TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP. HCM
VIỆN ĐÀO TẠO SAU ĐẠI HỌC
TIỂU LUẬN TRIẾT HỌC
Đề tài số 2
THUYẾT ÂM DƯƠNG VÀ ẢNH HƯỞNG CỦA
HỌC THUYẾT ĐẾN PHONG THUỶ CỔ ĐẠI
TRUNG QUỐC
GVHD : TS. BÙI VĂN MƯA
HỌC VIÊN THỰC HIỆN : NGUYỄN THỊ HỒNG VÂN
STT : 83 (NHÓM 9)
LỚP : CAO HỌC NGÀY 4 – K22
TP. Hồ Chí Minh, tháng 12/2012
Tiểu luận: Triết học GV: TS. Bùi Văn Mưa
LỜI MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Sau khi được Thầy hướng dẫn xong Phần I: Đại cương về lịch sử Triết
Học, học viên được lựa chọn đề tài mình yêu thích trong mười ba đề tài Thầy
giao để viết một bài tiểu luận, có lẽ Triết học Trung Quốc đã khiến bản thân
muốn tìm hiểu sâu hơn, rõ hơn mà đặc biệt là Thuyết Âm Dương Ngũ Hành. Có
thể nói, ít có học thuyết nào lại thâm nhập vào nhiều lĩnh vực của tri thức và
được vận dụng để lý giải nhiều vấn đề của tự nhiên, xã hội như học thuyết này.
Cũng chính vì tầm ảnh hưởng rộng lớn của học thuyết qua các thời đại mà học
viên quyết định tìm hiểu về “Thuyết Âm Dương Ngũ Hành & Ảnh Hưởng Của
Học Thuyết Đến Phong Thuỷ Cổ Đại Trung Quốc”.
2. Mục tiêu của đề tài
- Củng cố kiến thức về Thuyết Âm Dương - Ngũ Hành.
- Làm sáng tỏ mối liên hệ giữa Học thuyết Âm Dương - Ngũ Hành &
Phong thuỷ cổ đại Trung Quốc.
3. Giới hạn nghiên cứu
Tìm hiểu về ảnh hưởng của học thuyết Âm Dương - Ngũ Hành đến Phong
Thuỷ cổ đại Trung Quốc.
Âm Dương nhất Thái Cực dã, Thái Cực bản Vô Cực dã. Ngũ hành chi sinh dã,
các nhất kỳ tính. Vô Cực chi chân, nhị ngũ chi tinh, diệu hợp nhi ngưng. Càn đạo
thành nam, Khôn đạo thành nữ. Nhị khí giao cảm, hoá sinh vạn vật. Vạn vật sinh
sinh nhi biến hoá vô cùng yên”
1
“Vô Cực cũng là Thái Cực. Thái Cực động thì sinh ra Dương; động tới
cực điểm thì tĩnh; tĩnh thì sinh ra Âm. Tĩnh tới cực điểm thì trở lại động. Một
động một tĩnh, làm căn bản cho nhau. Phân ra Âm và Dương, thì lưỡng nghi
CHK22 – Lớp ngày 4 2 Nguyễn Thị Hồng Vân
Tiểu luận: Triết học GV: TS. Bùi Văn Mưa
thành lập. Dương biến Âm hợp, thì sinh ra: thuỷ (nước), hoả (lửa), mộc (gỗ), kim
(kim loại), thổ (đất). Ngũ khí (năm khí của ngũ hành) thuận hoà phân bố tạo ra sự
vận hành của tứ thời (bốn mùa). Ngũ hành hợp nhất là Âm Dương. Âm Dương
hợp nhất là Thái Cực. Thái Cực có gốc là Vô Cực. Ngũ hành được sinh ra, mỗi
hành có một tính. Cái chân của Vô Cực và cái tinh của Âm Dương ngũ hành,
diệu hợp thì ngưng tụ. Càn đạo thành nam, Khôn đạo thành nữ. Hai khí Âm
Dương giao cảm, hoá sinh vạn vật. Vạn vật sinh sôi biến hoá vô cùng”.
1
Có thể thấy tất cả mọi sự vật của giới tự nhiên đểu tồn tại hai mặt Âm
Dương, đồng thời do sự kết hợp biến hoá của Âm Dương mà thúc đẩy mọi sự vật
phát triển. Chính vì điều này, học thuyết Âm Dương đã trở thành một trong
những quy luật căn bản của giới tự nhiên, Vì vậy trong Tố Vấn - Ứng Tượng Đại
Luận có viết: “Âm Dương giả, thiên địa chi đạo dã, vạn vật chi kỷ cương, biến
hóa chi phụ mẫu, Sinh sát chi bản thủy, Thần minh chi phủ dã” (Âm Dương là
đạo của trời đất, là kỷ cương của vạn vật, là cha mẹ của biến hoá, là nguồn gốc
của sinh diệt, là nơi trú ngụ của thần minh)
1.2.2 Lý luận của Ngũ Hành
Sự đề cập đầu tiên về ngũ hành được thấy trong tác phẩm Kinh Thư ở
chương Hồng Phạm có viết rằng: Ngũ Hành về mặt tự nhiên được hình thành
bằng tên của năm loại vật chất cụ thể (Kim, Mộc, Thuỷ, Hoả, Thổ) và kèm theo
phong có nghĩa là “gió” là hiện tượng không khí chuyển động, thuỷ có nghĩa là
“nước”, là dòng nước, tượng trưng cho địa thế.
Còn Hong – Key Yoon cho rằng: Phong thủy là hệ thống đánh giá cảnh
quan nhằm tìm kiếm địa điểm lý tưởng cho công trình kiến trúc. Đó là một nghệ
thuật lựa chọn địa điểm và bố cục của địa lý cổ đại Trung Quốc, vì vậy không thể
căn cứ vào khái niệm của phương Tây mà đơn giản cho đó là dự mê tín hay khoa
học. Hệ thống lựa chọn địa điểm độc đáo này của Trung Quốc vừa mang yếu tố
khoa học, vừa mang sắc thái mê tín.
2
1.3.2 Nguồn gốc Phong Thuỷ
Thực ra không thể chắc chắn Phong thuỷ xuất hiện từ khi nào. Có lẽ ngay
từ khi con người xuất hiện trên trái đất này thì họ đã có tư duy về phong thuỷ. Họ
sống không thể tách rời môi trường xung quanh. Có những môi trường tốt, thoải
CHK22 – Lớp ngày 4 4 Nguyễn Thị Hồng Vân
Tiểu luận: Triết học GV: TS. Bùi Văn Mưa
mái, an toàn và khiến con người làm việc tốt hơn, thành công hơn; nhưng cũng
có những môi trường bất lợi, nguy hiểm, bất tiện khiến cuộc sống của con người
không phát triển thuận lợi. Chính vì vậy, ngay từ thời cổ xưa, con người đã biết
lựa chọn nơi ở thuận tiện cho sinh hoạt nhằm thích ứng với thiên nhiên.
Từ thời thượng cổ, con người sống theo lối du canh, du cư, trải qua một
quá trình tiến hóa đến định canh, định cư và bắt đầu chú ý đến nơi ăn ở sao cho
thích hợp, tiện lợi rồi tiến tới kiến tạo phòng ốc để ở cho thật an lành, thoải mái,
giàu có Những kinh nghiệm về cư trú được tích lũy từ đời này qua đời khác đã
hình thành nên Phong thủy học.
Tại Trung Quốc, từ đời nhà Chu, con người đặc biệt chú trọng nơi cư trú
và chọn đất ở vùng bình nguyên để xây nhà, đây là vùng đất mầu mỡ, có thể canh
tác nông nghiệp thuận lợi. Gần nguồn nước mà vẫn tránh được lụt lội, tai họa
thời tiết, thiên tai. Thời kì Tiên Tần, do trình độ khoa học còn thấp, các hình thức
bói toán dự đoán cát hung thịnh hành trong xã hội gắn liền với hoạt động xây
dựng nhà ở và mai táng. Các văn hiến như Bốc trạch, Bốc cư, Bốc lạc phản ánh
biến hoá của tự nhiên, xã hội. Các hành này cùng kết hợp với các màu sắc, mùa
màng, phương hướng, tinh tú, các phủ tạng trong người v.v…Phong thủy dùng
chu kỳ của các màu sắc để điều chỉnh khí.
Người Trung Quốc cổ đại xem vùng đất Quan Trung và trung du Hoàng
Hà là Địa Trung. Phía Đông Địa Trung khí hậu ôn hoà, đất có màu xanh, vì thế
Mộc tương ứng với mùa Xuân, hướng Đông và màu xanh; phía Nam Địa Trung,
CHK22 – Lớp ngày 4 6 Nguyễn Thị Hồng Vân
Tiểu luận: Triết học GV: TS. Bùi Văn Mưa
khí hậu oi bức, nhiệt độ cao mưa nhiều, khắp nơi là đất đỏ, vì thế Hoà tương ứng
với mùa Hạ, hướng Nam và màu đỏ; phía Tây Địa Trung khí hậu ấm áp mát mẻ,
đất khô ráo, màu trắng xám như bột, do đó Kim tương ứng với mùa Thu, hướng
Tây và màu trắng; hướng Bắc Địa Trung, khí hậu giá lạnh, đất đen màu mỡ, do
đó Thuỷ tương ứng với mùa Đông, hướng Bắc và màu đen; khí hậu Địa Trung dễ
thích nghi, đất vàng bao phủ, do đó Thổ tương ứng với mùa Hạ kéo dài và bốn
mùa, chính giữa, màu vàng.
5
Chính Tần Thuỷ Hoàng cũng sử dụng học thuyết Ngũ Hành tương khắc,
ông cho rằng nhà Chu là Hoả, Tần muôn thay thế Chu phải dùng Thuỷ, nên Tần
Thuỷ Hoàng đã sửa năm, tất cả những ngày lành tháng tốt của Triều đình đều bắt
đầu từ ngày mồng một tháng mười Âm Lịch, trang phục, cờ hiệu đều là màu đen.
Từ đó về sau, việc thay đổi triều đại đều được dùng Ngũ hành tuần hoàn để giải
thích.
2.2 Nguyên tắc về “Nước”, “Gió”, “Khí” & “Đất” trong phong thuỷ
2.2.1 Nguyên tắc về “Nước” trong phong thuỷ
Núi là vật thể đứng yên thuộc Âm. Nước là vật thể chuyển động thuộc
Dương. Âm là cố định không đổi, Dương thì thay đổi bất thường. Sự lành dữ có
liên quan mật thiết với nước. Núi có thể ví như cơ thể con người, còn nước ví
như mạch máu trong cơ thể. Sự sinh trưởng, giá yếu của cơ thể được quyết định
bởi tình trạng của mạch máu. Đây là quy luật tự nhiên của đời người, không trừ
một ai. Chính vì vậy mà hướng chảy của dòng nước phải chính xác, vị trí của sơn
của gió trong Phong Thuỷ.
2.3 Phong thuỷ & cách lựa chọn bố cục xây dựng Cố đô của Trung Quốc
thời cổ đại
Việc lựa chọn địa điểm xây kinh đô thời Trung Quốc cổ đại là một sự
nghiệp vô cùng hệ trọng, nó liên quan đến sự nghiệp sau này có hưng thịnh và
phát đạt hay không, đồng thời còn liên quan đến vận mệnh và tiền đồ của dân
tộc, quốc gia sau này, do đó cần phải xem xét thận trọng.
CHK22 – Lớp ngày 4 8 Nguyễn Thị Hồng Vân
Tiểu luận: Triết học GV: TS. Bùi Văn Mưa
Ví như cố đô Bắc Kinh là một kiểu mẫu kiệt xuất về Phong Thuỷ trong
lịch sử lựa chọn bố cục và xây dựng cố đô của Trung Quốc thời cổ đại. Thành
Bắc Kinh toạ lạc ở phía Bắc của đồng bằng Hoa Bắc, là điểm nút giao hội của
đồng bằng và đồi núi. Nơi này cũng nằm ở đỉnh chóp gò đồi dưới chân dãy núi
Thái Hàng phía Tây và đại dương phía Đông. Vừa nằm giữa sông Vĩnh Định và
sông Triều Bạch, vừa ở gần những dòng sông nhỏ Ngọc Tuyền, Cao Lương,
Thấp Dư, … Phía Bắc có núi Thái Hàng, núi Quân Đô tạo thành eo núi hình bán
nguyệt, phía Nam có sông lớn, thời cổ đại còn có hồ, đầm. Theo thuật ngữ Phong
Thuỷ, đây quả là “vùng đất tàng phong tụ khí như các nhà Kham Dư đã nói”.
Sơn mạch của Thái Hàng Sơn nguy nga, uốn lượn chạy dài từ Nam đến
Bắc, phía Bắc kinh thành, sơn mạch của Yên Sơn hùng vĩ trải ra xung quanh bảo
vệ kinh đô, hai sơn mạch giao hội, hợp lại hình thành nên cái gọi là “Long mạch”
được nói đến trong Phong Thuỷ. Rừng cây che phủ núi đồi, bao phủ một màu
xanh biếc, khói mây mịt mù. Ngay tại vùng núi xanh này có sông Vĩnh Định
được hợp thành bởi sông Tang Cán bắt nguồn từ cao nguyên Hoàng Thổ và sông
Dương Hà bắt nguồn từ cao nguyên Mông Cổ. Sông Vĩnh Định cuồn cuộn trào
dâng, chảy ngang qua vùng núi thẳm rừng sâu, chảy đến Tam Gia Điếm ở phía
Tây Bắc Kinh, đổ thẳng xuống thung lũng. Do nằm giữa vùng bao bọc của núi
sông nên thành Bắc Kinh có khí hậu ấm áp, đất đai màu mỡ, những yếu tố này
phù hợp với yêu cầu “tàng phong tụ khí” trong Phong Thuỷ, là bố cục tốt nhất có
lợi về mặt sinh thái.
1.3.1 Định nghĩa phong thuỷ 4
1.3.2 Nguồn gốc Phong Thuỷ 4
CHƯƠNG 2: ẢNH HƯỞNG CỦA THUYẾT ÂM DƯƠNG – NGŨ HÀNH ĐẾN PHONG
THUỶ CỔ ĐẠI TRUNG QUỐC 6
2.1 Học thuyết Âm dương – Ngũ hành & phong thuỷ 6
2.1.1 Học thuyết Âm dương & phong thuỷ 6
2.1.2 Học thuyết Ngũ hành & phong thuỷ 6
2.2 Nguyên tắc về \“Nước\ 7
2.2.1 Nguyên tắc về \“Nước\ 7
2.2.2 Nguyên tắc về \“Gió\ 8
2.3 Phong thuỷ & cách lựa chọn bố cục xây dựng Cố đô của Trung Quốc thời cổ đại
8
KẾT LUẬN 10
TÀI LIỆU THAM KHẢO – CHỈ MỤC 12
CHK22 – Lớp ngày 4 11 Nguyễn Thị Hồng Vân
Tiểu luận: Triết học GV: TS. Bùi Văn Mưa
TÀI LIỆU THAM KHẢO – CHỈ MỤC
1
Thái Cực Đồ Thuyết và Thông Tư của Chu Liêm Khê: Phùng Hữu Lan, Lê Anh
Minh dịch và phụ chú.
2
Phong thuỷ cổ đại Trung Quốc lý luận và thực tiễn – tập 1, NXB tổng hộp
Tp.HCM, 2009, tr.64.
3
Nguồn http://phapluatxahoi.vn/ky-1-nguon-goc-phat-sinh-thuat-phong-thuy.htm
4
Phong thuỷ cổ đại Trung Quốc lý luận và thực tiễn – tập 1, NXB tổng hộp
Tp.HCM, 2009, tr.135.
5
Phong thuỷ cổ đại Trung Quốc lý luận và thực tiễn – tập 1, NXB tổng hộp