Mục lục
Lời cảm ơn
Phần 1: Giới thiệu
Phần 2: Khái niệm
Phần 3: Thực trạng
Phần 4: Nguyên nhân
Phần 5: Các điều luật quan trọng
Phần 6: Hoạt động phòng chống
Phần 7: Kết luận
Phần 8: Khuyến nghị
Tài liệu tham khảo
Nhóm sinh viên thực hiện
Phùng Thiện Tâm 3305110568
Trương Minh Nhựt 3305110479
Nguyễn Thị Lệ Thu 3305110653
Nguyễn Thị Ngọc Nhung 3305110468
Lê Đẳng 3305110943
Lê Thị Hồng Phương 3305110516
Thạch Thị Tuyết Phụng 3305110925
Trần Thị Phượng 3311110329
LỜI CẢM ƠN
Nhóm 9 của chúng em xin gửi lời cảm ơn chân thành đến thầy
Phan Quốc Thái đã tận tình hướng dẫn chúng em hoàn thành bài tiểu
luận này.
Trong quá trình học tập, cũng như trong quá trình hoàn thành
bài tiểu luận khó tránh khỏi những sai sót. Rất mong thầy bỏ qua và
góp ý tận tình thêm cho nhóm chúng em.
Nhóm 9 chúng em xin chân thành cảm ơn !
Chữ viết tắt
BCH Ban chấp hành
BĐG Bình đẳng giới
và “công an” và những người khác. Rất có thể là BLGD là việc của
nội bộ nên các “thành viên gia đình” đã can ngăn nhưng không được
và BLGĐ bung ra đến mức người ngoài gia đình đã biết và can ngăn.
Hơn một nửa số người được hỏi đã giải thích rằng “không có ai can
ngăn” trong vụ BLGĐ vì “người ta coi đấy là việc riêng của gia
đình”. Trong số 15 các nguyên nhân gây ra BLGĐ, nhiều người nói
đến nhất là những nguyên nhân như “nghèo đói, thất nghiệp”,
“nghiện rượu, bia”, “cha mẹ ít quan tâm đến con cái”, “học vấn thấp,
ít hiểu biết”, “do nam giới nóng tính”, “vợ hoặc chồng ngoại tình”,
“ham mê cờ bạc, số đề”. Trong số 9 lý do biện hộ cho việc chồng có
thể ngược đãi, hành hạ vợ, nhiều người nhấn mạnh đến lý do ”chồng
phát hiện vợ không chung thuỷ”.
Về hành vi bạo lực của cha mẹ đối với con cái. Ở Việt Nam tình
trạng cha mẹ đánh hoặc mắng con không phải là hiếm, thậm chí còn
phổ biến, nhất là khi không ít người giáo dục con theo kiểu ”yêu cho
roi cho vọt, ghét cho ngọt cho bùi”. Gần một nửa số người được hỏi
tỏ ra đồng ý với việc ”cha mẹ có quyền dùng roi vọt dạy con”. Hơn
một phần ba số người được hỏi đồng ý với việc ”cha mẹ có quyền
chửi mắng con cái”. Nhưng gần một nửa những người được hỏi đã
không đồng ý với nhận định ”cha mẹ có quyền đánh đập con”. Hơn
một nửa số người được hỏi cho biết lý do BLGD giữa con cái với
cha, mẹ là do con cái “hư” vướng vào “tệ nạn xã hội” như ”nghiện
hút ma túy”, ”nghiện bia, nghiện rượu”, ”chơi cờ bạc, số đề”. Đồng
thời là do ”cha mẹ giáo dục con không tốt”, ”cha mẹ không làm
gương cho con cái”, ”cha mẹ không quan tâm đến con cái” và một lý
do liên quan đến lợi ích vật chất là ”do tranh chấp tài sản, phân chia
tài sản”.
GVHD.Thầy Phan Quốc Thái
3
3
lợi, khó khăn - thách thức của việc thực thi Luật PCBLGĐ để các nhà
hoạch định chính sách, các cơ quan thực hiện pháp luật, cơ quan tài
trợ, các nhà tư vấn, nghiên cứu, các tổ chức hoạt động trong lĩnh vực
bình đẳng giới nói chung và BLGĐ nói riêng tham khảo trong việc
góp phần hoàn thiện khung pháp lý, nâng cao hiệu quả thực hiện và
hiệu quả tài trợ cho việc thực hiện Luật PCBLGĐ ở Việt Nam trong
thời gian tới.
GVHD.Thầy Phan Quốc Thái
4
4
Đối với một thiết chế xã hội lâu đời như gia đình thì luật
PCBLGĐ cần phải có nhiều thời gian hơn nữa để đi vào cuộc sống.
Luật và chính sách liên quan cần liên tục được hoàn thiện theo hướng
nâng cao vai trò của Hội phụ nữ, thu hút sự tham gia của nam giới,
tăng cường trách nhiệm phối hợp liên ngành của các cơ quan tổ chức
các cấp, tổ chức xã hội dân sự, đổi mới các hình thức giáo dục, truyền
thông thay đổi hành vi trong thực hiện luật PCBLGĐ và bình đẳng
giới.
GVHD.Thầy Phan Quốc Thái
5
5
Phần 1: Giới thiệu
Luật phòng chống Bạo lực gia đình (PCBLGĐ), được Quốc hội
nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam thông qua ngày
21/11/2007, đã có hiệu lực thi hành từ ngày 1/7/2008. Đây là cơ sở
pháp lý hết sức quan trọng để bảo vệ quyền và lợi ích của các thành
viên trong gia đình, nhất là người cao tuổi, phụ nữ và trẻ em, những
người rất dễ trở thành và thường là nạn nhân của BLGĐ. Luật
PCBLGĐ khẳng định rằng cuộc đấu tranh ngăn chặn tệ nạn BLGĐ
đang tồn tại dai dẳng trong đời sống gia đình là nhiệm vụ của toàn xã
nghị cho việc hoàn thiện khung pháp lý và các giải pháp đối với các
bên liên quan để nâng cao hiệu quả thực hiện Luật.
GVHD.Thầy Phan Quốc Thái
7
7
Phần 2: Khái niệm
Bạo lực gia đình: Luật phòng chống bạo lực gia đình được
quốc hội nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ban hành ngày
21/11/2007 định nghĩa: “Bạo lực gia đình là hành vi cố ý của thành
viên trong gia đình gây tổn hại hoặc có khả năng gây tổn hại vể thể
chất, tinh thần, kinh tế, đối với thành viên khác trong gia đình.”
Về mặt hình thức, có thể phân biệt bạo lực gia đình thành những
hình thức chủ yếu là bạo lực thể chất, bạo lực tinh thần, bạo lực kinh
tế. Về mức độ gây tổn hại có thể phân biệt bạo lực gia đình cực kỳ
nghiêm trọng, nghiêm trọng và ít nghiêm trọng. Tương ứng với mỗi
loại bạo lực này có những cách thức, biện pháp phòng, chống phù
hợp cần phải tính đến khi thực hiện Luật PCBLGĐ ở địa phương.
Bạo hành trẻ em: đó là hành vi bạo lực thô bạo, biểu hiện trạng
thái tâm lý tức giận. Mục đích của bạo hành là trừng phạt, khuất phục
trẻ để thỏa mãn.
Ở Việt Nam tình trạng cha mẹ đánh hoặc mắng con không
phải là hiếm, thậm chí còn phổ biến nhất là khi có người giáo dục con
theo kiểu ”yêu cho roi cho vọt, ghét cho ngọt cho bùi”. Cuộc khảo sát
đã đề nghị người trả lời cho biết ý kiến có đồng ý hay không đồng ý
với từng nhận định về quyền của cha mẹ trong việc sử dụng các biện
pháp bạo lực trong giáo dục con cái.
GVHD.Thầy Phan Quốc Thái
8
8
Qua các kết quả này có thể thấy trong giáo dục gia đình, các bậc
lực về thể chất, 30% cặp vợ chồng xảy ra hiện tượng ép buộc quan
hệ tình dục, tại đồng bằng sông Cửu long có 1.319 ca nhập viện
do bạo hành gia đình, trong đó khoảng 1.000 ca tự tử, và 30 trường
hợp tử vong.
Gần 5% phụ nữ thường xuyên bị chồng đánh đập, hành hạ
Đến 82% hộ dân nông thôn và 80% hộ ở thành phố có xảy ra
bạo lực, 9-10% trường hợp nạn nhân của bạo lực gia đình là nam
giới và thủ phạm chính là người vợ.
Một cuộc điều tra khác cũng cho biết có 21,2% cặp vợ chồng đã
kết hôn cho biết đã trải qua một trong những hình thức bạo lực gia
đình như bị đánh, mắng, nhục mạ Cuộc điều tra cho thấy hành vi
bạo lực gia đình vẫn tồn tại ở 1/5 các cặp vợ chồng. Nạn nhân chủ
yếu là người phụ nữ và con cái trong gia đình. Tình trạng bạo lực
xuất hiện ở các cặp vợ chồng từ 31 đến 40 tuổi phổ biến hơn các
nhóm tuổi khác.
Bạo hành gia đình để lại một hậu quả nghiêm trọng, có thể các
vết thương về thể xác sẽ nhanh chóng phục hồi và lành lặn nhưng
những vết thương về tình thần rất khó để xóa nhòa. Thực tế đó cho
thấy cần một thể chế pháp lý đủ mạnh để có thể góp phần phòng và
chống bạo hành gia đình bảo vệ các đối tượng yếu thế bên cạnh các
phương pháp như kinh tế, giáo dục, tuyên truyền, thuyết phục
GVHD.Thầy Phan Quốc Thái
10
10
Luật PCBLGĐ chính thức có hiệu lực từ ngày 1/7/2008 tức là
cách thời điểm điều tra khoảng hai năm – một khoảng thời gian dài
đủ đế mọi người người dân biết về luật này. Vậy câu hỏi đặt ra là có
bao nhiêu phần trăm người dân đã “nghe nói đến luật PCBLGĐ”? Kết
quả điều tra cho biết gần 90% số người được hỏi trả lời là “có nghe
nói đến luật PCBLGĐ”, trong đó tỉ lệ nam giới là 91.3%, cao hơn tỉ lệ
trách nhiệm chính về tình trạng báo cáo, hay những quy định bắt buộc
GVHD.Thầy Phan Quốc Thái
12
12
với những người chứng kiến, nghi ngờ, xâm hại mà không báo cáo
lại.
Bé gái Như Ý, 9 tháng tuổi, bị mẹ ruột và cha
dượng hành hạ dã man. Ảnh: CTV
Thiếu hệ thống thông báo cũng dẫn đến việc không phát hiện
sớm, ngăn ngừa hành vi bạo lực, xâm hại trẻ em. Việc này dẫn đến
hậu quả như thế nào thưa bà?
Đúng là Việt Nam đang thiếu một hệ thống dịch vụ chuyên
nghiệp, hệ thống được lồng ghép, đưa ra các khâu phòng ngừa, can
thiệp với trẻ em bị xâm hại. Cần phải có cấu trúc liên ngành chặt chẽ,
trong vấn đề hỗ trợ phục hồi cho trẻ em bị xâm hại để tránh hậu quả
dẫn đến những hành vi rối loạn, trầm cảm, hung hãn, thậm chí tử tự
của trẻ. Gần đây, Chính phủ đã ban hành thông tư về quy trình can
thiệp trẻ bị xâm hại tình dục và bạo lực. Tuy nhiên để thực hiện được
quy trình này phải có đội ngũ cán bộ được đào tạo chuyên trách, song
GVHD.Thầy Phan Quốc Thái
13
13
đây cũng là thách thức của Việt Nam khi Ủy ban Dân số - Gia đình và
Trẻ em bị giải thể khiến số cán bộ làm công tác này vốn đã thiếu nay
lại càng thiếu hơn, đặc biệt là tại cấp cơ sở.
Theo số liệu điều tra, những vụ xâm hại, bạo lực trẻ cho thấy
phần lớn thủ phạm lại là chính người thân của các em, đặc biệt là
những người làm cha làm mẹ. Có ý kiến cho rằng cần phải tước
quyền chăm sóc của cha mẹ của những đối tượng này. Bà nhận định
như thế nào?
nữ. Điều này liên quan tới “quan niệm truyền thống” như quan niệm
về vai trò của chồng và vợ trong gia đình, mà theo quan niệm này thì
người chồng là trụ cột, có vai trò quan trọng hơn và có quyền lực
hơn, có quyền “chỉ huy” các thành viên khác trong gia đình, kể cả vợ,
và theo quan niệm này thì người vợ phải phục tùng chồng, không
được cãi lại, không được làm trái ý kiến của chồng.
Hoàn cảnh xảy ra bạo hành, đặc biệt là bạo hành thân thể,
thường là khi người nam say rượu, nhưng rượu không phải là nguyên
nhân căn bản, nó chỉ là cái cớ cho những vướng mắc vốn tồn tại từ
trước. Bạo hành được nhận thấy có tỷ lệ cao ở các gia đình có hoàn
cảnh đặc biệt, chẳng hạn như kinh tế khó khăn, trình độ văn hóa thấp,
người chồng không có việc làm… Tuy nhiên điều này không có nghĩa
GVHD.Thầy Phan Quốc Thái
15
15
là giàu có hay được học hành đầy đủ bảo đảm chắc chắn gia đình hòa
thuận. Ở những gia đình như vậy, bạo hành xảy ra với hình thức mà
người ngoài khó nhận biết hơn.
Bạo hành giữa cha mẹ và con cái cũng không hiếm và thường
được biện hộ với mục đích giáo dục theo kiểu "thương cho roi cho
vọt". Đó có thể là hành vi đánh thậm tệ, bỏ mặc không cho ăn uống
hoặc không thèm quan tâm đến con dưới mọi hình thức Hậu quả
thường là rất nghiêm trọng, một bộ phận trẻ có thể bỏ nhà, bỏ học hay
nghiện ma túy. Gái mại dâm (ở trẻ nữ) thường có liên quan trực tiếp
đến tuổi thơ bất hạnh.
Các nguyên nhân khác dẫn đến BLGĐ như sau:
• Cha mẹ ít quan tâm tới con cái
• Học vấn thấp, ít hiểu biết
• Do nam giới nóng tính
• Quan niệm trọng nam khinh nữ
e) Cưỡng ép tảo hôn; cưỡng ép kết hôn, ly hôn hoặc cản trở hôn
nhân tự nguyện, tiến bộ;
g) Chiếm đoạt, huỷ hoại, đập phá hoặc có hành vi khác cố ý làm
hư hỏng tài sản riêng của thành viên khác trong gia đình hoặc tài sản
chung của các thành viên gia đình;
h) Cưỡng ép thành viên gia đình lao động quá sức, đóng góp tài
chính quá khả năng của họ; kiểm soát thu nhập của thành viên gia
đình nhằm tạo ra tình trạng phụ thuộc về tài chính;
i) Có hành vi trái pháp luật buộc thành viên gia đình ra khỏi chỗ
ở.
2. Hành vi bạo lực quy định tại khoản 1 Điều này cũng được áp
dụng đối với thành viên gia đình của vợ, chồng đã ly hôn hoặc nam,
nữ không đăng ký kết hôn mà chung sống với nhau như vợ chồng.
Điều 3. Nguyên tắc phòng, chống bạo lực gia đình
GVHD.Thầy Phan Quốc Thái
17
17
1. Kết hợp và thực hiện đồng bộ các biện pháp phòng, chống
bạo lực gia đình, lấy phòng ngừa là chính, chú trọng công tác tuyên
truyền, giáo dục về gia đình, tư vấn, hoà giải phù hợp với truyền
thống văn hoá, phong tục, tập quán tốt đẹp của dân tộc Việt Nam.
2. Hành vi bạo lực gia đình được phát hiện, ngăn chặn và xử lý
kịp thời theo quy định của pháp luật.
3. Nạn nhân bạo lực gia đình được bảo vệ, giúp đỡ kịp thời phù
hợp với điều kiện hoàn cảnh của họ và điều kiện kinh tế - xã hội của
đất nước; ưu tiên bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của trẻ em, người
cao tuổi, người tàn tật và phụ nữ.
4. Phát huy vai trò, trách nhiệm của cá nhân, gia đình, cộng
đồng, cơ quan, tổ chức trong phòng, chống bạo lực gia đình.
Điều 4. Nghĩa vụ của người có hành vi bạo lực gia đình
phòng ngừa bạo lực gia đình và hỗ trợ nạn nhân bạo lực gia đình.
3. Khuyến khích việc nghiên cứu, sáng tác văn học, nghệ thuật
về phòng, chống bạo lực gia đình.
4. Tổ chức, hỗ trợ việc bồi dưỡng cán bộ làm công tác phòng,
chống bạo lực gia đình.
5. Người trực tiếp tham gia phòng, chống bạo lực gia đình mà
có thành tích thì được khen thưởng, nếu bị thiệt hại về sức khoẻ, tính
mạng và tài sản thì được hưởng chế độ theo quy định của pháp luật.
GVHD.Thầy Phan Quốc Thái
19
19
Phần 6: Hoạt động phòng chống
Tuyên truyền Luật Phòng chống bạo lực gia đình
Hình thức tuyên truyền luật PCBLGĐ có thể thấy các tổ dân
phố, thôn, bản, ấp thường sử dụng hình thức giao tiếp trực tiếp và
chính thức là “họp dân, họp tổ dân phố, thôn, bản, ấp”, “sinh hoạt tập
thể” và tuyên truyền qua “loa truyền thành”. Các hình thức tuyên
truyền mang tính chất tiếp cận một chiều từ trực tiếp cá nhân như
“tiếp xúc trực tiếp cá nhân và gia đình” đến gián tiếp qua “bảng tin”,
“pano, áp phích” không phải là phổ biến ở địa bàn dân cư.
Hình thức tuyên truyền phổ biến về pháp luật nói chung và luật
PCBLGĐ nói riêng là lồng ghép vào nội dung họp hay sinh hoạt của
cơ quan, tổ chức. Hình thức này rất phổ biến trong công tác của Hội
phụ nữ các cấp nhất là ở địa phương:.
Đối tượng tuyên truyền giáo dục về luật PCBLGĐ chủ yếu là
phụ nữ chứ không phải cả nam và nữ. Trên thực tế, công tác vận động
về phòng chống BLGĐ do phụ nữ thực hiện là chủ yếu, chỉ phụ nữ
nghe. Như vậy thì chưa đủ, chưa hiệu quả và khó có thể giảm bớt một
cách triệt để BLGĐ ở các địa phương.
Như vậy có thể thấy công tác phòng chống bạo lực gia đình
thôn luôn là giải pháp sau khi việc giải quyết nội bộ, sự can thiệp của
xóm giềng không còn hiệu lực.
Các tổ hòa giải cũng có những hạn chế:
Chưa được tập huấn nâng cao kỹ năng hòa giải và kỹ năng tư
vấn và kỷ năng truyền thông trên cơ sở Luật PCBLGĐ.
• Các thành viên của tổ hòa giải chưa thật sự nẵm vững nội dung của
Luật PCBLGĐ, và hiện tại chỉ mới có tổ trưởng có văn bản luật
PCBLGĐ, các thành viên khác vẫn chưa có.
• Thiếu kinh phí hoạt động.
• Cán bộ kiêm nhiệm và hoạt động tự nguyện không có lương.
• Mẫu Cam kết: Còn chưa quy trách nhiệm cho cá nhân, mà quy trách
nhiệm cho cả vợ và chồng, cho nên chưa có tính giáo dục, răn đe đối
với cá nhân người gây ra bạo lực.
• Có biểu hiện trả thù thành viên tổ hòa giải như ném đất đá vào nhà
nên một số trường hợp không muốn giải quyết triệt để.
GVHD.Thầy Phan Quốc Thái
21
21
Tâm lý bảo vệ sự toàn vẹn của gia đình và “bảo vệ bà mẹ
và trẻ em” vẫn còn khá phổ biến
Kết quả nghiên cứu cho thấy, nguyên tắc quan trọng nhất trong
hòa giải là bảo vệ sự toàn vẹn gia đình và “bảo vệ bà mẹ và trẻ em”
theo quan niệm của những người ngoài cuộc, họ luôn cho rằng trẻ
em là người bị thiệt thòi nhất khi bố mẹ chia tay nhau, và phụ nữ là
người bị thiệt thòi hơn nam giới trong ly hôn, cho nên dù mức độ
BLGĐ như thế nào thì hầu hết các thành viên trong nhóm hòa giải khi
phân tích phải trái đều đặt quyền lợi của trẻ em lên trên hết, sau đó là
tính toàn vẹn của gia đình. Một số ý kiến cho rằng nếu hòa giải mà
dẫn đến ly hôn là hoạt động không hiệu quả, là sự “thất bại” của tổ
hòa giải, cho nên bằng mọi cách họ cũng vẫn khuyên hai vợ chồng
chủ yếu đón nhận những thông tin có liên quan. Hầu hết nam giới và
những người gây bạo lực còn khá thờ ơ và thậm chí đứng ngoài cuộc
trong việc tiếp thu các thông tin và truyền thông tin tới những người
xung quanh trong cộng đồng.
Tuy nhiên, chỉ vận động phụ nữ, chỉ phụ nữ nghe, phụ nữ học
thì chưa đủ, không thể cải thiện được tình hình bạo lực gia đình mà
người trực tiếp thực hiện các hành vi bạo lực là nam giới.
Cả phụ nữ và nam giới đều nhận biết rõ điểm hạn chế trong việc
triển khai thực hiện luật phòng, chống BLGĐ là chưa thu hút được
nam giới tham gia, trong khi họ chưa biết đến luật và không quan tâm
tìm hiểu về luật.
Nạn nhân BLGĐ không tự nguyện khai báo vì muốn giữ thể
diện cho chồng và cam chịu đã lấy phải người chồng vũ phu. Điều
này rõ ràng là một trở ngại lớn cho công tác phòng, chống BLGĐ ở
địa phương. Về điều này một nạn nhân BLGĐ đã nói rõ như sau.
Mặc dù đã có nhiều ý kiến cho rằng hiện nay phụ nữ đã được
nâng cao nhận thức và mạnh dạn tố cáo những hành vi BLGĐ, nhưng
qua kết quả thảo luận nhóm cho thấy vẫn còn nhiều cản trở phụ nữ để
có thể đứng lên tố cáo hành vi bạo lực gia đình và phận lớn đầu do
nhận thức chưa đầy đủ về quyền của người phụ nữ và quan niệm
truyền thống “việc riêng của gia đình” vẫn còn nằm trong tiềm thức
của cả nam và nữ.
Người vợ có vai trò khá quan trọng đối với việc ngăn ngừa hoặc
thúc đẩy bạo lực gia đình. Và không ít trường hợp phụ nữ là nguyên
nhân của bạo lực.
Bạo lực gia đình diễn ra âm thầm, ít được xử lý đến nơi đến
chốn cũng chính là bởi quan điểm muốn che giấu những điều dở,
không hay .
Hình thức “đóng cửa bảo nhau” dường như cách giải quyết này
chiếm ưu thế trong quan niệm của người dân địa phương, vì họ quan
Vị trí phụ nữ trong gia đình còn thấp và còn lệ thuộc vào chồng.
Do lịch sử để lại, một bộ phận phụ nữ còn ít tham gia hoạt động kinh
tế, trình độ học vấn thấp, thu nhập còn thấp và thiếu ốn định, cho nên
dễ bị lệ thuộc và chấp nhận hành vi bạo lực để được tồn tại cùng với
chồng con.
Thậm chí chấp nhận cũng được xem là một giải pháp đối phó
với người chồng vũ phu.
Quan điểm: chịu đau khổ một mình hoặc tốt đẹp thì khoe ra xấu
xa đậy lại ảnh hưởng rất nhiều đến sự im lặng của người phụ nữ khi
bị bạo lực.
Ngoài ra, sức ép từ những lời khuyên cũng là một trong những
nguyên nhân khiến số liệu định tính cho thấy phụ nữ chọn giải pháp
im lặng khi chồng bạo lực hoặc chấp nhận cuộc hôn nhân không lối
thoát phần nhiều vì phải chịu sức ép từ những lời khuyên của người
thân. Hình ảnh phụ nữ nhịn chồng để giữ gìn sự tòan vẹn của gia đình
như là một chuẩn mực quàng lên vai người vợ khiến họ khó có thể
bứt phá khỏi vòng vây của hôn nhân.
GVHD.Thầy Phan Quốc Thái
24
24
Tâm lý chung của người dân là rất ngại rắc rối, dính dáng đến
xử lý của chính quyền, pháp luật.
Sự lựa chọn được ưa thích hơn cả chính là giải quyết tại thôn.
Đặc biệt hơn, phụ nữ lại càng không muốn để gia đình, người nhà
mình rơi vào các tình huống bị xử lý vi phạm hành chính, pháp luật.
Chia sẻ của một người vợ, nạn nhân của bạo lực gia đình dưới đây rất
tiêu biểu cho quan điểm của những người vợ, dù thế nào vẫn cứ muốn
“bảo vệ” cho chồng.
Ngoài các khó khăn nêu trên, công tác phòng chống BLGĐ còn
gặp phải rất nhiều những khó khăn khác như tệ nạn xã hội như lạm
25