Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
1
MỞ ĐẦU
1. Đặt vấn đề
Ngô cùng với lúa mỳ và lúa nƣớc là 3 cây lƣơng thực chính, cổ nhất,
phổ biến rộng, có năng suất cao và giá trị kinh tế lớn của loài ngƣời. Cho đến
giữa những năm 90 của thế kỷ 20, ngô còn xếp thứ 3 về diện tích và sản
lƣợng. Năm 1995 sản lƣợng ngô toàn thế giới đạt 517 triệu tấn, lúa mỳ 542,7
triệu tấn, lúa nƣớc 547,2 triệu tấn, năm 2006 sản lƣợng ngô toàn thế giới là
692 triệu tấn (Theo FAO -2006) [28]. Đến năm 2007 theo USDA, diện tích
ngô đã vƣợt qua lúa nƣớc, với 157 triệu ha, sản lƣợng đạt kỷ lục với 766,2
triệu tấn (Theo FAOSTAT, USDA 2008) [36]. Nguyên nhân chính dẫn đến
việc tăng nhanh năng suất và sản lƣợng ngô trên thế giới trong thời gian qua,
trƣớc hết là do đời sống kinh tế toàn cầu có sự tăng trƣởng mạnh mẽ, từ đó
nhu cầu về sản phẩm ngô cũng tăng theo. Nhƣng quan trọng hơn là trong
những năm gần đây, cùng với sự phát triển khoa học công nghệ nói chung và
trong ngành nông nghiệp nói riêng, việc ứng dụng các tiến bộ khoa học kỹ
thuật vào sản xuất cây lƣơng thực đã mang lại những kết quả to lớn, đảm bảo
đƣợc an ninh lƣơng thực trên toàn thế giới.
Vai trò của ngô trƣớc hết phải nói đến đó là nguồn lƣơng thực nuôi
sống gần 1/3 dân số thế giới. Tất cả các nƣớc trồng ngô nói chung đều ăn
ngô ở mức độ khác nhau. Ngô là lƣơng thực chính của ngƣời dân khu vực
Đông Nam Phi , Tây Phi, Nam Á. Ngô là thành phần quan trọng nhất trong
thức ăn chăn nuôi. Hầu nhƣ 70% chất tinh trong chăn nuôi là tổng hợp từ
ngô, 71% sản lƣợng ngô trên thế giới đƣợc dùng cho chăn nuôi. Ở các nƣớc
phát triển phần lớn sản lƣợng ngô đƣợc sử dụng cho chăn nuôi: Nhƣ Mỹ
76%, Bồ Đào Nha 91%, Italia 9%, Croatia 95%, Trung Quốc 76%, Thái Lan
96%,...(Ngô Hữu Tình, 2003) [17].
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
3
tự nhiên là 137.224,14ha, trong đó diện tích đất sản xuất nông nghiệp là
66.780,85 ha, đến năm 2008 diện tích đất nông nghiệp của Vĩnh Phúc còn
58.923,71ha (giảm 11,76 %). Nếu theo tốc độ phát triển công nghiệp nhƣ
hiện nay, thì chỉ sau một thời gian ngắn nữa diện tích đất nông nghiệp của
Vĩnh Phúc sẽ ngày càng bị thu hẹp lại, ngƣời nông dân sẽ bị mất dần ruộng,
không có việc làm, ảnh hƣởng nghiêm trọng tới đời sống kinh tế chính trị và
trật tự an toàn xã hội ở vùng nông thôn. (Nguồn: Niên giám thống kê Vĩnh
Phúc, 1998-2007) [19].
Chính vì vậy, việc xây dựng cơ cấu cây trồng hợp lý là nhiệm vụ rất
cần thiết trong giai đoạn hiện nay, nhằm nâng cao năng suất, chất lƣợng
nông sản, đầu ra sản phẩm, nâng hệ số sử dụng đất và cuối cùng là giá trị
kinh tế cao trên một đơn vị diện tích. Với ngô nếp là cây đã đƣợc nông dân
Vĩnh Phúc chọn trồng ở nhiều địa phƣơng để phục vụ cho nhu cầu ăn tƣơi,
chế biến thực phẩm... Tuy nhiên, năng suất ngô còn rất thấp do nông dân vẫn
sử dụng giống cũ, giống địa phƣơng. Nên việc tìm ra một bộ giống mới cho
năng suất cao, chất lƣợng tốt, thích nghi đƣợc với điều kiện tự nhiên của tỉnh
là rất cần thiết. Xuất phát từ nhu cầu trên, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề
tài:
«
Nghiên cứu khả năng sinh trưởng, năng suất và chất lượng một số
giống ngô nếp lai tại tỉnh Vĩnh Phúc
»
.
2. Mục tiêu - yêu cầu của đề tài
2.1. Mục tiêu
- Xác định đƣợc những đặc điểm nông sinh học chính của các nguồn
vật liệu đƣợc chọn.
- Xác định đƣợc giống ngô nếp lai mới cho năng suất cao, chất lƣợng
tốt, phù hợp với điều kiện tự nhiên của tỉnh
1.1. Cơ sở khoa học
Thực tiễn sản xuất nông nghiệp trên thế giới cũng nhƣ trong nƣớc
đã khẳng định giống cây trồng là một trong những nhân tố quyết định
đến năng suất, chất lƣợng và hiệu quả của sản xuất nông nghiệp. Nhờ có
bộ giống cây trồng phong phú đa dạng chúng ta đang thực hiện chuyển
đổi cơ cấu cây trồng, mùa vụ nhằm khai thác hiệu quả hơn tiềm năng và
khắc phục những hạn chế về đất đai, thời tiết khí hậu của nƣớc ta, làm đa
dạng hoá sản phẩm nông nghiệp theo hƣớng sản xuất hàng hoá, thực hiện
công nghiệp hoá hiện đại hoá nông nghiệp và nông thôn.
Sản xuất nông nghiệp là đòn bẩy thúc đẩy các ngành khác phát
triển nhƣ ngành chăn nuôi, công nghiệp chế biến...do vậy tăng năng suất,
chất lƣợng cây trồng là rất cần thiết. Tuy nhiên năng suất cây trồng còn
phụ thuộc vào điều kiện ngoại cảnh, kỹ thuật sản xuất, trình độ dân trí,
đặc biệt là việc sử dụng giống. Do vậy, để có giống mới phù hợp với
điều kiện sinh thái của từng địa phƣơng trƣớc thì khi đƣa vào sản xuất
cần phải đƣợc khảo nghiệm ở các vùng sinh thái khác nhau để đánh giá
tính khác biệt, độ đồng đều, độ ổn định, khả năng thích ứng với điều kiện
ngoại cảnh bất thuận.
Vài năm trở lại đây do áp dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật về
giống cây trồng, các nhà khoa học Việt Nam đã chọn tạo đƣợc rất nhiều
giống ngô lai có triển vọng làm cho diện tích ngô của cả nƣớc tăng lên
rất nhanh, năng suất và sản lƣợng đƣợc cải thiện rõ rệt, nhƣng vẫn chƣa
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
6
đáp ứng đƣợc nhu cầu của thị trƣờng tiêu dùng. Do vậy một số nhà chọn
giống đã bắt đầu chuyển sang hƣớng tạo giống nếp lai và thu đƣợc một
số kết quả đáng kể nhƣ các giống MX2, MX4 của Công ty cổ phần giống
cây trồng Miền Nam, Bạch ngọc của Công ty Lƣơng Nông...và rất nhiều
các giống mới khác có triển vọng đang cần đƣợc khảo nghiệm và trồng
300
400
500
600
700
800
900
1961 2004 2005 2006 2007/08
D.tích (triệu ha)
N.suất (tạ/ha)
Sản lƣợng (triệu tấn)
Hình 1.1: Diện tích, năng suất, sản lƣợng ngô trên thê giới 1961 - 2005
Năm
NGÔ LÚA MÌ LÚA NƢỚC
D.tích
(triệu ha)
N.suất
(tạ/ha)
Sản lƣợng
(triệu tấn)
D.tích
(triệu ha)
N.suất
(tạ/ha)
Sản lƣợng
(triệu tấn)
D.tích
(triệu ha)
tạ/ha, sau đó là Bỉ 122,0 tạ/ha, ChiLê 110,0 tạ/ha, Tây Ban Nha 99
tạ/ha...(FAOSTAT, 2004) [28].
Trung Quốc là nƣớc có diện tích ngô đứng thứ hai trên thế giới, hàng
năm luôn đạt xung quanh 25 triệu ha, trong đó tới 90% diện tích đƣợc trồng
bằng giống lai. Năng suất bình quân ngô của Trung Quốc đã tăng từ 30 tạ/ha
(năm 1980) lên 51,5 tạ/ha (năm 2004) (FAOSTAT, 2004) [28]. Ở một số
nƣớc đang phát triển nhƣ Achentina, Braxin, Colombia, Mehico, Ấn Độ,
Pakistan...trong thời kỳ 1966 – 1990 có xấp xỉ 852 giống ngô đƣợc tạo ra,
trong đó có 59% là giống ngô thụ phấn tự do, 27% là giống lai quy ƣớc, 10%
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
9
là giống lai không quy ƣớc, 4% là các loại giống khác (S.K. Vasal, et al.,
1999) [39]. Cũng trong năm 2004 diện tích ngô của ấn Độ là 8 triệu ha, năng
suất bình quân là 25,0 tạ/ha, sản lƣợng là 14 triệu tấn. Ở Thái Lan diện tích
ngô 2004 là 1,13 triệu ha, năng suất bình quân là 36,2 tạ/ha. Indonesia diện
tích ngô lớn nhất ở khu vực, năm 2004 với diện tích 3,35 triệu ha, cho năng
suất bình quân 33,9 tạ/ha và sản lƣợng là 11,35 triệu tấn. Tuy nhiên, diện tích
trồng bằng giống lai của nƣớc này còn thấp, khoảng 30 - 40%. (FAOSTAT,
2004) [28].
Công tác nghiên cứu lai tạo giống ngô hiện nay đang có bƣớc chuyển
biến mới, đó là ứng dụng công nghệ sinh học trong chọn tạo dòng thuần.
Những năm gần đây, việc nghiên cứu chọn ra những dòng đơn bội kép
(Double haploid), bằng nuôi cấy invitro đã giúp cho công việc chọn tạo dòng
thuần một cách nhanh chóng, tiết kiệm đƣợc hơn nửa thời gian so với việc
tạo dòng bằng các phƣơng pháp thông thƣờng. Tạo dòng thuần bằng phƣơng
pháp invitro có thể dựa vào kỹ thuật nuôi cấy một trong ba bộ phận sinh sản
của ngô là bao phấn, hạt phấn tách rời và noãn chƣa thụ tinh. Gần đây, ngƣời
ta đã nghiên cứu thành công phƣơng pháp mới tạo dòng thuần bằng dùng
dòng kích tạo đơn bội. Ở Việt Nam, các nghiên cứu về đơn bội ngô đã bắt
và giống lai (Ngô Hữu Tình và cs, 1999) [16]. Năm 1985, chƣơng trình ngô lai
của CIMMYT đƣợc tiến hành với mục tiêu phát triển các vật liệu mới phục vụ
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
11
chọn tạo giống lai, tích luỹ và công bố KNKH và các nhóm ƣu thế lai của các
vật liệu nhiệt đới và cận nhiệt đới mà CIMMYT đã có, đồng thời tiến hành tạo
dòng thuần. Gần đây, CIMMYT đẩy mạnh chƣơng trình tạo giống ngô chất
lƣợng Prôtêin cao và đã đạt đƣợc những kết quả quan trọng
1.3. Tình hình sản xuất và nghiên cứu ngô ở Việt Nam
Ngô đƣợc đƣa vào trồng ở nƣớc ta từ cuối thế kỷ 17 (Ngô Hữu Tình
và cs, 1999) [16], đã trở thành cây lƣơng thực quan trọng thứ 2 sau lúa nƣớc.
Song, với nền canh tác quảng canh và chủ yếu dùng giống ngô đá và ngô nếp
địa phƣơng, nên năng suất thấp. Năng suất ngô Việt Nam những năm 1960
chỉ đạt trên 1 tấn/ha, với diện tích hơn 200 nghìn ha và sản lƣợng hơn
400.000 tấn do vẫn trồng các giống ngô địa phƣơng với kỹ thuật canh tác lạc
hậu. Từ giữa những năm 1980 trở lại đây, nhờ hợp tác với Trung tâm Cải tạo
Ngô và Lúa mỳ Quốc tế (CIMMYT), nhiều giống ngô cải tiến đã đƣợc đƣa
vào trồng ở nƣớc ta nhƣ các giống TPTD VM1, HSB1, TH2A, TSB1, TSB2,
MSB49, Q2, CV1,... góp phần nâng cao năng suất lên gần gấp 15 tạ/ha vào
đầu những năm 1990. Tuy nhiên ngành sản xuất ngô ở nƣớc ta thực sự đã có
bƣớc tiến nhảy vọt là từ đầu những năm 1990 đến nay, gắn liền với việc
không ngừng mở rộng giống lai ra sản xuất, đồng thời cải thiện các biện
pháp kỹ thuật canh tác theo đòi hỏi của giống mới. Các giống lai không quy
ƣớc : LS3, LS5, LS6, LS7, LS8, ...Nhờ việc sản xuất giống dễ dàng, giá
giống rẻ, con lai có năng suất cao và thích ứng rộng, các giống lai không quy
ƣớc đã đƣợc ngƣời trồng ngô chấp nhận và nhanh chóng mở rộng diện tích.
Đây cũng là bƣớc chuyển tiếp quan trọng từ giống lai không quy ƣớc sang
giống lai quy ƣớc. Nhờ chính sách đổi mới, sự quan tâm đầu tƣ đúng mức của
nhà nƣớc và sự phát huy nội lực cao độ của ngƣời làm công tác chọn tạo giống
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
13
Bảng 1.2. Tình hình sản xuất ngô ở Việt Nam từ năm1961 – 2007
Năm 1961 1975 1990 1994 2000 2005 2007
Diện tích (1000 ha) 260,20 267,0 432,0 534,6 730,2 1052,6 1072,8
Sản lƣợng (1000 tấn) 292,20 280,60 671,0 1143,9 2005,9 3787,1 4250,9
Năng suất (tạ/ha) 11,2 10,5 15,5 21,4 25,1 36,0 39,6
Nguồn: Tổng cục thống kê (đến 2005), Bộ NN&PTNT (2007)[20].
Hình 3 : Diện tích, năng suất, sản lƣợng ngô Việt Nam 1961 – 2005
Hình 3: Diện tích, năng suất sản lƣợng ngô Việt Nam từ 1961 - 2005
Hình 1.3 : Diện tích, năng suất, sản lƣợng ngô ở Việt Nam
1.4. Tình hình sản xuất và nghiên cứu ngô ở Vĩnh Phúc
Vĩnh Phúc - cửa ngõ Tây Bắc của Thủ đô Hà Nội, thuộc vùng Châu
thổ sông Hồng là một trong 8 tỉnh thuộc vùng kinh tế trọng điểm phía Bắc.
Vĩnh Phúc nằm trong vùng nhiệt đới gió mùa, nhiệt độ trung bình hàng
năm 24,2
0
C, lƣợng mƣa trung bình 1733.9 mm (Cục Thống kê tỉnh Vĩnh
Phúc, 1998-2008) [19]. Do đặc điểm vị trí địa lý nên nơi đây hình thành 3
vùng sinh thái rõ rệt: đồng bằng, trung du và miền núi hết sức thuận tiện
cho phát triển nông - lâm nghiệp, thủy sản, công nghiệp và du lịch - dịch
tấn (Cục Thống kê tỉnh Vĩnh Phúc, 1998-2008) [19]. Tình hình sản xuất
ngô của Vĩnh Phúc giai đoạn 1998 - 2007 đƣợc trình bày ở bảng 1.3.
Bảng 1.3: Sản xuất ngô của Vĩnh Phúc giai đoạn 1998 – 2007
Năm 1998 1999 2001 2005 2007
Diện tích (1000 ha) 19,8025 20,8744 14,9427 16,4900 15,2418
Sản lƣợng (1000 tấn) 51,547 60,2983 48,3932 61,7483 51,6091
Năng suất (tạ/ha) 26,03 28,75 32,4 37,45 33,86
Nguồn: Cục thống kê tỉnh Vĩnh Phúc (1998 - 2007)[19].
1998 1999 2001 2005 2007
-
100.0
200.0
300.0
400.0
500.0
600.0
700.0
1998 1999 2001 2005 2007
Diện tích (1000 ha)
Sản lƣợng (1000 tấn)
Năng suất (tạ/ha)
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
15
Trung Quốc, Miến Điện, Philippin là quê hƣơng đầu tiên của nó. Nhƣng sau
đó ngƣời ta thấy rằng đó là kết quả của một đột biến thông thƣờng của các
giống ngô răng ngựa biểu hiện gen Wx và gắn liền với các điều kiện trồng
trọt không bình thƣờng đột biến thành gen lặn wx, chúng có thể xuất hiện ở
các vùng khác nhau của trái đất (Grebensc 1954, dẫn theo Nguyễn Thị Lâm,
1997) [8].
Theo James L. Brewbaker (Brewbaker, 1998) [31], quá trình chọn lọc
tự nhiên đã tạo ra những đột biến nhƣ Sugaryl (với phytoglycogen cao) ở dãy
núi Andes và ở đông bắc nƣớc Mỹ, đột biến 2 là waxyl (tinh bột của hạt có
cấu tạo bởi amylopectin) ở châu Á với các giống đƣợc chọn lọc có vỏ mềm.
Những giống nếp lai và các giống nếp thƣờng, với đặc điểm dẻo, thơm ngon
rất thông dụng ở châu Á nhƣ : Hàn Quốc, Philippin, Thái Lan, Trung Quốc,
Việt Nam và nhiều quốc gia khác (US. Grains Council, 2001) [38].
1.6. Tình hình nghiên cứu và sử dụng ngô nếp trên thế giới và ở Việt Nam
1.6.1. Tình hình nghiên cứu và sử dụng ngô nếp trên thế giới
Theo Tomob, để chọn giống ngô nếp ngƣời ta dùng vật liệu ban đầu
từ các giống ngô nếp địa phƣơng của Trung Quốc, ngô nếp Cracnoda hoặc
nguồn ngô nếp đột biến tự nhiên hay đột biến nhân tạo nhƣ là donor. Từ
nguồn vật liệu chọn lọc ban đầu, thông qua tự phối và chọn lọc cá thể dựa
vào nội nhũ nếp và các đặc tính nông học khác để tạo dòng nếp thuần. Còn
tạo các đồng đẳng ngô nếp từ nguồn ngô thƣờng thì ngƣời ta cho lai ngô nếp
và ngô thƣờng với nhau sau đó tiến hành lai lại và kiểm tra bằng phân tích
hạt phấn qua phản ứng với dung kịch KI. Bằng cách này ngƣời ta đã tạo ra
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
17
khá nhiều dòng và giống nếp lai mới, chúng đƣợc trồng cách ly với các loại
ngô khác (Tomob, 1984) [40].
Ngô nếp đƣợc trồng nhiều nhất ở Mỹ, nhƣng phần lớn diện tích đƣợc
trồng ở miền trung Illinois và Indian, phía bắc của Iowa, phía nam của
Theo Kyung – Joo Park (Kyung – Joo Park, 2001) [32], ở Hàn Quốc
có một số tỉnh ngƣời ta trồng ngô nếp bán bắp tƣơi thu đƣợc 7925 USD/ha,
sau đó trồng bắp cải, tổng thu nhập trên 16.228 USD/ha. Nếu thu hoạch vào
cuối tháng 6, bán đƣợc 0,39 USD/bắp, còn vào giữa tháng 7 đến 0,47
USD/bắp, còn những bắp chất lƣợng thấp ngƣời ta bán cho khách du lịch
một túi 3 bắp với 1,18 USD. Cũng theo tài liệu trên, vào năm 1996, 1kg
giống TPTD Chalok N
o
.1 đƣợc bán với giá 6,23 USD, trong khi đó giống
ngô nếp lai Daehakchal do đại học Choongram cung cấp có giá 45,01
USD/Kg. Cũng theo Kyung – Joo Park tại tỉnh Chonbuk có hợp tác xã đã
xây dựng một kho lạnh bảo quản đƣợc 1,5 triệu bắp ngô tƣơi 1 năm.
Ngô nếp đƣợc sử dụng làm lƣơng thực và thức ăn chăn nuôi gia súc,
gia cầm. Khi nấu chín có độ dẻo, mùi vị thơm ngon. Nó có giá trị dinh dƣỡng
cao, bởi tinh bột của nó có cấu trúc đặc biệt, dễ hấp thụ hơn so với tinh bột
của ngô tẻ. Có khá nhiều báo cáo về những kết quả đạt đƣợc trong chăn nuôi
cho cả động vật thƣờng và động vật nhai lại (Fergason, 1994) [27]. Một số
thử nghiệm ở Mỹ đã chỉ ra rằng, bò đực non lớn nhanh hơn khi đƣợc nuôi
bằng ngô nếp (US.Grains Council) [37]. Một trong những nguyên nhân dẫn
đến hiệu quả trên là do trong ngô nếp có hàm lƣợng các axitamin không thay
thế nhƣ lyzin và triptophan cao (Grawood, 1972 ; Jemes L. Brewbaker,
1998) [29], [31].
Ngô nếp đƣợc dùng vào các mục đích khác nhau : ăn tƣơi, đóng hộp,
chế biến tinh bột v.v...Nhìn chung, có 2 cách sử dụng chính : Làm thực phẩm
và chế biến tinh bột. Ở Mỹ và các nƣớc phát triển, phần lớn sản lƣợng ngô
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
19
nếp đƣợc dùng để chế biến tinh bột. Ngƣời ta chế biến tinh bột ngô nếp bằng
cách xay ƣớt để dùng trong công nghiệp chế biến thực phẩm, keo dán, chất
nên đa dạng hơn. Các loại ngô thực phẩm đƣợc sử dụng ngày một nhiều,
không những đƣợc dùng làm lƣơng thực, làm quà ăn tƣơi (nƣớng, luộc),
mà còn đƣợc chế biến thành các món ăn đƣợc nhiều ngƣời ƣa chuộng nhƣ
ngô chiên, súp ngô, snack ngô, ngô rau bao tử, chế biến tinh bột...
Cũng nhƣ tình trạng chung trên thế giới, các nghiên cứu về ngô ở
Việt Nam tập trung chủ yếu vào ngô tẻ. Còn với ngô nếp thì đến nay chỉ
có một số công trình đƣợc công bố.
Các tác giả Nguyễn Thị Lâm và Trần Hồng Uy (Nguyễn Thị Lâm và
Trần Hồng Uy, 1997) [8], đã tiến hành phân loài phụ cho 72 giống ngô
nếp địa phƣơng. Trong số 72 mẫu giống mà các tác giả nghiên cứu thuộc
về 3 biến chủng : nếp trắng 48 mẫu, nếp vàng 8 mẫu, nếp tím 16 mẫu. Kết
quả cho thấy, biến chủng nếp tím có thời gian sinh trƣởng, chiều cao cây,
chiều cao đóng bắp và số lá lớn hơn cả.
Tác giả Ngô Hữu Tình và Nguyễn Thị Lƣu [14] đã chọn tạo thành
công giống ngô nếp trắng tổng hợp, đƣợc công nhận giống quốc gia năm
1989. Từ vốn gen gồm một tổng hợp các dòng thuần nếp trắng (làm nền)
đƣợc bổ sung thêm 12 nguồn gen của các giống nếp địa phƣơng và chọn
lọc bằng phƣơng pháp bắp trên hàng cải tiến. Kết quả việc đƣa thêm
nguyên liệu mới vào nguồn nền nhằm làm tăng độ thích ứng nhƣng không
làm giảm năng suất của vốn gen. Nếp Tổng hợp là giống nếp ngắn ngày,
có thời gian sinh trƣởng vụ Xuân 110 - 120 ngày, vụ Hè Thu 95 - 100
ngày, Đông 105 - 115 ngày, năng suất trung bình 25 - 30 tạ/ha, có khả
năng thích ứng rộng, đƣợc trồng khá phổ biến ở miền Bắc.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
21
Viện Khoa học kỹ thuật Nông nghiệp Việt Nam dùng phƣơng pháp
chọn lọc chu kỳ từ tổ hợp lai giữa giống ngô nếp tổng hợp Glut - 22 và
Glut - 41 nhập nội từ Philippin để tạo ra giống nếp trắng S-2 . Đây là
giống nếp ngắn ngày, vụ Xuân 90 - 95 ngày, vụ Hè Thu 80 - 90 ngày, vụ
và cộng sự ở Viện Di truyền nông nghiệp Việt Nam và Ngô Hữu Tình
cùng cộng sự ở Viện Nghiên cứu Ngô đã nghiên cứu gây tạo đột biến bằng
tia gamma kết hợp xử lý Diethylsulphat ở ngô nếp đã thu đƣợc một số
dòng biến dị có các đặc tính nông học quý so với giống ban đầu (Nguyễn
Hữu Đống và cs, 1997) [1].
Thời gian gần đây, các nhà tạo giống Việt Nam đã bắt đầu chuyển
sang hƣớng tạo giống nếp lai và đã tạo đƣợc một vài giống nếp lai không
quy ƣớc có triển vọng nhƣ các giống lai MX2, MX4 của Công ty cổ phần
giống cây trồng Miền Nam, Bạch ngọc của công ty Lƣơng Nông. Từ vài
năm nay, một số giống ngô nếp lai quy ƣớc từ các công ty giống nƣớc
ngoài đã đƣợc trồng ở Việt Nam, chủ yếu là các tỉnh phía nam. Nguồn
giống nếp này phần lớn là các giống lai từ Đài Loan, Thái Lan thông qua
một số công ty giống nhƣ Nông Hữu, Thần Nông, Lƣơng Nông, Trang
Nông, Long Hoàng Gia, An Điền... Có điều những giống từ các công ty
này bán ra với giá rất cao, chẳng hạn giống lai đơn của công ty Đông Tây
có giá bán là 140.000đ/kg, giống Wax – 44 của Syngenta Thái Lan là
160.000đ/kg...
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
23
CHƢƠNG II
VẬT LIỆU, NỘI DUNG VÀ PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1. Vật liệu nghiên cứu
Vật liệu nghiên cứu gồm 9 giống ngô nếp lai có triển vọng thu thập từ
các cơ quan đơn vị khác nhau ở Việt nam :
STT Giống Nguồn gốc Nhóm TGST
1 VN2 (đ/c) Viện nghiên cứu ngô Ngắn ngày
2 MX-10 C.ty CP GCT Miền Nam Ngắn ngày
3 NL-1
- Thí nghiệm đƣợc thực hiện trên đất trồng màu, đại diện cho vùng
sinh thái, có độ phì đồng đều, bằng phẳng và chủ động tƣới tiêu.
- Đất đƣợc cày xới, làm sạch cỏ, san bằng phẳng, độ ẩm đất khi gieo
75-80% độ ẩm tối đa đồng ruộng.
- Mật độ và khoảng cách :
+ Mật độ trồng : 71.000 cây/ha
+ Khoảng cách : 70 cm x 20 cm ( 100 cây/ô thí nghiệm)
- Phân bón : + 8 tấn phân chuồng/1ha
+ Phân vô cơ : N (kg) : P
2
O
5
(kg) : K
2
O (kg) ; 120 : 90 : 90.
Tƣơng đƣơng với lƣợng phân: - Đạm Urê: 260,8 kg/ha.
- Lân Supe: 500 kg/ha.
- Kaliclorua: 150 kg/ha
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
25
- Phƣơng pháp bón :
+ Bón lót 100% Phân chuồng và 100% phân lân supe
+ Bón thúc chia làm 3 lần :
Lần 1 : Bón khi ngô có 3- 5 lá : 1/3 lƣợng đạm + 1/2 lƣợng kali
Lần 2 : Bón khi ngô có 7 - 9 lá : 1/3 Lƣợng đạm + 1/2 lƣợng kali
Lần 3 : Bón trƣớc khi ngô trỗ cờ 10-15 ngày : 1/3 Lƣợng đạm còn lại
- Chăm sóc
+ Vun xới và bón thúc
- Khi ngô có 3- 5 lá : Xới đất bón thúc lần 1 và vun nhẹ quanh gốc .