Số hóa bởi trung tâm học liệu
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
NGUYỄN THỊ KIM CHUNG
NGHIÊN CỨU KHẢ NĂNG SINH TRƢỞNG, NĂNG SUẤT
VÀ CHẤT LƢỢNG MỘT SỐ GIỐNG NGÔ NẾP LAI
TẠI TỈNH BẮC GIANG
Chuyên ngành : Khoa học cây trồng
Mã số : 60 62 01 10
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC NÔNG NGHIỆP Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: PGS.TS. Luân Thị Đẹp
Số hóa bởi trung tâm học liệu
ii
LỜI CẢM ƠN
Trong thời gian thực tập và thực hiện đề tài này, tôi đã nhận được sự
quan tâm giúp đỡ của Ban giám hiệu Trường Đại học Nông Lâm Thái
Nguyên, phòng quản lý đào tạo sau đại học, khoa nông học, các thầy giáo, cô
giáo, bạn bè, đồng nghiệp, cơ quan và gia đình.
Trước tiên tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới cô giáo PGS.TS Luân Thị Đẹp
đã tận tình hướng dẫn khoa học, chỉ bảo và tạo mọi điều kiện giúp đỡ tôi hoàn thành luận
văn này.
Đồng thời tôi xin trân thành cảm ơn tới toàn thể các thầy giáo, cô giáo
trong phòng Quản lý đào tạo Sau đại học, khoa Nông học,các thầy giáo, cô
giáo giảng dạy chuyên nghành Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên đã
tạo điều kiện giúp đỡ tôi trong quá trình học tập và hoàn thành luận văn này.
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sự động viên khích lệ của gia đình, bạn bè và
đồng nghiệp trong suốt thời gian làm luận văn.
Một lần nữa tôi trân trọng cảm ơn ! Thái Nguyên, ngày 01 tháng 10 năm 2013
Học viên Nguyễn Thị Kim Chung
2.3.3. Quy trình kỹ thuật áp dụng trong thí nghiệm . 22
2.4. Phương pháp nghiên cứu 23
2.4.1. Phương pháp bố trí thí nghiệm 23
Chƣơng 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 29
3.1. Các giai đoạn sinh trưởng và phát triển của các giống ngô nếp thí
nghiệm vụ xuân và vụ hè năm 2012 29
Số hóa bởi trung tâm học liệu
iv
3.1.1. Một số giai đoạn sinh trưởng chính 29
3.1.2. Một số chỉ tiêu về hình thái, sinh lý của các giống ngô nếp thí
nghiệm 31
3.1.3. Trạng thái cây, trạng thái bắp, độ bao bắp, màu hạt, dạng hạt của
các giống ngô thí nghiệm 34
3.2. Mức độ nhiễm sâu bệnh và khả năng chống chịu điều kiện bất thuận
của các giống ngô thí nghiệm. 36
3.3. Các yếu tố cấu thành năng suất, năng suất và phẩm chất của các giống
ngô thí nghiệm vụ xuân và vụ hè 2012 40
3.3.1. Các yếu tố cấu thành năng suất và năng suất 40
3.3.2. Chỉ tiêu chất lượng của các giống ngô thí nghiệm trong vụ xuân và
hè năm 2012 47
3.4. Kết quả xây dựng mô hình thử nghiệm và hiệu quả kinh tế đối với
giống ngô HN88 vụ xuân 2013 48
3.4.1. Kết quả xây dựng mô hình thử nghiệm 48
3.4.2. Hiệu quả kinh tế từ mô hình trồng thử nghiệm 49
KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 51
1. Kết luận 51
2. Đề nghị 51
TÀI LIỆU THAM KHẢO 52
P1000 hạt
: Khối lượng 1000 hạt
TGST
: Thời gian sinh trưởng Số hóa bởi trung tâm học liệu
vi
DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU
Bảng 1.1: Diện tích, năng suất, sản lượng ngô, lúa mì và lúa nước
của thế giới năm 2011 5
Bảng 1.2: Tình hình sản xuất ngô của thế giới giai đoạn 2007- 2011 6
Bảng 1.3: Tình hình sản xuất ngô của một số nước trên thế giới năm 2012 7
Bảng 1.4: Dự báo nhu cầu ngô thế giới đến năm 2020 8
Bảng 1.5: Diện tích, năng suất, sản lượng ngô Việt Nam năm 2008 - 2012 11
Bảng 1.6: Sản xuất ngô của Bắc Giang giai đoạn 2006 – 2011 13
Bảng 3.1: Các giai đoạn sinh trưởng của các giống ngô nếp thí
nghiệm vụ xuân và vụ hè năm 2012 30
Bảng 3.2: Một số đặc điểm hình thái của các giống ngô thí nghiệm
vụ xuân và vụ hè năm 2012 32
Bảng 3.3: Số lá và chỉ số diện tích lá của các giống ngô thí nghiệm 33
vụ xuân và vụ hè năm 2012 33
Bảng 3.4: Trạng thái cây, trạng thái bắp, độ bao bắp, màu hạt, dạng
hạt của các giống ngô thí nghiệm 35
Bảng 3.5: Mức độ nhiễm các loại sâu bệnh hại chính của các giống
ngô thí nghiệm vụ xuân và vụ hè năm 2012 37
Bảng 3.6: Khả năng chống chịu điều kiện bất thuận của các giống
ngô thí nghiệm vụ xuân và hè năm 2012 39
nhà máy thức ăn gia súc tổng hợp, ngô còn là nguyên liệu cho các nhà máy
sản xuất rượu cồn, tinh bột, dầu, glucôza, bánh kẹo…Người ta đã sản xuất ra
khoảng trên 670 loại sản phẩm từ ngô bằng công nghiệp lương thực, thực
phẩm, công nghiệp nhẹ và dược phẩm. (Ngô Hữu Tình, 1997) [16].
Theo Đại học tổng hợp Iowa (IFPRI 2007)[31], để hạn chế khai thác
dầu mỏ - nguồn tài nguyên không tái tạo được đang cạn kiệt dần, ngô được
dùng làm nguyên liệu chế biến ethanol, thay thế một phần nhiên liệu xăng dầu
chạy ô tô tại Mỹ, Braxin, Trung Quốc…
Số hóa bởi trung tâm học liệu
2
Trong những năm gần đây, khi mà đời sống của con người ngày một
nâng cao thì nhu cầu sử dụng ngô làm thực phẩm ngày càng lớn, người ta
dùng bắp ngô bao tử làm rau cao cấp có hàm lượng dinh dưỡng cao và sạch,
các loại ngô nếp, ngô đường (ngô ngọt) được dùng để làm quà ăn tươi (luộc,
nướng), chế biến thành các món ăn được nhiều người ưa chuộng như ngô
chiên, súp ngô, snack ngô hoặc đóng hộp làm thực phẩm xuất khẩu, việc xuất
khẩu các loại ngô thực phẩm mang lại hiệu quả kinh tế đáng kể cho một số
nước như Thái Lan, Đài Loan Ngoài sản phẩm chính, thân, lá ngô còn là
một thức ăn xanh và ủ chua lý tưởng cho đại gia súc đặc biệt là bò sữa.
Với ngô nếp, nhờ tinh bột có tính chất đặc biệt chủ yếu là Amynopectin,
đồng thời có giá trị dinh dưỡng cao, giàu Lizin và Triptophan, từ lâu nó đã là
nguồn lương thực quý của đồng bào dân tộc miền núi ở Đông nam Á và là
nguồn nguyên liệu cho ngành công nghiệp, đặc biệt công nghiệp dệt. Gần đây
vai trò của ngô nếp ngày càng được nâng lên nhờ những thành tựu trong việc
nghiên cứu chọn tạo và mở rộng những giống ngô nếp lai cho năng suất cao
mà vẫn giữ được chất lượng đặc biệt của nó, do vậy việc sử dụng ngô nếp ăn
tươi được nhiều người tiêu dùng ưa chuộng. Ngô nếp là cây trồng đã được
nông dân Bắc Giang chọn và trồng ở nhiều địa phương để phục vụ cho nhu
Số hóa bởi trung tâm học liệu
4
Chƣơng 1
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1. Cơ sở khoa học
Thực tiễn sản xuất nông nghiệp trên thế giới cũng như trong nước khẳng
định giống cây trồng là một trong những nhân tố quyết định đến năng suất,
chất lượng và hiệu quả của sản xuất nông nghiệp. Nhờ có bộ giống cây trồng
phong phú đa dạng chúng ta đang thực hiện chuyển đổi cơ cấu cây trồng, mùa
vụ nhằm khai thác hiệu quả hơn tiềm năng và khắc phục những hạn chế về đất
đai, thời tiết khí hậu của nước ta, làm đa dạng hóa sản phẩm nông nghiệp theo
hướng sản xuất hàng hóa, thực hiện công nghiệp hóa hiện đại hóa nông
nghiệp và nông thôn.
Sản xuất nông nghiệp là đòn bẩy thúc đẩy các ngành khác phát triển như
chăn nuôi, công nghiệp chế biến, dịch vụ hàng hóa…do vậy việc tăng năng
suất, chất lượng cây trồng là rất cần thiết. Tuy nhiên năng suất, chất lượng cây
ISAAA) [1].
Bảng 1.1: Diện tích, năng suất, sản lƣợng ngô, lúa mì và lúa nƣớc
của thế giới năm 2011
Loại cây
trồng
Diện tích
(triệu ha)
Năng suất
(tạ/ha)
Sản lƣợng
(triệu tấn)
Ngô
170,39
51,85
883,46
Lúa mì
220,39
31,95
704,08
Lúa nước
164,13
44,04
772,76
(Nguồn: FAOSTAT, 2012; USDA, 2012)[27,38]
Ngành sản xuất ngô trên thế giới tăng liên tục từ đầu thế kỷ 20 đến nay,
Năm 2011 diện tích ngô đã vượt qua lúa nước, với 170,39 triệu ha, năng suất
51,85 tạ/ha và sản lượng đạt kỷ lục 883,46 triệu tấn. Trong hơn 40 năm qua,
ngô là cây trồng có tốc độ tăng trưởng về năng suất cao nhất trong các cây
lương thực chủ yếu. So với năm 1961, năm 2011 năng suất ngô trung bình
820,60
2011
170,39
51,85
883,46
(Nguồn FAOSTAT và USDA, 2012)[27,38]
Số liệu bảng 1.2 cho thấy diện tích trồng ngô tăng từ 159,9 triệu ha (năm
2007) lên 170,39 triệu ha (năm 2011). Năng suất ngô tăng giảm qua các năm
nhưng không đáng kể, biến động từ 49,5 tạ/ha (năm 2007) đến 51,85 tạ/ha
(năm 2011). Do diện tích và năng suất tăng nên năm 2011 sản lượng ngô đạt
cao nhất trong 5 năm gần đây. Có được kết quả trên, trước hết là nhờ ứng
dụng rộng rãi lý thuyết ưu thế lai trong chọn tạo giống, đồng thời không
ngừng cải thiện các biện pháp kỹ thuật canh tác.
Đặc biệt từ năm 1996, cùng với những thành tựu mới trong chọn giống
ngô lai nhờ kết hợp phương pháp truyền thống với công nghệ sinh học thì
việc ứng dụng công nghệ cao trong canh tác ngô đã góp phần đưa sản lượng
ngô thế giới vượt lên trên lúa mì và lúa nước, năng suất ngô đã tăng 1,83 lần
trong vòng 30 năm (1960 - 1990), đặc biệt các nước có điều kiện thâm canh
cao như Mỹ, Trung Quốc, Brazil.Tình hình sản xuất ngô của một số nước trên
thế giới được trình bày ở bảng 1.3
Số hóa bởi trung tâm học liệu
7
Bảng 1.3: Tình hình sản xuất ngô của một số nƣớc trên thế giới năm 2012
Nƣớc
Diện tích
(triệu ha)
Năng suất
(tạ/ha)
Hy Lạp
0,175
114,29
2,000
Israel
0,334
255,56
0,854
(Nguồn FAOSTAT, 8/2013) [27]
Số liệu bảng 1.4 cho thấy:
Mỹ là nước trồng ngô nhiều nhất trên thế giới, năm 2012 diện tích trồng
ngô đạt 35,360 triệu ha, với năng suất là 77,44 tạ/ha, sản lượng 273,832 triệu
tấn, chiếm hơn 44,7% tổng sản lượng ngô thế giới. Theo Rinke E (1979) [36]
việc sử dụng các giống ngô lai ở Mỹ bắt đầu từ năm 1930. Hiện nay 100%
diện tích ngô của Mỹ là trồng các giống ngô lai, trong đó hơn 90% là giống
ngô lai đơn (Ngô Hữu Tình, 2009) [19]. Nhiều thí nghiệm ở Mỹ về các giống
ngô lai đơn đã cho năng suất đạt 25 tấn/ha/vụ, Người ta đã tính được mức độ
tăng năng suất ngô ở Mỹ trong giai đoạn 1930 - 1986 là 103 kg/ha/năm, trong
đó sự đóng góp do cải tiến nền di truyền là 63 kg/ha/năm.
Kết quả đó có được là nhờ ứng dụng công nghệ sinh học trong sản
xuất.Theo Ming Tang Chang và cộng sự (2005) [34] cho biết: Ở Mỹ chỉ còn
48% giống ngô được chọn tạo theo công nghệ truyền thống, 52% là bằng công
nghệ sinh học. Năng suất ngô ở Mỹ đã tăng từ 1,5 tấn/ha vào năm 1930 đến 7
tấn/ha vào những năm 1990 (SK,Vasal et al, 1990) [41]. Năm 2012 tổng sản
lượng ngô của Mỹ là 273,832 triệu tấn/ha, trên diện tích 35,360 triệu ha.
Số hóa bởi trung tâm học liệu
8
Trung Quốc là nước đứng thứ 2 trên thế giới về diện tích trồng ngô, năm
Các nước đang phát triển
295
508
72
Đông Á
136
252
85
Nam Á
14
19
36
Cận Sahara – Châu Phi
29
52
79
Mỹ Latinh
75
118
57
Tây và Bắc Phi
18
28
56
(Nguồn: IPRI 2003) [30]
Số hóa bởi trung tâm học liệu
9
Số liệu bảng 1.4 cho thấy đến năm 2020, nhu cầu ngô thế giới tăng 45%
10
Philipin cũng đã sử dụng ngô chuyển gen từ mấy năm gần đây. Theo Vũ Đức
Quang và cs, hiện nay ở Việt Nam cũng đã trồng ngô, lúa và bông chuyển gen
ở một số địa phương (Vũ Đức Quang và cs, 2005) [11].
Trung tâm cải tạo ngô và lúa mỳ Quốc tế (CIMMYT), đã xây dựng,
cải thiện và phát triển khối lượng lớn nguồn nguyên liệu, vốn gen, các quần
thể và giống thí nghiệm, cung cấp cho khoảng hơn 80 nước trên thế giới
thông qua mạng lưới khảo nghiệm giống quốc tế. Các nguồn nguyên liệu
mà chương trình ngô CIMMYT cung cấp cho các nước là cơ sở cho
chương trình tạo dòng và giống ngô lai 9 Ngô Hữu Tình và cs, 1999) [17].
Năm 1985, chương trình ngô lai của CIMMYT được tiến hành với mục tiêu
phát triển các vật liệu mới phục vụ chọn tạo giống lai, tích lũy và công bố
KNKH và các nhóm ưu thế lai của các vật liệu nhiệt đới và cận nhiệt đới
mà CIMMYT đã có, đồng thời tiến hành tạo dòng thuần, gần đây
CIMMYT đẩy mạnh chương trình tạo giống ngô chất lượng Prôtêin cao và
đạt được những kết quả quan trọng
1.3. Tình hình sản xuất và nghiên cứu ngô ở Việt Nam
Ngô được đưa vào trồng ở nước ta từ cuối thế kỷ 17 (Ngô Hữu Tình và
cs, 1999)[17], đã trở thành cây lương thực quan trọng thứ 2 sau lúa nước.
Song, với nền canh tác quảng canh với chủ yếu là giống ngô đá và ngô nếp
địa phương, năng suất thấp. Năng suất ngô của Việt Nam những năm 1960
chỉ đạt 1 tấn/ha, với diện tích hơn 200 ha và sản lượng hơn 400.000 tấn, do
vẫn trồng các giống ngô địa phương với kỹ thuật canh tác lạc hậu. Từ những
năm 1980 trở lại đây, nhờ hợp tác với trung tâm cải tạo ngô và lúa mỳ Quốc
tế (CIMMYT), nhiều giống ngô cải tiến đã được đưa vào trồng ở nước ta như
giống TPTD VM1, HSB1, TH2A, TSB1,TSB2,MSB49, Q2,CV1…góp phần
nâng cao năng suất lên gần gấp 15 tạ/ha vào đầu những năm 1990 trở lại đây.
Tuy nhiên ngành sản xuất ngô ở nước ta thực sự đã có bước tiến nhảy vọt là
từ đầu những năm 1990 đến nay, gắn liền với việc không ngừng mở rộng
2010
1,126
40,9
4,607
2011
1,121
43,1
4,836
2012
1,118
42,9
4,803
(Nguồn: Tổng cục thống kê, 2013 )[20]
Số liệu bảng 1.5 cho thấy diện tích trồng ngô ở việt Nam 5 năm qua biến
động từ 1,089 triệu ha (năm 2009) đến 1,440 triệu ha (năm 2008). Cây ngô
được đánh giá là cây trồng có vai trò hết sức quan trọng trong cơ cấu cây
trồng ở nước ta, năm 2012 sản lượng đạt trên 4,803 triệu tấn. Năng suất ngô
tăng dần, năm 2008 đạt 31,8 tạ/ha, sau đó tăng dần qua các năm, đến năm
2011 và 2012 đạt năng suất cao nhất (42,9 – 43,1 tạ/ha). Tuy vậy sản xuất ngô
trong nước vẫn chưa đáp ứng đủ nhu cầu, hàng năm nước ta phải nhập khẩu
lượng lớn ngô nguyên liệu cho chế biến thức ăn chăn nuôi.
Số hóa bởi trung tâm học liệu
12
Những năm qua nhà nước cũng đã hết sức quan tâm đầu tư cho việc
nghiên cứu phát triển cây ngô: 2 dự án phát triển giống ngô lai đã được đầu tư
đó là dự án phát triển giống ngô lai giai đoạn 2006-2010 (đã kết thúc) và dự
án phát triển sản xuất giống ngô lai giai đoạn 2011- 2015 (đang triển khai)
(Báo cáo Cục trồng trọt) [3].
Cầu và sông Lục Nam.
Trong những năm gần đây, ngoài việc phát triển mạnh công nghiệp, dịch
vụ và đô thị, Bắc Giang còn là một trong những tỉnh đi đầu trong việc áp
dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất nông nghiệp, đặc biệt là công
tác hỗ trợ giống cây trồng mới thông qua kênh khuyến nông như các giống
lúa lai 3 dòng Syn 6, Đắc ưu 11, AZ BTE 1, HTK 99, … Các giống ngô
LVN4, LVN10, NK4300, Bioseed 06, LVN 98, MX2, MX4, MX10 Các
giống lạc L04, LD7, L14. Với những thuận lợi như trên nên năng suất và sản
lượng lương thực của Bắc Giang tăng rõ rệt.
Bảng 1.6: Sản xuất ngô của Bắc Giang giai đoạn 2006 – 2011
Năm
Diện tích
(1000ha)
Năng suất
(tạ/ha)
Sản lƣợng
(1000 tấn)
2007
14,242
34,9
49,649
2008
15,589
32,7
50,955
2009
11,964
34,2
40,892
2010
quy định bởi đơn gen lặn đó là gen wx. Gen wx là gen lấn át gen khác để tạo
tinh bột dạng nhỏ (Peter Thompson, 2005) [35], (Fergason, 1994; Garwood
và Creech, 1972; Hallauer,1994) [26], [28],[29], thì gen wx nằm ở locus 5S-
56 có biểu hiện gen opaque, do vậy hạt ngô nếp cũng giàu lyzin, triptophan và
protein.
Có giả thuyết cho rằng ngô nếp có nguồn gốc ở Đông Nam Á trong đó
Trung Quốc, Miến Điện, Philippin là quê hương đầu tiên của nó, nhưng sau
đó người ta thấy rằng đó là kết quả của một đột biến thông thường của các
giống ngô răng ngựa kiểu gen Wx và gắn liền các điều kiện trồng trọt không
bình thường đột biến gen lặn wx, chúng có thể xuất hiện ở các vùng khác
nhau trên trái đất (Grebensc 1954, dẫn theo Nguyễn Thị Lâm, 1997) [8].
Theo James L. Brewbaker (Brewbaker, 1998) [32], quá trình chọn lọc tự
nhiên đã tạo ra những đột biến như Sugaryl (với phytoglycogen cao) ở dãy
núi Andes và đông bắc nước mỹ, đột biến 2 là waxyl (tinh bột của hạt có cấu
tạo bởi Amylopectin) ở châu Á với các giống được chọn lọc có vỏ mềm.
những giống nếp lai và các giống nếp thường, với đặc điểm dẻo, thơm ngon
rất thông dụng ở châu Á như: Hàn Quốc, Philippin, thái Lan, Trung Quốc,
Việt Nam và nhiều quốc gia khác (US. Grains Council, 2001) [39].
Số hóa bởi trung tâm học liệu
15
1.5.2. Tình hình nghiên cứu và sử dụng ngô nếp trên thế giới
Theo Tomob, để chọn giống ngô nếp người ta dùng vật liệu ban đầu từ
các giống ngô nếp địa phương của Trung Quốc, ngô nếp Cracnoda hoặc
nguồn ngô nếp đột biến tự nhiên hay đột biến nhân tạo như là donor. Từ
nguồn vật liệu chọn lọc ban đầu, thông qua tự phối và chọn lọc cá thể dựa vào
nội nhũ nếp và các đặc tính nông học khác để tạo dòng thuần. Còn tạo các
đồng đẳng ngô nếp từ nguồn ngô thường thì người ta cho lai ngô nếp và ngô
thường với nhau, sau đó tiến hành lai lại và kiểm tra bằng phân tích hạt phấn
trung bình 150kg tạ bắp tươi/ha; giống nếp lai đơn màu tím Jingkenou 218,
năng suất khoảng 120 tạ bắp tươi/ha; Giống ngô nếp trắng Jingkenou 2000
năng suất trung bình trên 130 tạ bắp tươi/ha; giống ngô nếp lai đơn tím trắng
Jingtianzihuanuo và giống ngô nếp trắng lai đơn Yahejin 2006, cho năng suất
tới 200 tạ bắp tươi/ha…(Beijing Maize reseach Center, 2005) [26].
Theo Kyung – Joo Park (Kyung – Joo Park, 2001) [33], ở Hàn Quốc có
một số tỉnh người ta trồng ngô nếp bán bắp tươi được 7925 USD/ha, sau đó
trồng bắp cải, tổng thu nhập trên 16.228USD/ha. Nếu thu hoạch vào cuối
tháng 6, bán được 0,39USD/bắp, còn vào tháng 7 bán được 0,47USD/bắp,
những bắp chất lượng thấp người ta bán cho khách du lịch một túi 3 bắp với
1,18 USD. Cũng theo tài liệu trên, vào năm 1996, 1kg giống TPTD Chalok
N
0
.1 được bán với giá 6,23 USD, trong khi đó giống ngô nếp lai Daehakchal
do Choongram national University cung cấp có giá 45,01 USD/kg. Cũng theo
Kyung – Joo Park tại tỉnh Chonbuk có hợp tác xã đã xây dựng một kho lạnh
bảo quản được 1,5 triệu bắp ngô tươi 1 năm.
Ngô nếp được sử dụng làm lương thực và thức ăn chăn nuôi gia súc, gia
cầm. Khi nấu chín có độ dẻo, mùi vị thơm ngon. Nó có giá trị dinh dưỡng
cao, bởi tinh bột của nó có cấu trúc đặc biệt, dễ hấp thụ hơn so với tinh bột
ngô tẻ. Có khá nhiều báo cáo về những kết quả đạt được trong chăn nuôi cho
cả động vật thường và động vật nhai lại (Fergason, 1994) [26]. Một số thử
nghiệm ở Mỹ đã chỉ ra rằng, bò đực non lớn nhanh hơn khi nuôi bằng ngô nếp
(US. Grains Council, 2001) [38]. Một trong những nguyên nhân dẫn đến hiệu
Số hóa bởi trung tâm học liệu
17
quả trên là do trong ngô nếp có hàm lượng axitamin không thay thế như lyzin,
triptophan cao (Grawood, 1972; James L. Brewbaker, 1998) [28],[32].
lương thực chính, dưới dạng xôi ngô hoặc dùng tươi dưới dạng luộc, nướng,
còn ở hầu hết các địa phương khác trong nước thì ngô được xem như là loại
thực phẩm ăn quà và chế biến đơn giản.
Những năm gần đây, đời sống kinh tế của đại bộ phận các tầng lớp nhân
dân được cải thiện, nhu cầu tiêu dùng của người dân cũng trở lên đa dạng
hơn. Các loại ngô thực phẩm được sử dụng ngày một nhiều, không những
được dùng làm lương thực, làm quà ăn tươi (nướng, luộc), mà còn được chế
biến thành các món ăn được nhiều người ưa chuộng như ngô chiên bơ, bánh
ngô, súp ngô, snack ngô, ngô rau bao tử, chế biến tinh bột….
Cũng như tình trạng chung trên thế giới, các nghiên cứu về ngô ở Việt
Nam tập trung chủ yếu vào ngô tẻ. Còn ngô nếp thì đến nay chỉ có một số ít
công trình công bố.
Các tác giả Nguyễn Thị Lâm và Trần Hồng Uy, 1997 [8], đã tiến hành
phân loài phụ cho 72 giống ngô nếp địa phương. Trong số 72 mẫu giống mà
các tác giả nghiên cứu thuộc về 3 biến chủng là nếp trắng 48 mẫu, nếp vàng 8
mẫu, nếp tím 16 mẫu. Kết quả cho thấy biến chủng nếp tím có thời gian sinh
trưởng, chiều cao cây, chiều cao đóng bắp và số lá lớn hơn cả.
Tác giả Ngô Hữu Tình và Nguyễn Thị Lưu, 1990 [15] đã chọn tạo thành
công giống ngô nếp trắng tổng hợp, được công nhận giống quốc gia năm
1989. Từ vốn gen gồm một tổng hợp các dòng thuần nếp trắng (làm nền)
được bổ xung thêm 12 nguồn gen của các giống nếp địa phương và chọn lọc
bằng phương pháp bắp trên hàng cải tiến. Kết quả việc đưa thêm nguyên liệu
mới vào nguồn nền nhằm làm tăng độ thích ứng nhưng không làm giảm năng
suất của vốn gen. Nếp tổng hợp là giống nếp ngắn ngày, có thời gian sinh
trưởng vụ xuân 110 – 120 ngày, vụ Hè thu 95 – 100 ngày, Đông 105 – 115
ngày, năng suất trung bình 25-30 tạ/ha, có khả năng thích ứng rộng, được
trồng khá phổ biến ở miền Bắc.