ẢNH HƯỞNG CỦA BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU ĐỐI VỚI SINH KẾ, CÁC NGUỒN LỰC KINH TẾ CỦA NGƯỜI DÂN Ở VÙNG TRUNG TRUNG BỘ ( Địa bàn nghiên cứu: Quảng Nam) - Pdf 24

1

Viện khoa học và công nghệ Việt Nam
Viện Địa Lý
Dự án Biến đổi khí hậu P1-08 Vie

Đánh giá những tác động của biến đổi khí hậu đến điều kiện
tự nhiên , môi trường và phát triển kinh tế xã hội ở
Trung Trung bộ Việt Nam
Chuyên đề 9

ẢNH HƯỞNG CỦA BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU ĐỐI
VỚI SINH KẾ, CÁC NGUỒN LỰC KINH TẾ CỦA
NGƯỜI DÂN Ở VÙNG TRUNG TRUNG BỘ
( Địa bàn nghiên cứu:Quảng Nam) Chủ nhiệm chuyên đề: TS. Nguyễn Trọng Xuân
Tham gia: TS. Nguyễn Can
TS. Trần Thảo Nguyên
CN.Trần Hoàng Sa
Th.s Nguyễn thị Hải Yến

1.3.Nguồn lực tài chính và vấn đề sinh kế của người dân
1.4. Tài nguyên và sinh kế.
2.Thực trạng sinh kế của người dân Quảng nam
2.1 Sinh kế truyền thống của người dân Quảng Nam theo ngành
2.2 Sinh kế của người dân Quảng Nam nhìn từ góc độ vùng
2.3 Mối quan hệ giữa sinh kế truyền thống với các điều kiện tự nhiên
2.4 Sinh kế mang tính đặc trưng của các loại hộ.
CHƯƠNG III: NHỮNG THAY ĐỔI SINH KẾ VÀ TÁC ĐỘNG CỦA BĐKH ĐẾN
THAY ĐỔI SINH KẾ CỦA DÂN CƯ QUẢNG NAM.
1.Thay đổi sinh kế dưới tác động của chính sách phát triển kinh tế
2. Thay đổi sinh kế dưới tác động của khoa học công nghệ
3. Thay đổi sinh kế dưới tác động của chính sách thị trường
4. Thay đổi sinh kế dưới tác động của BĐKH
4.1. Các yếu tố khí hậu tác động đến sinh kế
4.2. Tác động của BĐKH theo ngành
CHƯƠNG IV: NHẬN THỨC CỦA CHÍNH QUYỀN, CÁC TỔ CHỨC ĐOÀN
THỂ QUẦN CHÚNG VÀ NGƯỜI DÂN VỀ BĐKH VÀ TÁC ĐỘNG CỦA NÓ
ĐẾN SINH KẾ
1.Sự biến đối khí hậu vùng duyên hải Miền Trung và Quảng Nam
2. Nhận thức về BĐKH
2.1.Nhận thức về biến đổi khí hậu của chính quyền các cấp
2.2. Nhận thức về biến đổi khí hậu của các tổ chức đoàn thể
2.3.Nhận thức về biến đổi khí hậu của người dân
3. Nâng cao nhận thức và năng lực ứng phó nhằm giảm thiểu các tác động tiêu
cực của BĐKH
CHƯƠNG V: CÁCH ỨNG PHÓ CỦA CHÍNH QUYỀN VÀ CÁC TỔ CHỨC
ĐOÀN THỂ QUẦN CHÚNG VÀ NGƯỜI DÂN ĐỊA PHƯƠNG VỀ BĐKH VÀ
TÁC ĐỘNG CỦA NÓ TỚI SINH KẾ
1. Quan điểmứng phó với đổi khí hậu của địa phương
2. Cách ứng phó của chính quyền và người dân đã sử dụng khắc phục, hạn

35
37
37
38
38
40 44
44
45
46
47
48 51 55
55 56

58

67
quyết mọi vấn đề, trong đó có vấn đề sinh kế cho người dân ở vùng chịu ảnh hưởng của
BĐKH
Sinh kế là cách mưu sinh của một người hoặc một nhóm người phụ thuộc chặt
chẽ vào nguồn lực, năng lực ra quyết định và những hoạt động kiếm sống nhằm đạt được
những mục tiêu và ước nguyện của họ. Tuy nhiên để mưu sinh, con người luôn phải chịu
áp lực về mọi phía, đó là các nguồn lực tự nhiên, kinh tế, xã hội, môi trường Trong
các yếu tố tác động đến sinh kế : yếu tố khí hậu- môi trường có những tác động ngày
càng mạnh . Tình hình BĐKH đã ảnh hưởng lớn đến cuộc sống sinh kế của các cộng
đồng dân cư, đặc biệt là cộng đồng dân cư nghèo.
Biến đổi khí hậu sẽ làm tăng tần suất và cường độ bão, mưa lớn, nhiệt độ cao,
hạn hán tăng hơn nhiều trong thập niên vừa qua. Biến đổi khí hậu sẽ tác động trực tiếp
đến sản xuất nông nghiệp, đến cơ sở nền tảng của sản xuất nông nghiệp là hệ thống hạ
tầng kỹ thuật (như hệ thống thủy lợi), và hệ sinh thái nông nghiệp, đến các hoạt động
kinh tế, từ đó ảnh hưởng trực tiếp đến sinh kế và sức khỏe của người dân
4
Để ứng phó với BĐKH và khắc phục hậu quả và ổn định cuộc sống cho người
dân của các vùng thường xuyên bị ảnh hưởng của các vùng thiên tai, các vùng có nguy
cơ bị ảnh hưởng nghiêm trọng do biến đổi khí hậu gây ra, đòi hỏi có những nghiên cứu
cụ thể về ảnh hưởng của biến đổi khí hậu đối với sinh kế, các nguồn lực kinh tế và quyền
hạn của người dân ở vùng nghiên cứu, từ đó đề xuất các giải pháp cho người dân có thể
thích ứng với những biến động của thiên tai và ổn định sinh kế , góp phần thực hiện
công cuộc xóa đói giảm nghèo một cách thành công. Nhiệm vụ này đối với vùng Trung
Trung Bộ hết sức khó khăn , bởi đây là khu vực chịu tác động mạnh của các hiện
tượng biến động thời tiết, khí hậu nặng nề nhất nước.
Trung Trung Bộ là vùng chịu nhiều thiên tai nhất trên cả nước. Nhiều dấu hiệu
môi trường thay đổi ngày càng khắc nghiệt đã xảy ra, gây thiệt hại cả về người và của
Dù còn nhiều thách thức nhưng đến nay công tác thông tin, truyền thông nâng cao
nhận thức cộng đồng nhằm ứng phó và thích nghi với sự BĐKH tiến tới tạo sinh kế bền
vững cho cộng đồng dân cư trên địa bàn nghiên cứu còn rất nhiều bất cập. Tác động của
các hiện tượng thời tiết khí hậu cực đoan đến đời sống nói chung và sinh kế của người

,
dân số gần 1,5 triệu người, trong đó có
5
18% sống ở đô thị, 51% trong độ tuổi lao động. Các dân tôc thiểu số ở Quảng Nam như
Cơ tu, Co, Giẻ - Triêng, Xê Đăng, chiếm 7,2% dân số toàn tỉnh. Người dân địa phương
khu vực này này thường xuyên chịu các thiên tai nghiêm trọng như bão và lũ lụt kéo dài,
các hiện tượng đang ngày càng trở nên thường xuyên hơn với cường độ mạnh hơn do
ảnh hưởng của BĐKH. Vì thế những người dân ở đây dễ bị tổn thương hơn do tác động
trực tiếp và gián tiếp của BĐKH.
Hiện nay, hầu hết các đánh giá tác động của BĐKH ở cấp địa phương thường chỉ tập
trung vào việc đánh giá tổn thất, trong khi đó các đánh giá về tính dễ bị tổn thương do
BĐKH và khả năng thích ứng BĐKH nhằm tạo sinh kế bền vững vẫn còn hạn chế. Vì lý
do này, báo cáo của chúng tôi muốn đề cập đến sâu vấn đề: Ảnh hưởng của BĐKH đến
sinh kế và các nguồn lực kinh tế của vùng Trung Trung Bộ lấy Quảng Nam làm thí dụ.


hội mà cá nhân hoặc hộ gia đình đã thiết lập trong cộng đồng.

Trong nhiều nghiên cứu của mình, F.Ellis cho rằng một sinh kế bao gồm những tài
sản (tự nhiên, phương tiện vật chất, con người, tài chính và nguồn vốn xã hội), những
hoạt động và cơ hội được tiếp cận đến các tài sản và hoạt động đó (đạt được thong qua
các thể chế và quan hệ xã hội), mà theo đó các quyết định về sinh kế đều thuộc về mỗi
cá nhân hoặc mỗi nông hộ (Ellis, 2000).
Theo Ủy ban Phát triển Quốc tế (DFIA- Anh, 1998), sinh kế được hiểu là:
* Tập hợp tất cả các nguồn lực và khả năng mà con người có được, kết hợp với
những quyết định và hoạt động mà họ thực thi nhằm để kiếm sống cũng như để đạt được
các mục tiêu và ước nguyện của họ.
* Các nguồn lực mà con người có được bao gồm: vốn con người; vốn vật chất; vốn
tự nhiên; vốn tài chính và vốn xã hội.
1.2. Sinh kế bền vững.
Theo R.Chamber (1989); R.Reardon, and J.E.Taylor, (1996), một sinh kế được
xem là bền vững khi nó có thể đối phó và khôi phục được trước tác động của những áp
lực và những cú sốc, duy trì hoặc tăng cường những năng lực lẫn tài sản của nó trong
hiện tại và tương lai, trong khi không làm suy thoái nguồn tài nguyên thiên nhiên.
Các chính sách để xác định sinh kế cho người dân theo hướng bền vững được xác
định liên quan chặt chẽ đến bối cảnh kinh tế vĩ mô và tác động của các yếu tố bên ngoài.
Tiêu biểu cho các nghiên cứu này là Ellis (2004, 2005); Barrett and Reardon (2000). Các
nghiên cứu này đã chỉ ra mối liên hệ giữa mức độ tăng trưởng kinh tế, cơ hội sinh kế và
cải thiện đói nghèo của người dân. Đồng thời nhấn mạnh vai trò của thể chế, chính sách
cũng như các mối liên hệ và hỗ trợ xã hội đối với cải thiện sinh kế, xóa đói giảm nghèo.
Sự bền vững trong các hoạt động sinh kế phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố như khả năng
trang bị nguồn vốn, trình độ của lao động, các mối quan hệ trong cộng đồng, các chính
sách phát triển… Tuy vậy, sự bền vững của tài nguyên thiên nhiên là yếu tố nền tảng
trong việc quyết định một sinh kế có bền vững hay không.
* Sinh kế của một cá nhân, một hộ gia đình, một cộng đồng được xem là bền vững
khi cá nhân, hộ gia đình, cộng đồng đó có thể vượt qua những biến động trong cuộc sống

Hình 1: Sơ đồ khung sinh kế bền vững (DFID, 2001)

Vật chất
Nhân lực
Tự nhiên
Tài chính

Xã hội

CHIẾN
LƯỢC
SINH
KẾ
Tình
huống dễ
bị tổn
thương
- Các cú
sốc
- Các
khuynh
hướng
- Tính thời
vụ

Ảnh
hưởng

-
Tăng thu
nhập
- Tăng s
ự ổn
định
- Giảm rủi ro
-
Nâng cao an
toàn lương
thực
- S
ử dụng bền
vững h
ơn các
ngu
ồn lực tự
nhiên

Cơ cấu và
tiến trình
thực hiện
TÀI SẢN SINH KẾ

8
Sinh kế bền vững phải bao hàm nội hàm của sinh kế và phải đảm bảo được các yếu
tố bền vững, đó là bền vững về môi trường, bền vững về kinh tế, và bền vững về xã hội
và bền vững về thể chế
Sinh kế bền vững hiện nay được coi là mục tiêu của các quốc gia trên thế giới
Vấn đề sinh kế luôn đi kèm với vấn đề môi trường và đói nghèo. Mối tương tác


- Các giải pháp (cách ứng phó) của người dân trước những tác động của
sự
biến
đổi trên trong thời gian
qua?

- Một số kiến nghị mang tính giải pháp nhằm hạn chế tác động xấu của
biến
đổi
khí hậu đối với sinh kế của người dân trong thời gian
tới?

Phương pháp nghiên
cứu

Căn cứ vào mục tiêu nghiên cứu đã nêu trên, đề tài sẽ sử dụng một số
phương
pháp chính là: Phương pháp nghiên cứu định tính, phương pháp nghiên cứu
định
lượng. Kết hợp khảo sát thực tế với tranh thủ ý kiến của các chuyên gia, kết
hợp
nghiên cứu theo lĩnh vực với nghiên cứu liên ngành. Sử dụng phương pháp trừu
tượng
hoá, phương pháp so sánh kết hợp phân tích thực trạng theo ngành nghề, đối tác,
với
thực trạng phát triển theo phạm vi địa giới hành chính (các huyện, tỉnh, vùng bảo
tồn).
Phương pháp chỉ đạo, xuyên suốt trong nghiên cứu này là Phương pháp tiếp
cận

gồm cả nam lẫn nữ, có hoàn cảnh KT - XH khác nhau, ở các lứa tuổi khác
nhau.

Đối
tượng tham gia thảo luận nhóm các cán bộ địa phương bao gồm: cán
bộ
UBND, các ngành kinh tế, trưởng thôn/bản, các đoàn thể như Hội Phụ nữ, Mặt trận
Tổ
quốc, Hội Cựu Chiến binh, đ
oàn
thanh
niên,…;

Thảo luận nhóm người dân, bao gồm những người dân phân theo
mức
sống hộ gia
đình nghèo, trung bình, khá
giả

Tại mỗi địa bàn khảo sát (cấp xã- thôn) tổ chức thành 3-4 nhóm thuộc hai
đối
tượng chính: Nhóm cán bộ và Nhóm người
dân.

- Phỏng vấn: trong đó người được hỏi tham gia trả lời các câu hỏi (có thể là

nhân, có thể là một nhóm người). Các câu trả lời của người được phỏng vấn

được
ghi chép tương đối đầy đủ trong các phiếu điều tra đã được soạn sẵn


Bảng hỏi gồm các hộ gia dung để phỏng vấn một thành viên trong hộ gia đình,

người khá hiểu biết về các hoạt động chính trong gia đình như việc làm, thu
nhập,…
Bảng hỏi Cộng đồng được sử dụng để phỏng vấn người lãnh đạo cộng
đồng.

Nghiên cứu tài liệu và thu thập thông tin sẵn có cũng là phương pháp hữu hiệu
để
thu thập các thông tin cho đánh giá dự
án.

Ngoài hai phương pháp nêu trên các phương pháp và công cụ khác hỗ trợ
cho
việc phân tích đánh giá cũng được áp dụng như: Quan sát trực tiếp; Chụp ảnh
hiện
trạng; Nghiên cứu tình huống; 10
CHƯƠNG II

NGUỒN LỰC CHO SINH KẾ-THỰC TRẠNG SINH KẾ CỦA DÂN CƯ QUẢNG NAM.

1. Sinh kế, nguồn lực và các vấn đề sử dụng tài nguyên:
1.1 Về nguồn nhân


TrungTrung Bộ 5574.7

5870.1

5983.0

6091.1

Quảng Nam 1389.4

1451.9

1474.3

1492.1

Dân số thành thị
Cả nước 18771.9

21737.2

22792.6

24233.3

TrungTrung Bộ 1424.5

1581.8


11
- Ở các thành phố thị xã, dân cư tập trung đông, với mật độ cao hơn rất nhiều so với
vùng miền núi, ven biển ( Tam kỳ : 1085người/ km
2
, Hội An 1382 người/km
2
trong khi
Nam Giang chỉ có 11 người/ km
2
, Tây giang chỉ có 18 người/km
2
)
- Quy mô hộ gia đình có xu hướng giảm dần, số lao động trong hộ giảm không
đáng kể. Tuy nhiên gần đây lại có hiện tượng tăng quy mô hộ, đặc biệt ở thành thị
- Những hộ thuộc nhóm thu nhập cao có số lao động bình quân cao hơn nhóm có
thu nhập thấp
- Tỷ lệ biết chữ của dân số từ 10 tuổi trở lên đang tăng dần. nhóm có thu nhập cao
thì tỷ lệ biết chữ cũng cao hơn
- Cơ cấu lao động đã có sự thay đổi qua các năm: lao động nông lâm thủy hải sản
giảm dần, lao động phi nông nghiệp ngày càng tăng
* Lao động:
Lực lượng lao động của Quảng Nam chiếm khoảng 52.4% trong tổng số dân của
tỉnh. Tốc độ tăng lực lượng lao động từ 2000-2007 trung bình năm là 2,3%, cao hơn
nhiều so với tốc độ tăng dân số, đây là một lợi thế cho tỉnh trong quá trình công nghiệp
hóa, tuy nhiên lợi thế này sẽ trở thành bất lợi khi nền kinh tế của Quảng Nam không đáp
ứng được việc làm cho người lao động, số người thất nghiệp sẽ là vấn đề căng thẳng đối
với địa phương.
Quá trình CNH cùng với quá trình đô thị hóa đã tạo sự chuyển dịch cơ cấu kinh
tế, và kéo theo đó là quá trình chuyển dịch về cơ cấu dân số, lao động mà biểu hiện của
nó là tăng nhanh tỷ lệ lao động trong công nghiệp, thương mại - dịch vụ, giảm tỷ lệ lao

12
* Thực trạng mức sống, nghèo đói và bất bình đẳng:
Thu nhập của dân cư
Trong 10 năm trở lại đây, nền kinh tế của tỉnh có nhiều đổi thay, kinh tế nông
nghiệp nông thôn chuyển dịch theo hướng tích cực, tốc độ tăng tổng sản phẩm trên địa
bàn năm sau cao hơn năm trước, đặc biệt trong lĩnh vực dịch vụ, công nghiệp. Đây là sự
chuyển dịch cơ cấu đúng hướng, phù hợp với yêu cầu của tiến trình công nghiệp hóa,
hiện đại hóa đất nước.
Sự chuyển đổi cơ cấu ngành nghề của địa phương thể hiện thông qua sự thay đổi
số lượng và cơ cấu hộ ở cả khu vực thành thị và nông thôn , nhưng rõ nét nhất là ở khu
vực nông thôn. Nếu năm 1994 có 80% số hộ nông lâm thủy sản, thì đến năm 2006 chỉ
còn 72,8% số hộ trong lĩnh vực này, và cùng với sự thay đổi này là mức sống của hộ gia
đình cũng được nâng lên. Tuy nhiên tốc độ chuyển dịch giữa các vùng rất khác nhau:
cánh Bắc có tốc độ chuyển dịch nhanh nhất, tiếp đến là cánh Nam, còn các huyện miền
núi có tốc độ chuyển dịch rất chậm, cá biệt có huyện không có hộ công nghiệp nào như
huyện Nam Giang, nguyên nhân là do trình độ dân trí thấp, cơ sở hạ tầng yếu kém, điều
kiện tự nhiên đất đai không thuận lợi
Các lĩnh vực xã hội cũng có bước phát triển khá và góp phần nâng cao chất lượng
cuộc sống của người dân. Kết quả khảo sát qua các năm cho thấy: Thu nhập bình quân
đang tăng dần qua các năm, mức thu nhập này không đều giữa khu vực thành thị và
nông thôn và điều này tạo ra sự chênh lệch mức sống ở 2 khu vực nhưng sự chênh lệch
cũng không nhiều. Điều này phản ảnh được thực tế của địa phương nghèo: sự cách biệt
về mức sống, sinh hoạt giữa thành thị và nông thôn không nhiều (Chênh lêch khoảng
630.900đồng /427000đồng- 1,5 lần) . Mức thu nhập này còn rất thấp so với nhiều khu
vực trong nước và trong vùng
Bảng 3 : Thu nhập bình quân đầu người / tháng ( 1000 đồng/ người/ tháng)
Quảng Nam Trung Trung Bộ Cả nước

Thu
nhập


414.9

6.50

484.4

8.34

2006 462.3

5.70

505.7

6.57

636.5

8.37

2008 694.0

5.8

728.0

7.1

995.0

* Mức sống dân cư
Kết quả điều tra các hộ gia đình trên địa bàn Quảng Nam trong các đợt thực địa
của dự án, các hộ được hỏi đa số đều cho rằng mức sống của hộ gia đình đều tăng lên (
67,42% số phiếu hỏi), một số hộ cho rằng như cũ hoặc giảm đi ít nhiều. Tùy theo mức
độ kinh tế hộ, việc đánh giá về sự thay đổi mức sống cũng khác nhau nhiều: 81% Hộ khá
cho rằng mức sống tăng nhiều, trong khi đó chỉ có 46% hộ trung bình, và 17,7% hộ
nghèo cho là tăng nhiều. Điều này cũng dễ lý giải : đó là do các hộ nghèo là đối tượng dễ
bị tổn thương khi có những biến động kinh tế, khí hậu….
Bảng 4: Khảo sát mức sống hộ gia đình theo mức độ kinh tế của hộ ( 1989-2009)
Mức độ
đánh giá
Khá Nghèo Trung bình Tính chung
Số
lượng

cấu(%)
Số
lượng

cấu(%)
Số
lượng
Cơ cấu
(%)
Số
lượng
Cơ cấu
(%)
Tăng nhiều 13


Không đổi 0

0.00

11

17.74

1

1.85

12

9.09

Giảm ít 2

12.50

8

12.90

3

5.56

13


4

3.03

Tổng 166254132

100

Nguồn : Kết quả xử lý phiếu điều tra 11/2009- dự án BĐKH
Bảng 5:Thu nhập bình quân 12 tháng qua của hộ gia đình điều tra( nghìn đồng)
Nguồn thu Bắc Trà
My
Đại Lộc Hội An Núi
Thành
Quế Sơn Tổng
Trồng trọt 4527.31

4475.83

1588.00


Thủy sản 0.00

0.00

6500.00

12042.11

3890.19

4597.83

Lương/ công 9284.62

1316.67

12660.00

5571.05

2912.16

6472.10

Dịch vụ 3792.31

0.00

6116.00


Từ nguồn khác 1140.00

358.33

300.80

946.32

181.62

609.71

Tổng thu 23186.54

7300.83

28772.80

30747.89

13934.76

22418.74

Nguồn: Kết quả xử lý phiếu điều tra 138 hộ ở Quảng Nam
14
Các cuộc điều tra mức sống dân cư, điều tra hộ gia đình nông lâm thủy hải sản,
điều tra đói nghèo ở Quảng nam vào các năm 2002-2004-2006 và gần đây là 2008 đã
cung cấp nguồn dữ liệu rất phong phú cho việc phân tích mức sống dân cư nơi đây: cuộc
sống đã được cải thiện ở phần lớn các hộ gia đình, tình trạng đói nghèo đã giảm đáng

TX Hội An 18298 1604
8.77
19200 975
5.08
Đông Giang 4501 2375
52.77
5030 1710
34.00
Tây Giang 2907 2460
84.62
3213 1863
57.98
Đại Lộc 35316 13279
37.6
36630 8919
24.35
Điện Bàn 44805 7687
17.16
47805 4627
9.68
Duy Xuyên 30195 8785
29.09
31379 6890
21.96
Nam Giang 4024 2118
52.63
4631 2584
55.80
Thăng Bình 45247 12535
27.70

Phú Ninh 19649 4388
22.33
19891 2918
14.67
Nông Sơn

7351 4916
66.88
Cũng theo bảng tổng hợp hộ nghèo: nhìn chung tỷ lệ hộ nghèo của Quảng Nam
là rất cao so với mức trung bình của cả nước. Vậy nguyên nhân nào đã ảnh hưởng đến
mức sống, sinh kế của dân cư và kéo theo đó là tỷ lệ nghèo Quảng Nam? Các nguyên
nhân được thống kê tác động đến tình trạng đói nghèo của địa phương chủ yếu là các
nguyên nhân sau:
- Thiếu việc làm : 8.2%
- Thiếu lao động: 7.0 %
- Thất nghiệp: 1.0%
- Giá cả biến động: 15.6%
- Đông con : 11.3%
- Ốm đau bệnh tật: 25.3%
- Tệ nạn xã hội: 0.05%
- Lười lao động: 0.46%
- Thiếu đất dai: 3.1%
- Tai nạn- rủi ro: 1.3%
- Thiếu vốn: 9.2%
- Thiếu kiến thức: 10.7%
Trong các nguyên nhân được đánh giá không nhắc gì đến các nguyên nhân do thời
tiết, khí hậu, tuy nhiên trên thực tế có nhiều nguyên nhân bắt nguồn từ những diễn biến
của thời tiết, hiện tượng thời tiết cực đoan, tác động của BĐKH: đó là hiện tượng thiếu
15
vốn do nhiều năm bị thiên tai, thiếu lao động do ốm đau bệnh tật mà nguyên nhân do diễn

và các tiến bộ kỹ thuật, tín dụng ) phải được tính đến. Các HTXNN phải hướng mạnh
đến việc bảo quản, chế biến sau thu hoạch, đáp ứng nhu cầu thị trường nội địa và phục vụ
xuất khẩu. Thực tiễn phát triển HTXNN ở Quảng Nam cho thấy, mô hình của nó ra đời,
tồn tại và phát triển không giống với các loại hình doanh nghiệp khác. Mặt khác, phương
thức tiến hành xây dựng và phát triển các HTXNN tác động rất mạnh mẽ tới sự ra đời, tồn
tại và phát triển của HTX.
Điều đáng nói nhất của nông nghiệp Quảng Nam khi vào WTO là thị trường sẽ mở
rộng cho những mặt hàng xuất khẩu truyền thống. Việt Nam là thành viên của WTO đồng
nghĩa với việc Việt Nam sẽ tiếp tục thu hút được đầu tư nước ngoài mà Quảng Nam là địa
phương có rất nhiều lợi thế. Tuy vậy thách thức lớn nhất của nông nghiệp tỉnh nhà là có
sức cạnh tranh thấp, chưa có có kinh nghiệm thực thi các điều khoản cam kết Gia nhập
WTO đưa lại nhiều tác động tích cực đối với Việt Nam nói chung và vùng Trung Trung
Bộ và Quảng nam nói riêng. Trước hết là tạo khuôn khổ pháp lí ổn định, lâu dài, minh
bạch công khai, có thể dự báo trước những rủi ro trong thương mại nông sản cho các nhà
16
sản xuất. Mặt khác, điều đó sẽ giúp các nhà sản xuất có điều kiện thâm nhập vào thị
trường nông sản rộng lớn của cộng đồng thương mại quốc tế, tạo cơ hội cho nông dân
thay đổi tư duy làm ăn theo lối hiện đại. Cuối cùng, vào WTO sẽ tạo môi trường cạnh
tranh bình đẳng cho các nhà sản xuất cũng như các địa phương tham gia thị trường nông
sản trong tỉnh, trong vùng và rộng hơn là trong nước và quốc tế, qua đó thúc đẩy sản xuất,
góp phần tăng trưởng kinh tế, xoá đói giảm nghèo.
* Giải pháp cho sinh kế nông nghiệp Quảng Nam:
Nông nghiệp Quảng Nam và vùng Trung Trung Bộ còn tồn tại nhiều hạn chế trước
ngưỡng cửa cuộc chơi WTO, đòi hỏi các cấp có thẩm quyền của địa phương có nhiều biện
pháp khắc phục bằng “các công cụ phù hợp với tinh thần WTO”. Một số giải pháp gợi ý
như: - Tạo ra việc làm phi nông nghiệp ở vùng nông thôn;
- Cung cấp nhiều thông tin hơn về tiếp cận thị trường, thông tin về tiêu chuẩn sản
phẩm xuất khẩu để khắc phục tình trạng nông dân thiếu thông tin dẫn đến không có định
hướng sản xuất chiến lược;
- Tăng cường đầu tư vào nghiên cứu nông nghiệp cũng như quảng bá kết quả đối với

tỉnh, góp phàn đáng kể trong việc giải quyết công ăn việc làm cho người lao động, tạo sinh
kế cho một bộ phận dân cư của địa phương.
Phát triển du lịch là hướng chiến lược quan trọng trong đường lối phát triển kinh tế
- xã hội, góp phần thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước; du lịch là ngành kinh
tế tổng hợp có tính liên ngành, liên vùng và xã hội hóa cao. Quán triệt tinh thần đó, Quảng
Nam xác định: xây dựng du lịch thành ngành kinh tế quan trọng trong cơ cấu kinh tế của
tỉnh, phát triển loại hình du lịch sinh thái kết hợp với nghỉ dưỡng; du lịch danh lam thắng
cảnh kết hợp với du lịch văn hoá; chú trọng đa dạng hóa các loại hình du lịch, tạo ra những
sản phẩm du lịch có chất lượng cao, hấp dẫn và đặc trưng của tỉnh.
Một thực tế là hiệu quả hoạt động thương mại - du lịch còn hạn chế, chưa tương
xứng với tiềm năng, thế mạnh của tỉnh. Để thương mại - du lịch trở thành đòn bẩy thúc
đẩy tăng trưởng kinh tế, tạo nguồn lực mới cho Quảng Nam bước vào thời kỳ hội nhập,
ngành thương mại - du lịch tỉnh nhà cần có phương hướng và những bước đi phù hợp, tạo
thế và lực mới
Việc Việt Nam gia nhập Tổ chức Thương mại thế giới (WTO) là cơ hội tốt tạo điều
kiện cho tất cả các địa phương trong đó có Quảng Nam phát triển thị trường hàng hóa và
dịch vụ, mở rộng thị trường xuất khẩu ra quy mô toàn cầu, tăng cường cải cách, đổi mới
kinh tế - xã hội, từ đó tiếp tục tăng cường thu hút đầu tư và kỹ thuật của nước ngoài, nâng
cao tính hiệu quả và sức cạnh tranh. Nhưng gia nhập WTO, chúng ta đối đầu hàng loạt
thách thức. Thứ nhất, cạnh tranh sẽ diễn ra gay gắt hơn, với nhiều đối thủ hơn, trên bình
diện rộng hơn, sâu hơn. Thứ hai, trên thế giới và mỗi quốc gia sự “phân phối” lợi ích là
không đồng đều. Một bộ phận dân cư được hưởng lợi ít hơn, thậm chí bị tác động tiêu cực
của toàn cầu hóa, nguy cơ phá sản một bộ phận doanh nghiệp và nguy cơ thất nghiệp sẽ
tăng lên, phân hóa giàu nghèo sẽ mạnh hơn. Thứ ba, hội nhập kinh tế quốc tế trong một
thế giới toàn cầu hóa, tính phụ thuộc lẫn nhau sẽ tăng lên. Sự biến động trên thị trường các
nước sẽ tác động mạnh mẽ đến thị trường trong nước. Thứ tư, hội nhập kinh tế quốc tế đặt
ra những vấn đề mới trong việc bảo vệ môi trường, bảo vệ an ninh quốc gia, giữ gìn bản
sắc văn hóa truyền thống tốt đẹp của dân tộc
1.3.Nguồn lực tài chính và vấn đề sinh kế của người dân:
1.3.1. Nguồn thu cơ bản cho ngân sách của địa phương.

1.3.2. Nhu cầu đầu tư và thực trạng thực hiện đầu tư cho phát triển bền vững.
a. Nhu cầu đầu tư.
*Nhu cầu đầu tư cho XĐGN
Hiện tại, số hộ nghèo ở tỉnh chiếm tỷ lệ rất cao ( 23,24%). Các huyện miền núi là
những địa bàn có tỷ lệ hộ nghèo cao nhất, có nơi tỷ lệ hộ nghèo chiếm tới trên 50% như
Nam Trà My (63,8%); Tây Giang (57,98%); Nam Giang (55,8%); Bắc Trà My
(51,47%)…vì vậy nhu cầu đầu tư cho xóa đói giảm nghèo luôn được đặt lên hàng đầu.
*Nhu cầu đầu tư cho phát triển kinh tế
Vùng kinh tế miền Trung tuy yếu kém hơn về hạ tầng và nhân lực nhưng lại có
tiềm năng lớn về cảng biển trung chuyển; phát triển du lịch nghỉ dưỡng và di sản thế giới
(khu vực Trung Bộ chiếm 6/7 di sản thế giới tại Việt Nam). … Đây sẽ là một lợi thế rất
lớn để tỉnh Quảng Nam phát huy hết lợi thế của mình nhằm phát triển kinh tế hướng tới
mục tiêu xoá đói giảm nghèo, cải thiện và nâng cao chất lượng cuộc sống của người dân.
Để làm được việc này, thì việc gọi vốn đầu tư cho phát triển kinh tế xã hội của tỉnh Quảng
Nam vẫn là rất lớn.
Lĩnh vực được coi là kinh tế mũi nhọn: gồm công nghiệp chế biến nông- lâm- hải
sản, công nghiệp may mặc xuất khẩu, công nghiệp thực phẩm; ngành dịch vụ -du lịch…
b. Thực trạng thực hiện đầu tư cho phát triển bền vững.
Bằng nhiều nguồn vốn khác nhau như nguồn vốn từ ngân sách tỉnh, TW và các
nguồn vốn khác đã góp phần tích cực vào sự phát triển kinh tế xã hội, môi trường, cải
thiện sinh kế của người dân trên địa bàn tỉnh nói chung, các huyện nói riêng đã góp phần
tạo đà cho nền kinh tế của tỉnh tăng trưởng và nó đã tác động lớn đến các hoạt động sinh
kế của người dân, góp phần ổn định cuộc sống của của người dân trong tỉnh.
Bảng 9 : Tỷ lệ vốn đầu tư so với GDP 2000- 2008 (%)
Năm Vốn đầu tư
(triệu đồng)
GDP giá thực tế
(triệu đồng)
Vốn đầu tư/ GDP (%)
2000 1.420.687

Đông Quảng Nam, làm giảm nhanh tỷ lệ hộ nghèo trên địa bàn.
Bảng 10: Cơ cấu vốn đầu tư thùc hiÖn theo thµnh phÇn kinh tÕ (gi¸ t. tÕ %)
Năm
Tæng

Khu vực Nhà
nước
Khu vực ngoài
Nhà nước
Khu vực cóVĐT
nước ngoài
Nguån vèn kh¸c
2004 100 56,90 33,70 5,34 4,06
2006 100 60,16 28,25 8,24 3,35
2008 100 59,77 24,31 13,39 2,53
Nguồn: NGTK Quảng Nam 2004, 2008
Giai đoạn 1997- 2008 hai lĩnh vực được đầu tư nhiều nhất là dịch vụ với số vốn
chiếm 46,9% tổng số vốn tăng, công nghiệp là 46,1% tổng số vốn tăng; lĩnh vực nông-
lâm- thủy sản chỉ chiếm 4,2%. Tuy nhiên, đầu tư cho công nghiệp và dịch vụ vẫn chưa đủ
mạnh so với mục tiêu chuyển đổi cơ cấu kinh tế của tỉnh. Nhất là chưa cải thiện nhiều vấn
đề sinh kế và gia tăng thu nhập cho phần lớn lực lượng lao động của tỉnh hiện nay vẫn
tham gia chủ yếu vào hoạt động nông, lâm, thủy sản. Đến năm 2008, tỷ trọng đầu tư
ngành nông, lâm, ngư chỉ chiếm 4,8% so với 8 năm trước đây chiếm 13,0% tổng vốn đầu
tư. Như vậy, có thể thấy đầu tư cho nông nghiệp của tỉnh còn ít sẽ làm hạn chế khả năng
chuyển đổi cơ cấu kinh tế trong nông nghiệp, đời sống của một bộ phận người dân chậm
được cải thiện.
Bảng 11: Cơ cấu vốn đầu tư xã hội theo ngành (%)
1997 2000 2005 2008
Tổng 100 100 100 100
1. Nông, lâm thủy sản 11,3 13,0 7,0 4,8

59.050 47 18.760 47 40.290 47
Nông nghiệp 11.400 9 3.920 10 7.480 9
Dịch vụ 54.550 44 17.320 43 37.230 44
Về đầu tư theo ngành, ở giai đoạn 2010-2015, tập trung nhiều hai lĩnh vực công
nghiệp (28-30%),giao thông vận tải (28-30%), sau đó là nông, lâm,ngư nghiệp và cơ sở
hạ tầng xã hội khác. Còn theo lãnh thổ, nguồn vốn sẽ đầu tư nhiều hơn các khu vực nông
thôn. Như vậy, để có được số lượng nguồn vốn đầu tư như tỉnh Quảng Nam cần phải đẩy
mạnh thu hút, huy động và sử dụng có hiệu quả các nguồn vốn để đầu tư phát triển.
1.4. TÀI NGUYÊN VÀ SINH KẾ:
1.4.1 Tài nguyên đất
Tài nguyên đất của Quảng Nam được phân làm 10 nhóm :
Nhóm đất phù sa ven sông chiếm 5,01% tổng diện tích tự nhiên. Phân bố chủ yếu
ở vùng hạ lưu các con sông. Đây là đất quan trọng nhất cho phát triển cây lương thực, cây
thực phẩm và cây công nghiệp ngắn ngày.
Nhóm đất đỏ vàng chiếm 76,23% tổng diện tích đất tự nhiên. Phân bố ở hầu hết ở
các huyện trong tỉnh nhưng tâp trung nhiều ở vùng Trung du, miền núi và rải rác các gò
đồi ở vùng đồng bằng, thuận lợi cho trồng rừng, cây công nghiệp và cây ăn quả dài ngày.
Nhóm đất mặn, đất phèn và đất cát ven biển chiếm 4,47% diện tích tự nhiên. Phân
bố chủ yếu ở khu vực ven biển các huyện Điện Bàn, Hội An, Duy Xuyên, Thăng Bình,
Tam Kỳ và Núi Thành, hiện đang được khai thác cho mục đích nuôi trồng thủy sản và
phát triển du lịch biển. Ngoài ra còn có các nhóm đất đen, đất dốc tụ và đất mòn trơ xói đa
phân bố chủ yếu ở khu vực Trung du và miền núi.
1.4.2 Tài nguyên nước.
Tài nguyên nước ngầm chủ yếu khai thác ở tầng nông phục vụ cho nhu cầu sinh
hoạt và sản xuất của các ngành kinh tế. Phương thức sử dụng nước ngầm thường không
tuân theo quy định: không nắm được đặc điểm địa chất thủy văn, không đảm bảo các yêu
cầu về vệ sinh nên phần lớn các giếng có chất lượng chưa đảm bảo tiêu chuẩn nước sinh
hoạt.
Sự giảm sút diện tích rừng đầu nguồn cộng với việc khai thác, sử dụng nước ngầm
vào mục đích sinh hoạt và cấp nước cho các ngành kinh tế một cách tự phát, thiếu quy

tăng độ rủi ro cho hàng vạn cư dân sống ở khu vực đồng bằng và ven biển nơi hạ nguồn
của hệ thống sông Thu Bồn – Vu Gia.
1.4.4.Tài nguyên biển
Quảng Nam có 125 km đường bờ biến, có nhiều bãi biển cát trắng mịn, rộng, sạch
và đẹp, hiện tại đang kêu gọi thu hút đầu tư về du lịch, khách sạn và nghỉ dưỡng. Ngư
trường Quảng Nam rộng lớn với hơn 40.000 km
2
, hai vùng cửa sông là cửa Đại và An
Hòa với rất nhiều loại hải sản có giá trị kinh tế cao.
Với nguồn lợi thủy hải sản phong phú, cảnh quan sinh thái đẹp thuận lợi cho phát
triển các ngành du lịch biển, khai thác, chế biến và nuôi trồng thủy sản xuất khẩu. Hoạt
động thủy sản ven biển của tỉnh trong những năm qua có những đóng góp quan trọng
trong chương trình xóa đói giảm nghèo, cải thiện sinh kế cho dân nghèo, làm thay đổi bộ
mặt nông thôn vùng ven biển.
Tuy nhiên, vùng biển và ven biển Quảng Nam đang vấp phải những khó khăn và
thách thức lớn trong quá trình khai thác và sử dụng tài nguyên biển như: Trình độ dân trí
còn thấp, cơ hội tạo việc làm còn ít, khai thác quá mức và sử dụng chưa hợp lý các nguồn
tài nguyên biển khiến cho hệ sinh thái rạn san hô, thảm cỏ biển, thảm thực vật ngập mặn
và vùng đất ngập nước ngày càng thu hẹp về diện tích, suy giảm tính đa dạng sinh học.
Các hoạt động sản xuất và dân sinh của cộng đồng dân cư ven biển, các tác động của hoạt
động khai thác cát, ti tan hay việc quy hoạch phát triển các khu đô thị, khu – cụm công
nghiệp gần bờ gây ô nhiễm đất, nước biển và ảnh hưởng tiêu cực đến phát triển lâu dài và
bền vững.
1.4.5 Tài nguyên khoáng sản:
Tài nguyên khoáng sản tỉnh Quảng Nam tương đối phong phú và đa dạng, trong đó
có một số loại có trữ lượng lớn có khả năng khai thác công nghiệp như: than đá ở Nông
Sơn, Ngọc Kinh An Điềm ( trữ lượng khoảng 10 triệu tấn), vàng gốc và sa khoáng ở Bồng
Miêu, Trà Dương, Nam Trà My, Bắc Trà My, cát trắng công nghiệp và vật liệu xây dựng
22
có trữ lượng tương đối lớn ở khu vực Bắc và Đông Bắc của tỉnh. Ngoài ra, trên địa bàn

các huyện trung du, miền núi thì thu nhập chính của các hộ gia đình vẫn là sản xuất nông
nghiệp, trong đó gồm cả trồng trọt và chăn nuôi (Bắc Trà My: 38,7%; Đại Lộc: 73,7%;
Quế Sơn: 49,1%). Với các huyện đồng bằng ven biển thì thu nhập từ nông nghiệp chỉ
mang tính chất phụ thêm hoặc chỉ là của một số nhỏ bộ phận người dân nên tỷ trọng của
nguồn thu nhập này chiếm dưới 10% so với tổng mức thu nhập của họ (Hội An: 6,0%; Núi
Thành: 8,9%). Có một sự chênh lệch lớn về thu nhập từ sản xuất nông nghiệp giữa các
huyện đồng bằng ven biển và các huyện trung du, miền núi: Thu nhập của các huyện trung
du, miền núi cao hơn nhiều so với các huyện đồng bằng ven biển, ví dụ như của Quế Sơn
cao gấp 5,5 lần so với Núi Thành; Đại Lộc cao gấp 8,2 lần so với Núi Thành và gấp 12,2
lần so với Hội An.
Thu nhập từ sản xuất nông nghiệp thường là thấp hơn nhiều so với thu nhập từ các
ngành nghề phi nông nghiệp. Chính vì vậy, những hộ có thu nhập chính từ sản xuất nông
nghiệp là thường là những hộ nghèo.

23
Bảng13: Cơ cấu thu nhập bình quân 12 tháng từ sản xuất nông nghiệp của các
hộ gia đình và theo mức độ kinh tế hộ (%)
Các nguồn thu Bắc
Trà My
Đại Lộc Hội An Núi Thành

Quế Sơn

Tổng 100 100 100 100 100
Trồng trọt 19,5 61,3 5,5 5,6 24,0
Chăn nuôi 19,2 12,4 0,5 3,3 25,1
Khai thác lâm sản 0 0 3,3 16,9 1,9
Khai thác, nuôi trồng thuỷ sản 0 0 22,5 39,1 2,7
Lương/tiền công 40,0 18,0 43,9 18,1 20,8
Buôn bán, kinh doanh dịch vụ 5,0 0 21,2 12,6 18,9

suất
Số
lượng
Công suất

Số
lượng
Công suất
Toàn tỉnh
3.491

65.310

3.674

80.849

183

15.539

TP. Tam Kỳ 302

2.559

269

2.510

- 33


452

7.767

59

1.614

Huyện Quế Sơn 9

197

1

12

- 8

- 185

Huyện Thăng Bình 491

6.419

445

6.872

- 46

- Nguồn vốn/sự tiếp cận tài chính.
- Tiếp cận với khoa học công nghệ
- Tiếp cận thị trường và thông tin thị trường.
- Thiên tai, dịch bệnh như: thời tiết thay đổi, hạn hán, lũ lụt…
- Thiếu các hướng dẫn thích hợp cho trang trại tiêu chuẩn, hoạt động và quản lý.
- Vị trí, khu vực xa xôi không có cơ sở hạ tầng cơ bản/công cộng.
- Cạnh tranh với những người NTTS lớn.
- Các chính sách không nhất quán (môi trường, liên quan đến NTTS ).
- Không tham gia vào các chứng nhận, không thể tiếp cận những thị trường và đảm bảo
giá cả thị trường tốt.
- Lợi nhuận chênh lệch.
- Lợi ích cá nhân với lợi ích nhóm.
Để giải quyết những khó khăn này cần có sự ràng buộc giữa tất cả các biên liên quan như
người dân, cộng đồng làng xã, cán bộ khuyến ngư, các viện nghiên cứu và các cơ quan
của chính phủ…
2.1.3. Sinh kế bằng sản xuất lâm nghiệp (khai thác, trồng và bảo vệ rừng).
Một thế mạnh của tỉnh Quảng Nam là đất lâm nghiệp, chiếm khoảng trên 50% tổng
diện tích đất tự nhiên, với độ che phủ 42,5%, đứng thứ 8 so với các tỉnh trong toàn quốc.
Diện tích rừng trồng được phân bố nhiều ở các huyện như Quế Sơn, Hiệp Đức, Tiên
Phước, Đông Giang, Nông Sơn, Núi Thành, Tây Giang. Các hoạt động lâm nghiệp
thường là sinh kế của các dân cư vùng trung du và miền núi của tỉnh, điều đó đã cải thiện
một phần cuộc sống của người dân, tuy nhiên việc khai thác không hợp lý đang đặt ra
nhiều vấn đề về tài nguyên, thiên tai, môi trường và có ảnh hưởng đến chất lượng cuộc
sống của người dân.
Hiện nay, tỷ trọng hộ lâm nghiệp của tỉnh còn quá nhỏ, trong 8 huyện miền núi thì
mới chỉ có khoảng hơn 200 hộ lâm nghiệp, bình quân một huyện mới có gần 30 hộ. Đời
sống hộ làm rừng chưa được cải thiện. Thu nhập/1 năm của một hộ hiện tại từ sản xuất
lâm nghiệp (khai thác lâm sản) còn chiếm tỷ trọng rất nhỏ (Núi Thành: 16,9%; Quế Sơn:
1,9%; Hội An: 3,3%-nguồn : Tổng điều tra, bảng 1). Vấn đề đặt ra là cần có chính sách
khuyến khích để người làm rừng đủ sống và tiến tới làm giàu bằng nghề rừng.

Dịch vụ :
Quảng Nam còn là một trong những tỉnh có tiềm năng lớn về phát triển du lịch.
Hiện ngành du lịch là ngành kinh tế mũi nhọn của tỉnh. Với hai di sản văn hoá thế giới là
khu đền tháp Mỹ Sơn và đô thị cổ Hội An; trên 20 công trình văn hoá khác, có khoảng
200 di tích lịch sử. Về tự nhiên, tỉnh có hai khu rừng nguyên sinh, 60 địa điểm với nhiều
phong cảnh đẹp như Hồ Phú Ninh (huyện Phú Ninh), Thuận Tình (Hội An)…, bờ biển
đẹp có thế mạnh phát triển du lịch và các đảo du lịch. Hiện tại và trong tương lai, Quảng
Nam là một điểm du lịch hấp dẫn, đóng vai trò rất quan trọng trong việc phát triển du lịch
không chỉ của vùng kinh tế trọng điểm miền Trung mà còn của cả nước.
Với những tiềm năng này, Quảng Nam có nhiều lợi thế trong phát triển các ngành
công nghiệp, dịch vụ- du lịch và đây là một trong những sinh kế của phần lớn người dân ở
vùng ven biển, ở các trung tâm thị trấn, thị tứ của tỉnh.
Tuy công nghiệp, dịch vụ- du lịch chiếm tỷ trọng cao nhưng tỷ lệ lao động toàn tỉnh
làm trong lĩnh vực này hiện mới chỉ chiếm 37,6% (năm 2008) trong cơ cấu lao động. Sự
phát triển của các ngành công nghiệp, dịch vụ- du lịch đã đem lại hiệu quả kinh tế cao, cải
thiện nhiều cuộc sống của người dân nhưng mặt trái của nó hiện đang rất được tỉnh quan

Trích đoạn Sinh kế qua cỏc hoạt động phi nụng nghiệp (cụng nghiệp, buụn bỏn, kinh Vựng đồng bằng và vựng ven biển: Vựng Trung du miền nỳi bao gồm Vựng miền nỳi phớa Bắc (Đụng Giang, Tõy Giang, Nam Giang, Tõy Đại Lộc) và vựng trung du mi ền nỳi phớa Nam (Phước Sơn, Phũng chống tai biến mụi trường.
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status