PHẦN I. MỞ ĐẦU
I .Bối cảnh của đề tài :
Trong nền giáo dục của thế giới nói chung cũng như nền giáo dục ở Việt Nam
nói riêng thì bậc tiểu học là bậc học đặc biệt quan trọng là nền tảng cơ sở ban đầu
cho việc hình thành và phát triển toàn bộ nhân cách học sinh. Việc tổ chức quá
trình hình thành những cơ sở ban đầu của nhân cách con người Việt Nam ở thời đại
mới này là một việc làm công phu, nghiêm túc, không được phép sai lầm. Nó là nền
móng vững chắc cho các em tiến xa hơn cho những cấp học tiếp theo. Trong đó vị
trí môn toán chiếm một vai trò rất quan trọng. Thực hiện theo chỉ đạo của bộ giáo
dục hiện nay, trong dạy học nói chung, môn toán nói riêng, phải dạy theo chuẩn
kiến thức kỹ năng. Việc chuẩn bị tốt kế hoạch bài học theo chuẩn kiến thức kỹ năng
để tiến hành dạy tốt môn toán ở mỗi trường cũng là vấn đề cần giải quyết.
II. Lý do cho chọn đề tài:
Toán học với tư cách là một khoa học nghiên cứu một số mặt của thế giới thực
có hệ thống kiến thức cơ bản và phương pháp nhận thức rất cần thiết cho đời sống,
sinh hoạt và lao động. Đó cũng là những công cụ cần thiết để học các môn học
khác. Khả năng giáo dục nhiều mặt của môn Toán rất to lớn, nó có nhiều khả năng
phát triển những thao tác trí tuệ cần thiết để nhận thức thế giới hiện thực như trừu
tượng hóa, khái quát hóa, phân tích, tổng hợp, so sánh.
Môn Toán trong trường Tiểu học có một vị trí đặc biệt quan trọng. Vì nó
không những giúp HS hiểu được nhiều vấn đề liên quan tới bí ẩn của khoa học mà
nó còn ứng dụng rất nhiều trong thực tế. Không những vậy, môn Toán còn rèn
luyện cho HS những suy nghĩ, cách suy luận, cách giải quyết vấn đề, phát triển trí
thông minh, tính sáng tạo, tạo nên một con người mới đáp ứng được với nhu cầu
phát triển của đất nước .
Để đảm bảo dạy học toán đạt kết quả cao, bộ giáo dục và đào tạo ban hành “
Hướng dẫn thực hiện chuẩn kiến thức kỹ năng các môn học ở Tiểu học” hướng dẫn
trong đó chỉ ra những nội dung nào trong sách giáo khoa là cơ bản, là cốt lõi để
1
dạy cho tất cả mọi học sinh; nội dung nào là phần phát triển dành riêng cho những
học sinh có khả năng có điều kiện giải quyết tất cả các bài tập trong sách giáo khoa.
I. Cơ sở lí luận:
1. Cơ sở khoa học:
Trong dạy học toán nếu không có tính sáng tạo, người giáo viên lên lớp chỉ
truyền thụ kiến thức cho học sinh mà không chú ý đến việc tiếp thu và hình thành
kiến thức thì quá trình dạy học không đạt kết quả cao. Khi đó, học sinh sẽ không
hình thành được các kỹ năng, kỹ xảo dẫn đến các em sẽ chán học, tiếp thu bài thụ
động, dần dần học sinh sẽ mất kiến thức cơ bản.
2. Cơ sở thực tiễn:
- Học sinh học khá giỏi môn toán rất say mê khám phá , luôn tìm ra cách giải
mới, nhanh gọn nhất mà kết quả vẫn đúng. Còn học sinh yếu mất căn bản từ lớp
dưới, chia số tự nhiên có một hai chữ số chia không được, quá trình làm toán rất
chậm hiểu thường hay giải sai, trình bày chưa đúng qui định, đặc biệt là lời văn
trong bài toán không được chuẩn, chưa hay. Bài vở trước khi đến lớp không cần
chuẩn bị, mặt khác sự quan tâm của gia đình các em là rất hạn chế. Mỗi giáo viên
phải có phương pháp dạy học phù hợp từng đối tượng học sinh. Từ đó khuyến
khích tinh thần học tập của các em cao hơn.
II. Thực trạng của vấn đề :
1. Thuận lợi:
1.1 Về phía giáo viên:
- Trình độ của giáo viên đều đạt chuẩn và trên chuẩn, được dự tập huấn và
bồi dưỡng qua lớp thay sách lớp 4- 5, các lớp bồi dưỡng thường xuyên, lớp tập
huấn thực hiện theo chuẩn kiến thức kỹ năng của nhà trường tổ chức, dự các
chuyên đề bồi dưỡng của giáo dục.
- Đồ dùng dạy học khá đầy đủ. Thực hiện giảng dạy môn Toán theo chuẩn
kiến thức và kĩ năng mà bộ giáo dục và đào tạo ban hành.
- Tinh thần trách nhiệm của giáo viên trong tổ rất cao và luôn quan tâm đến
học sinh.
1.2 Về phía học sinh:
3
Học sinh học khá giỏi môn toán rất say mê khám phá, luôn tìm ra cách giải
Bước 2: Đề ra nhiệm vụ: giáo viên xác định nhiệm vụ của từng nhóm và cách
tiến hành hoạt động của nhóm
Bước 3: Các nhóm thực hiện nhiệm vụ.
Bước 4: Đại diện các nhóm trình bày kết quả, nhận xét, bổ sung, đánh giá.
Bước 5: Hoạt động chung của lớp. giáo viên chốt lại kiến thức mới xuất hiện,
đánh giá hoạt động học tập của các nhóm.
1.2 Dạy học phát hiện và giải quyết vấn đề.
- Trong dạy học phát hiện và giải quyết vấn đề, thầy đã tổ chức tình huống có
vấn( nêu vấn đề), tổ chức (hướng dẫn) học sinh hoạt động, giải quyết vấn đề, hình
thành tri thức mới.
- Dạy học giải quyết vấn đề áp dụng vào các quá trình dạy học như:
+ Dạy học giải quyết vấn đề khi hình thành kiến thức mới.
+ Dạy học giải quyết vấn đề khi thực hành, củng cố kiến thức.
+ Dạy học giải quyết vấn đề khi vận dụng kiến thức vào thực tiễn.
1.3 Vận dụng lí thuyết kiến tạo trong dạy học môn Toán .
- Vận dụng lí thuyết kiến tạo trong dạy học môn Toán thì HS là chủ thể tích cực
xây dựng nên kiến thức cho bản thân mình chứ không phải chỉ thu nhận một cách
thụ động từ môi trường bên ngoài. Vận dụng lí thuyết kiến tạo trong dạy học môn
Toán gồm các bước sau:
+ Ôn tập, tái hiện.
+ Nêu vấn đề ( Có thể từ giáo viên hoặc từ học sinh).
+ Tập hợp các ý tưởng của học sinh; so sánh các ý tưởng đó và đề xuất một ý
tưởng chungcủa cả lớp ( hoặc cả nhóm).
+ Dự đoán ( đề xuất giả thuyết).
+ HS kiểm tra giả thuyết ( Thử - Sai).
+ HS phân tích kết quả, trình bày cho nhóm hoặc cả lớp.
+ Rút ra kết luận chung ( tri thức mới).
1.4 Hình thức tổ chức trò chơi trong học tập môn Toán.
5
- Trò chơi học tập là trò chơi có nội dung tri thức gắn với hoạt động học tập của
học theo đối tượng học sinh.
Trong quá trình chuẩn bị và dạy học, giáo viên phải nắm được yêu cầu cần
đạt và các bài tập cần làm của mỗi bài học trong sách giáo khoa để bảo đảm mọi
đối tượng học sinh đều đạt chuẩn kiến thc, kĩ năng của chương trình môn Toán
theo từng chủ đề, từng lớp và toàn cấp Tiểu học, đồng thời phát triển tư duy sáng
tạo cho học sinh khá, giỏi.
2.2 Soạn kế hoạch bài học theo chuẩn kiến thức kỹ năng là một trong những
biện pháp dạy học theo đối tượng học sinh đạt hiệu quả cao.
- Giáo viên soạn giảng dựa vào tài liệu: “ Hướng dẫn thực hiện theo chuẩn
kiến thức, kỹ năng các môn học ở Tiểu học” của Bộ giáo dục và đào tạo, sách giáo
khoa, sách giáo viên để đề ra mục tiêu bài học với yêu cầu đầy đủ 3 phần: kiến
thức, kỹ năng và thái độ. Sau đó lựa chọn phương pháp và hình thức dạy học phù
hợp với từng đối tượng học sinh. Xác định nội dung bài tập nào cần làm cho tất cả
học sinh trong lớp, bài nào dành cho học sinh khá, giỏi.
Ví dụ: Tài liệu HDTH.CKTKN:Lớp 5, trang 49
Tuầ
n
Tên bài dạy Yêu cầu cần đạt Ghi chú, bài tập cần
làm.
10 ……
Cộng hai số
thập phân
(tr 49)
Biết:
- Cộng hai số thập phân.
-Giải bài toán với phép cộng các số
thập phân.
- Bài 1(a, b)
- Bài 2(a, b)
- Bài 3
- Bước 2: Sau khi biết được nguyên nhân vì sao các em không hứng thú
trong môn toán, giáo viên từng bước giải quyết các vấn đề trên. Cụ thể giáo viên sẽ
đọc kỹ nội dung chương trình môn toán lớp 4, 5 đọc kỹ từng bài dạy nắm vững
được mục tiêu bài học để tìm ra phương pháp dạy tối ưu nhất cho từng bài. Với
từng nội dung bài cần tổ chức các hoạt động thích hợp, sao cho gây được hứng thú
để các em tự mình khám phá ra những tri thức mới. Có như thế các em mới nắm
vững được các kiến thức mà mình đã chủ động lĩnh hội được, từ đó các em sẽ học
8
giỏi môn toán, dẫn đến việc các em ham thích học môn toán. Chúng ta đã thực hiện
các biện pháp sau để giúp các em ham thích học môn toán: Xem kỹ nội dung
chương trình môn toán, nội dung từng bài dạy và mục tiêu của mỗi bài để tránh
việc truyền đạt quá tải cho học sinh; phối hợp nhịp nhàng giữa phương pháp và
hình thức tổ chức dạy học sao cho phát huy tính tích cực, chủ động, kích thích sự
hứng thú của học sinh, tránh sự đơn điệu và tẻ nhạt ở mỗi tiết học; tổ chức các hoạt
động trong từng bài để giúp các em tự mình tìm tòi, chủ động phát hiện kiến thức
mới, rèn thêm kỹ năng mới dựa trên các kiến thức và kỹ năng các em đã có.Ví dụ :
Như các em cho phân số là một kiến thức rất mới, rất trừu tượng mà không hề biết
rằng phân số ra đời từ những tình huống quen thuộc, từ cuộc sống của con người.
Các em có thể chia một cái bánh hay chia một quả cam cho nhau, nhận lấy một
phần tư cái bánh hay một nửa quả cam một cách tự nhiên. Vì thế khi dạy phân số,
chúng tôi để cho các em tìm ra phân số như các em đã làm, tổ chức cho các em chia
phần, nhận phần, sau đó mới đưa ra tên gọi, các ký hiệu của toán học; tăng cường
việc dạy hợp tác, thảo luận trong nhóm để phát hiện ra kiến thức mới. Để dạy học
Toán có hiệu quả giáo viên luôn thay đổi không khí giờ học để tạo ra sự thoải mái,
giảm bớt căng thẳng cho học sinh. Nhờ thế, các em sẽ tập trung sự chú ý, tiếp thu
bài tốt hơn. Để thực hiện điều này, tôi tổ chức cho các em giải các câu đố vui toán
học mà mình đã sưu tầm được. Hoạt động này sẽ kích thích sự tò mò và bồi dưỡng
tính hài hước cho các em vì các câu đố thường được viết dưới dạng các câu thơ, các
bài văn vần, các câu hò, vè quen thuộc… rất dí dỏm, vui tươi, ngộ nghĩnh. Ví dụ
như:
+ Góp phần phát hiện để kịp thời bồi dưỡng những học sinh có năng lực đặc
biệt trong học tập toán, đáp ứng sự phát triển ở các trình độ khác nhau ở các cá
nhân.
IV. Hiệu quả của sáng kiến kinh nghiệm:
Qua 25 tuần học thực học, học sinh khối 4, 5 rất thích giờ học toán. Đa số
10
các em có phương pháp học tập tốt, nắm vững kiến thức, đạt kết quả cao. Tuy bước
đầu gặp nhiều khó khăn, nhưng kết quả cho thấy học sinh có nhiều chuyển biến tốt
trong học tập, khả năng tính toán nhanh nhẹn và tính chính xác cao, việc nhận diện
bài toán cũng mau hơn
Bảng phân tích kết quả môn Toán khối 4-5 học kì I năm học 2009-2010
TOÅ
Học lực môn toán
Giỏi Khá T.Bình Yếu
Khối 4 41 (78.8 %) 7 (13.5 %) 4 (7.7 %) 0
Khối 5 28 (50%) 15 (26.8 %) 13 (23.2 %) 0
Tổng cộng 69 ( 63.9%) 22 (20.4%) 17 (15.7%) 0
11
PHẦN III. KẾT LUẬN
I. Những bài học kinh nghiệm
- Phân đối tượng học sinh chính xác .
- Nắm vững mức độ cần đạt và yêu cầu phát triển cho từng đối tượng học
sinh, từng bài.
- Nắm vững qui trình từng bài tập.
- Vận dụng linh hoạt phương pháp dạy học phù hợp từng đối tượng học sinh .
- Giờ tự học toán vừa giúp học sinh ôn lại kiến thức đã học, vừa giúp học
sinh giỏi kiểm tra các bài tập ở nội dung phát triển của các tiết học chính thức chưa
được giải quyết xong .
- Nghiên cứu soạn kỹ kế hoạch bài học trước khi lên lớp.
- Từng bước yêu cầu nâng dần học sinh trung bình lên khá giỏi…
giáo viên tiếp cận với dạy học bằng trình chiếu điện tử.13
14