cồng
chiêng, trống Đồng…). Trong các nhạc cụ gõ bằng đồng ở Đông Nam Á thì trống đồng
và cồng chiêng thường được sử dụng nhiều. Trống đồng được coi là một vật thiêng; nó
là di vật lịch sử rất quan trọng đại diện cho nền văn hoá đồ đồng đã từng phát triển rực
rỡ ở Đông Nam Á mà Việt Nam chính là trung tâm lớn nhất. Đông Nam Á còn là khu
vực có rất nhiều tre nứa, do vậy, các nhạc cụ được chế tác bằng tre nứa chiếm số lượng
lớn nhất và luôn đóng vị trí quan trọng trong biên chế của các dàn nhạc. Các nhạc cụ
tiêu biểu ở đây là: đàn Bầu, đàn T’rưng của Việt Nam; Kenetok (một loại mõ tre) của
Thái Lan); Wa-let-hkok(đàn bằng ống tre), Pattala (đàn gồm 24 thanh tre) của Myanmar;
Gander Wayang(đàn gồm 10 thanh tre đặt trên miệng 10 ống tre làm hộp cộng hưởng)
của Indonexia; …Đặc biệt Philipin có nhiều nhạc cụ bằng tre nứa nhất: Tongatong(gồm
6 ống tre), Onnat(khẩu cầm), Baling bing(nhạc cụ bằng ống nứa, có 8 loại khác nhau)…
Và nổi bật nhất ở vùng này là có hoà tấu dàn nhạc gồm các nhạc cụ được chế tác từ tre,
trúc, nứa.
Ngoài ra, âm nhạc Phương Đông còn có cách biên chế dàn nhạc đặc biệt mà âm
nhạc Phương Tây không có như: dàn nhạc hoà tấu các nhạc cụ có độ vang lớn (Triều
Tiên), dàn nhạc hoà tấu cồng chiêng (vùng Đông Nam Á), dàn nhạc hoà tấu Ti - Trúc…
Đương nhiên, các nhạc cụ được sử dụng trong âm nhạc Phương Tây cũng rất
phong phú, đa dạng. Các nhạc cụ thời nguyên thuỷ cũng bắt đầu bằng những cây đàn gõ
bằng đá, bằng ống sậy, bằng ống xương, bằng ống sừng… Sau đó, người ta biết dùng tới
sợi dây căng - chùng và dài - ngắn để tạo các âm thanh cao thấp khác nhau. Thời cổ đại
Hy Lạp có các nhạc cụ tiêu biểu như: đàn Lia (nguồn gốc từ phương Bắc – người
Phratki), đàn Kipha và kèn Aviot (nguồn gốc từ Tây Á), sáo nhiều lỗ Xirinh… Đến thời
trung cổ, âm nhạc của nhà thờ Thiên Chúa giáo thống trị, âm nhạc dân gian phát triển
không mạnh. Thời kỳ này, dàn nhạc nhiều tổ hợp nhạc cụ được hình thành và chỉ trong
nhà thờ mới có tổ chức dàn nhạc lớn. Âm nhạc thời phục hưng ở phương Tây bắt đầu đi
những bước non trẻ, song từng bước có vị trí vững vàng. Các loại nhạc cụ tiêu biểu ở
phương Tây gồm: đàn Luyt, đàn Oocgan, đàn Clavecine, đàn Mandoline, đàn Guitare,
đàn Vion, đàn Violon, đàn Viola, đàn Violoncello, đàn Contrebass, sáo Flute, kèn Oboi,
kèn Clarinetto, kèn Fagotto, trống Timpani, trống Tamburino, trống Tamburo, … luôn
phng Tõy nhm khụng ngng lm giu cho nn vn hoỏ, nn õm nhc ca nc nh.
Thái bình, ngày 15 tháng 7 năm 2010
Ngời viết
Bùi Văn Tuân
Nhận xét của thầy cô giáo
11
12