(CSVN) Ôn Tập Tự Luận Võ Mạnh Lân ()
1
MỤC LỤC
Câu 1: Phân tích sự thay đổi về kết cấu giai tầng xã hội (phong kiến và nửa thuộc địa nửa phong kiến) đã
ảnh hưởng đến lực lượng cách mạng Việt Nam cuối thế kỷ 19 và đầu thế kỷ 20 như thế nào? 3
Câu 2: Nêu rõ vai trò và nhiệm vụ của Nguyễn Ái Quốc đối với sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam?
4
Câu 3: Tại sao Hồ Chí Minh lại chọn con đường cách mạng vô sản chứ không phải con đường nào khác?
Ý nghĩa của sự lựa chọn đó đối với cách mạng Việt Nam vào cuối thể kỷ 19 - đầu thế kỷ 20 và trong giai
đoạn hiện nay? 5
Câu 4: So sánh nội dung văn kiện cương lĩnh tháng 2 và nội dung văn kiện luận cương chính trị tháng 10.
Rút ra ý nghĩa và nhận xét. 6
Câu 5: Những điểm chưa thống nhất giữa 2 văn kiện Cương lĩnh Tháng 2 và Luận cương Chính trị Tháng
10 đã được Đảng ta điều chỉnh, thay đổi như thế nào trong giai đoạn 1936 – 1939 và 1939 – 1945? 7
Câu 6: Trình bày bối cảnh ra đời và nội dung của chỉ thị “Nhật – Pháp bắn nhau và hành động của chúng
ta”. 9
Câu 7: Chứng minh rằng chủ trương chuyển hướng chỉ đạo của Đảng giai đoạn 1939 – 1945 đã trực tiếp
mở ra thời kỳ chuẩn bị điều kiện cần thiết cho cuộc Tổng khởi nghĩa giành chính quyền của nước ta vào
tháng 8/1945 10
Câu 8: Phân tích những khó khăn của nước ta sau cách mạng tháng 8/1945. Đảng đưa ra những chủ
trương, sách lược đối nội, đối ngoại gì để đưa đất nước thoát khỏi tình thế đó? (Vì sao Đảng ta lại đưa ra
nhận định “vận mình dân tộc như ngàn cân treo sợi tóc sau cách mạng tháng 8/1945”) 11
Câu 9: Trình bày nội dung nghị quyết Trung ương lần thứ 15 vào tháng 1/1959. Chứng minh nghị quyết
này đã mở đường cho cách mạng miền Nam phát triển. 12
Câu 10: Trình bày nội dung của đường lối kháng chiến chống Mỹ tại Đại hội lần thứ III của Đảng vào
tháng 9/1960. Phân tích vai trò, nhiệm vụ, mối quan hệ của hai nhiệm vụ chiến lược cách mạng ở hai
miền. 14
Câu 11: Trình bày nội dung đường lối kháng chiến chống Mỹ cứu nước sau năm 1965. 15
Câu 12: So sánh đường lối Công nghiệp hóa của thời kỳ trước đổi mới và thời kỳ đổi mới. 17
Câu 13: Cần làm gì để khắc phục những hạn chế trong quá trình đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa
Phong trào Cần Vương phát triển mạnh ra nhiều địa phương ở Bắc Kỳ, Trung Kỳ và Nam Kỳ.
Ngày 1/11/1888, vua Hàm Nghi bị Pháp bắt nhưng phong trào Cần Vương vẫn tiếp tục đến năm
1896.
Cuộc khởi nghĩa Yên Thế (Bắc Giang) diễn ra từ năm 1884. Nghĩa quân Yên Thế đã đánh thắng
Pháp nhiều trận và gây cho chúng nhiều khó khăn, thiệt hại. Cuộc chiến đấu của nghĩa quân Yên
Thế kéo dài đến năm 1913 thì bị dập tắt.
Thất bại của các phong trào trên cho thấy sự sụp đổ của hệ tư tưởng phong kiến trong xã hội Việt Nam
lúc bấy giờ.
Dưới tác động của chính sách cai trị và chính sách kinh tế, văn hóa, giáo dục thực dân, đặc biệt trong cuộc
khai thác thuộc địa lần thứ 2 của Pháp, Việt Nam từ một nước thuần phong kiến đã biến thành nước nửa
phong kiến thuộc địa, xã hội diễn ra quá trình phân hóa sâu sắc, hình thành nền nhiều tầng lớp giai cấp
mới như giai cấp công nhân, giai cấp tư sản và tiểu tư sản. Đầu thế kỷ 20, phong trào yêu nước dưới sự
lãnh đạo của tầng lớp sĩ phu tiến bộ chịu ảnh hưởng của tư tưởng dân chủ tư sản diễn ra sôi nổi. Tiêu biểu
là phong trào Đông Du theo xu hướng bạo động của Phan Bội Châu và phong trào cái cách của Phan
Châu Trinh. Từ trong phong trào đấu tranh, các tổ chức đảng phái ra đời như Tân Việt cách mạng Đảng,
Việt Nam quốc dân Đảng, theo lập trường quốc gia tư sản đã thể hiện vai trò của mình trong cuộc đấu
tranh giành độc lập dân tộc và dân chủ nhưng cuối cùng cũng hông thành công. Sự thất bại của các phong
trào yêu nước theo lập trường quốc gia tư sản ở Việt Nam đầu thế kỷ 20 đã phản ánh địa vị kinh tế và
chính trị yếu kém của giai cấp tư sản trong tiến trình cách mạng dân tộc.
Cũng từ đầu thế kỷ 20, cùng với sự phát triển của phong trào dân tộc trên lập trường tư sản, phong trào
công nhân chống lại áp bức, bóc lột của tư sản, thực dân cũng diễn ra từ rất sớm. Ban đầu, các cuộc đấu
tranh diễn ra với hình thức sơ khai. Trong những năm 1919 – 1925, phong trào công nhân diễn ra mạnh
mẽ hơn với các cuộc bãi công của công nhân Ba Son (1925) và cuộc bãi công của công nhân Nhà máy sợi
Nam Định (1925) Đến giai đoạn 1926 – 1929, phong trào công nhân đã có sự lãnh đạo của các tổ chức
đảng, mang tính chất chính trị rõ rệt, có sức lôi cuốn phong trào dân tộc theo con đường cách mạng vô
sản. Điều đặc biệt và quan trọng nhất trong phong trào cách mạng ở Đông Dương là sự đấu tranh của
quần chúng công nông có tính chất độc lập rõ rệt, chứ không phải là chịu ảnh hưởng quốc gia chủ nghĩa
(CSVN) Ôn Tập Tự Luận Võ Mạnh Lân ()
4
Nguyễn Ái Quốc đã tổ chức nhiều tờ báo nhằm truyền bá chủ nghĩa Marx-Lenin vào Việt Nam, thức tỉnh
và giác ngộ quần chúng, thúc đẩy phong trào đấu tranh yêu nước của nhân dân phát triển theo con đường
cách mạng vô sản.
Đến cuối năm 1929, trước sự ra đời của nhiều tổ chức đảng cộng sản hoạt động phân tán, chia rẽ, những
người cách mạng Việt Nam trong các tổ chức cộng sản đã nhận thức được sự cần thiết và cấp bách phải
thành lập một đảng cộng sản thống nhất, chấm dứt sự chia rẽ trong phong trào cộng sản ở Việt Nam.
Chính Nguyễn Ái Quốc đã chủ trì Hội nghị hợp nhất Đảng, họp từ từ ngày 6/1-7/2/1930 tại Hương Cảng,
Trung Quốc, quyết định phương châm, kế hoạch thống nhất các tổ chức cộng sản trong nước thành Đảng
(CSVN) Ôn Tập Tự Luận Võ Mạnh Lân ()
5
Cộng sản Việt Nam. Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời đã giải quyết được tình trạng khủng hoảng về
đường lối cách mạng, về giai cấp lãnh đạo cách mạng diễn ra đầu thế kỷ 20, mở ra con đường và phương
hướng phát triển mới cho đất nước Việt Nam.
Câu 3: Tại sao Hồ Chí Minh lại chọn con đường cách mạng vô sản chứ không phải con đường nào khác?
Ý nghĩa của sự lựa chọn đó đối với cách mạng Việt Nam vào cuối thể kỷ 19 - đầu thế kỷ 20 và trong giai
đoạn hiện nay?
Trả lời:
Lý do Hồ Chí Minh chọn con đường cách mạng vô sản:
Cuối thể kỷ 19 - đầu thế kỷ 20, trước sự xâm luợc và khai thác thuộc địa của thực dân Pháp, nhiều phong
trào đấu tranh giải phóng dân tộc theo khuynh hướng phong kiến (phong trào Cần Vương, khởi nghĩa Yên
Thế, ) và tư sản (Phan Bội Châu, Phan Chu Trinh, ) diễn ra mạnh mẽ nhưng cuối cùng đều thất bại do
hạn chế về gai cấp, thể hiện sự khủng hoảng về đường lối chính trị, hệ thống tổ chức, giai cấp lãnh đạo và
lực lượng cách mạng (hai lực lượng xã hội cơ bản là công nhân và nông dân). Qua đó đã cho thấy cách
mạng phong kiến hay cách mạng tư sản tại Việt Nam đều không thành công.
Trước nhiệm vụ lịch sử đặt ra phải tìm con đường cách mạng mới, chàng thanh niên Nguyễn Tất Thành
đã ra đi tìm đường cứu nước vào năm 1911. Trong quá trình tìm đường cứu nước, Người đã tìm hiểu kỹ
các cuộc cách mạng điển hình trên thế giới và nhận ra rằng, cách mạng tư sản của Mỹ và Pháp là các cuộc
cách mạng triệt để, không đến nơi bởi khi cách mạng tư sản thành công, giai cấp tư sản lên nắm chính
Câu 4: So sánh nội dung văn kiện cương lĩnh tháng 2 và nội dung văn kiện luận cương chính trị tháng 10.
Rút ra ý nghĩa và nhận xét.
Trả lời:
So sánh Cương lĩnh Tháng 2 và Luận cương Tháng 10:
Vấn đề cơ bản
Cương lĩnh tháng 2
Luận cương tháng 10
Phương hướng
chiến lược
Tư sản dân quyền và thổ địa cách mạng để đi tới xã hội cộng sản chủ nghĩa.
Nhiệm vụ
Đánh đổ đế quốc chủ nghĩa Pháp và
phong kiến, trong đó chống đế quốc
Pháp là nhiệm vụ hàng đầu.
Đánh đổ đế quốc chủ nghĩa Pháp và phong
kiến, trong đó vấn đề thổ địa, chống phong
kiến là cái cốt của cách mạng tư sản dân
quyền.
Lực lượng cách
mạng
Công, nông, tiểu tư sản, trí thức, tư sản
dân tộc, địa chủ yêu nước.
Công, nông, các phần tử lao khổ đô thị.
Lãnh đạo cách
mạng
Giai cấp vô sản là lực lượng lãnh đạo
cách mạng, trong đó Đảng là đội tiên
phong của giai cấp vô sản.
Sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản là điều
kiện cốt yếu cho thắng lợi của cách mạng.
mạng Đông Dương là giải phóng dân tộc tiến lên chủ nghĩa xã hội bỏ qua chủ nghĩa tư bản.
Hai văn kiện đều dùng cụm từ cách mạng tư sản dân quyền kiểu mới với nhiệm vụ giành độc lập
và thổ địa ruộng đất.
Hai văn kiện đều xác định đi tới đấu tranh bằng bạo lực cách mạng để giành chính quyền.
Xác định vai trò của công nhân và nông dân là động lực chính của cách mạng.
Thống nhất về vai trò lãnh đạo của Đảng và sứ mệnh lịch sử của Đảng.
Ý nghĩa và nhận xét:
Luận cương chính trị Tháng 10 khẳng định lại nhiều vấn đề căn bản thuộc về chiến lược cách mạng mà
Cương lĩnh Tháng 2 đã nêu ra. Bên cạnh mặt thống nhất cơ bản, giữa Luận cương chính trị Tháng 10 và
Cương lĩnh Tháng 2 có mặt khác nhau. Luận cương chính trị không nêu ra được mâu thuẫn chủ yếu là
mau thuẫn giữa dân tộc Việt Nam và đế quốc Pháp, từ đó không đặt nhiệm vụ chống đế quốc lên hàng
đầu; đánh giá không đúng vai trò cách mạng của tầng lớp tiểu tư sản, phủ nhận mặt tích cực của tư sản
dân tộc và chưa thấy được khả năng phân hóa, lôi kéo một bộ phận địa chủ vừa và nhỏ trong cách mạng
giải phóng dân tộc, từ đó Luận cương đã không đề ra được một chiến lược liên minh dân tộc và giai cấp
rộng rãi trong cuộc đấu tranh chống đế quốc xâm lược và tay sai.
Nguyên nhân chủ yếu của những mặt khác nhau:
Luận cương chính trị chưa tìm ra và nắm vững những đặc điểm của xã hội thuộc địa nửa phong
kiến Việt Nam.
Do nhận thức giao điều, máy móc về vấn đề dân tộc và giai cấp trong cách mạng ở thuộc địa, lại
chịu ảnh hưởng trực tiếp khuynh hướng “tả” của Quốc tế Cộng sản và một số đảng cộng sản trong
thời gian đó.
Chính vì vậy, Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng tháng 10/1930 đã không chấp nhận những quan
điểm mới, sáng tạo, độc lập tự chủ của Nguyễn Ái Quốc được nêu trong Đường Cách Mệnh và Cương
lĩnh Tháng 2.
Câu 5: Những điểm chưa thống nhất giữa 2 văn kiện Cương lĩnh Tháng 2 và Luận cương Chính trị Tháng
10 đã được Đảng ta điều chỉnh, thay đổi như thế nào trong giai đoạn 1936 – 1939 và 1939 – 1945?
Trả lời:
Những điểm chưa thống nhất giữa 2 văn kiện Cương lĩnh Tháng 2 và Luận cương Chính trị Tháng 10 đã
được Đảng điều chỉnh:
tranh chung chống chủ nghĩa phát xít của nhân dân thế giới.
- Trong giai đoạn 1939 – 1945:
Trên cơ sở nhận định khả năng diễn biến của chiến tranh thế giới thứ hai và căn cứ vào tình hình cụ thể
trong nước, Ban Chấp hành Trung ương Đảng đã quyết định chuyển hướng chỉ đạo chiến lược như sau:
Đưa nhiệm vụ giải phóng dân tộc lên hàng đầu: Ban Chấp hành Trung ương nêu rõ mâu thuẫn
chủ yếu ở nước ta là mâu thuẫn giữa dân tộc ta với bọn đế quốc, phát xít Pháp - Nhật. Ban Chấp
hành Trung ương quyết định gác lại cách mạng địa điền để tập trung cho nhiệm vụ hàng đầu của
cách mạng lúc này.
Quyết định thành lập Mặt trận Việt Minh để đoàn kết, tập hợp lực lượng cách mạng nhằm mục
tiêu giải phóng dân tộc: vận động, thu hút mọi người dân yêu nước không phân biệt thành phần,
lứa tuổi, đoàn kết bên nhau đặng cứu Tổ quốc, cứu giống nòi.
Quyết định xúc tiến chuẩn bị khởi nghĩa vũ trang là nhiệm vụ trung tâm của Đảng và nhân dân ta
trong giai đoạn hiện tại: ra sức phát triển lực lượng cách mạng, bao gồm lực lượng chính trị và
lực lượng vũ trang, xúc tiến xây dựng căn cứ địa cách mạng. Ban Chấp hành Trung ương còn đặc
biệt chú trọng công tác xây dựng Đảng nhằm nâng cao tổ chức và lãnh đạo của Đảng, chủ trương
gấp rút đào tạo cán bộ và đẩy mạnh công tác vận động quần chúng.
(CSVN) Ôn Tập Tự Luận Võ Mạnh Lân ()
9
Với tinh thần độc lập, tự chủ, sáng tạo, Ban Chấp hành Trung ương Đảng đã hoàn chỉnh sự chuyển hướng
chỉ đạo chiến lược nhằm giải quyết mục tiêu số một của cách mạng là độc lập dân tộc và đề ra nhiều chủ
trương đúng đắn để thực hiện mục tiêu ấy.
Câu 6: Trình bày bối cảnh ra đời và nội dung của chỉ thị “Nhật – Pháp bắn nhau và hành động của chúng
ta”.
Trả lời:
- Bối cảnh ra đời chỉ thị “Nhật – Pháp bắn nhau và hành động của chúng ta”:
Vào cuối năm 1944, đầu năm 1945, chiến tranh thế giới thứ hai bước vào giai đoạn kết thúc. Hồng quân
Liên Xô quét sạch phát xít Đức ra khỏi lãnh thổ của mình và tiến như vũ bão về phía Berlin. Phát xít Nhật
lâm vào tình trạng nguy khốn. Mâu thuẫn Nhật – Pháp ngày càng gay gắt. Đêm 9/3/1945, Nhật đảo chính
Trả lời:
Sau khi Ban Chấp hành Trung ương Đảng họp và quyết định chuyển hướng chỉ đạo chiến đạo với 3 nội
dụng chính: đưa nhiệm vụ giải phóng dân tộc lên hàng đầu, thành lập Mặt trận Việt Minh và xúc tiến
chuẩn bị khởi nghĩa vũ trang, Đảng đã tiến hành nhiều hoạt động nhằm chuẩn bị các điều kiện cần thiết
cho cuộc Tổng khởi nghĩa giành chính quyền của nước ta vào tháng 8/1945 như sau:
Để tập hợp lực lượng cách mạng đông đảo trong cả nước, Ban Chấp hành Trung ương quyết định
thành lập Mặt trận Việt Nam độc lập đồng minh, gọi tắt là Việt Minh vào ngày 19/5/1941 nhằm
vận động, thu hút mọi người dân yêu nước không phân biệt thành phần, lứa tuổi, đoàn kết bên
nhau đặc cứu Tổ quốc, cứu giống nòi. Từ đó, một số tổ chức chính trị yêu nước ra đời và đã tham
gia làm thành viên của Mặt trận Việt Minh. Lực lượng chính trị quần chúng ngày càng đông đảo
và được rèn luyện trong đấu tranh chống Pháp - Nhật theo khẩu hiệu của Mặt trận Việt Minh.
Để đưa cuộc khởi nghĩa vũ trang đến thắng lợi, cần phải ra sức phát triển lực lượng cách mạng,
bao gồm lực lượng chính trị và lực lượng vũ trang, xúc tiến xây dựng căn cứ địa cách mạng.
Trung ương quyết định duy trì lực lượng vũ trang Bắc Sơn và chủ trương thành lập những đội du
kích hoạt động phân tán, dùng hình thức vũ trang vừa chiến đấu chống địch, bảo vệ nhân dân, vừa
phát triển cơ sở cách mạng, tiến tới thành lập khu căn cứ, lấy vùng Bắc Sơn Vũ Nhai làm trung
tâm. Công việc chuẩn bị khởi nghĩa vũ trang diễn ra sôi nổi ở các khu căn cứ và khắp các địa
phương trong cả nước đã cổ vũ và thúc đẩy mạnh mẽ phong trào cách mạng quần chúng vùng lên
đấu tranh giành chính quyền.
Ngày 9/3/1945 ngay trong đêm Nhật đảo chính Pháp để độc chiếm Đông Dương, Ban Thường vụ
Trung ương Đảng họp Hội nghị ở làng Đình Bảng (Từ Sơn, Bắc Ninh). Đến ngày 12/3/1945, Ban
Thường vụ Trung ương Đảng ra chỉ thị “Nhật – Pháp bắn nhau và hành động của chúng ta” với
nội dung cơ bản xác định lại kẻ thù chính, cụ thể trước mắt là phát xít Nhật và chủ trương phát
động một cao trào kháng Nhật, cứu nước mạnh mẽ, làm tiền đề cho cuộc Tổng khởi nghĩa. Ngày
15/4/1945, Ban Thường vụ Trung ương Đảng triệu tập Hội nghị quân sự cách mạng, quyết định
thống nhất các lực lượng vũ trang sẵn có thành Việt Nam giải phóng quân, xây dựng thêm bảy
chiến khu trong cả nước và chủ trương phát triển hơn nữa lực lượng vũ trang và nửa vũ trang,
Ngay sau đó, các cuộc khởi nghĩa từng phần liên tục nổ ra. Ở khu giải phóng và một số địa
phương, chính quyền nhân dân đã hình thành, tồn tại song song với chính quyền tay sai của phát
xít Nhật.
dự đoán chiều hướng phát triển của các trào lưu cách mạng trên thế giới và sức mạng mới của dân tộc để
vạch ra chủ trương, giải pháp đấu tranh nhằm giữ vững chính quyền, bảo vệ nền độc lập, tự do vừa giành
được. Ngày 25/11/1945, Ban Chấp hành Trung ương Đảng ra chỉ thị về “Kháng chiến kiến quốc”, vạch
con đường đi lên cho cách mạng Việt Nam trong giai đoạn mới:
Chỉ đạo chiến lược: xác định mục tiêu phải nêu cao của cách mạng Việt Nam lúc này vẫn là dân
tộc giải phóng, nhưng không phải là giành độc lập mà là giữ vững độc lập.
Xác định kẻ thù: Đảng chỉ rõ kẻ thù chính của ta lúc này là thực dân Pháp xâm lược, phải tập
trung ngọn lửa đấu tranh vào chúng.
Phương hướng, nhiệm vụ: Đảng nêu lên bốn nhiệm vụ chủ yếu và cấp bách cần khẩn trương thực
hiện là “cùng cố chính quyền, chống thực dân Pháp xâm lược, bài trừ nội phản, cải thiện đời sống
cho nhân dân”. Đảng chủ trương kiên trì nguyên tắc thêm bạn bớt thù, thực hiện khẩu hiệu “Hoa -
Việt thân thiện” đối với quân đội Tưởng Giới Thạch và “Độc lập về chính trị, nhân nhượng về
kinh tế” đối với Pháp.
- Kết quả:
Cuộc đấu tranh thực hiện chủ trương “Kháng chiến kiến quốc” của Đảng giai đoạn 1945 – 1946 đã diễn ra
rất gay go, quyết liệt trên tất cả các lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hóa, quân sự, ngoại giao và đã giành
được những kết quả hết sức to lớn:
Chính trị - xã hội: Đã xây dựng được nền móng chế độ dân chủ nhân dân với đầy đủ các yếu tố
cần thiết. Quốc Hội, Hội đồng nhân dân các cấp được thành lập thông qua phổ thông bầu cử. Hiến
(CSVN) Ôn Tập Tự Luận Võ Mạnh Lân ()
12
pháp dân chủ nhân dân được Quốc hội thông qua và ban hành. Các đoàn thể nhân dân được xây
dựng và mở rộng.
Kinh tế - văn hóa: Đã phát động phong trào tăng gia sản xuất, cứu đói, xóa bỏ các thứ thuế vô lý
của chế độ cũ, ra sắc lệnh giảm tô 25%, xây dựng ngân quỹ quốc gia. Các lĩnh vực sản xuất được
hồi phục. Cuối năm 1945, nạn đói cơ bản được đẩy lùi. Năm 1946, đời sống nhân dân được ổn
định và có cải thiện. Cuộc vận động toàn dân xây dựng nền văn hóa mới đã bước đầu xóa bỏ
được nhiều tệ nạn xã hội và tập tục lạc hậu. Phong trào diệt dốt, bình dân học vụ được thực hiện
sôi nổi. Cuối năm 1946, cả nước đã có thêm 2,5 triệu người biết đọc, biết viết.
13
Một Đảng lãnh đạo hai cuộc cách mạng khác nhau, ở hai miền đất nước có chế độ chính trị khác nhau là
khó khăn của cách mạng Việt Nam trong giai đoạn này. Yêu cầu bức thiết đặt ra cho Đảng ta sau tháng
7/1954 là phải đề ra được đường lối đúng đắn, phù hợp với tình hình mỗi miền, tình hình cả nước, vừa
phù hợp với xu thế chung của thời đại.
Tháng 1/1959, Hội nghị Trung ương lần thứ 15 họp bàn và ra nghị quyết về cách mạng miền Nam:
Tình hình cách mạng Việt Nam: hai mâu thuẫn cơ bản của xã hội ta là mâu thuẫn giữa đế quốc
xâm lược, giai cấp địa chủ phong kiến, bọn tư sản mại bản tay sai đế quốc thống trị ở miền Nam
với toàn thể nhân dân dân Việt Nam; mâu thuẫn giữa con đường xã hội chủ nghĩa và tư bản chủ
nghĩa.
Nhiệm vụ chung của cách mạng Việt Nam: cách mạng Việt Nam do Đảng lãnh đạo có hai nhiệm
vụ chiến lược phải song song tiến hành là cách mạng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc và cách mạng
dân tộc dân chủ nhân dân ở miền Nam, trong đó đánh đổ chế độ thống trị Mỹ - Diệm, giải phóng
miền Nam là nhiệm vụ chung, vì lợi ích và yêu cầu chung của nhân dân cả nước.
Mâu thuẫn của cách mạng miền Nam: có hai mâu thuẫn cơ bản là giữa nhân dân ta với đế quốc
Mỹ xâm lược và giữa nông dân với giai cấp địa chủ phong kiến. Trong đó mâu thuẫn chủ yếu là
mâu thuẫn giữa toàn dân tộc ta với đế quốc Mỹ và tập đoàn tay sai Ngô Đình Diệm.
Lực lượng cách mạng: Công nhân, nông dân, tiểu tư sản và tư sản dân tộc, động lực cách mạng là
công nhâ, nông dân, tiểu tư sản.
Kẻ thù của cách mạng miền Nam: đế quốc Mỹ, địa chủ phong kiến, tư sản mại bản tay sai hiếu
chiến trong ngụy quyền Sài Gòn.
Nhiệm vụ của cách mạng miền Nam: đoàn kết toàn dân, đánh đổ đế quốc Mỹ và tập đoàn thống
trị Ngô Đình Diệm, thành lập chính quyền liên hiệp dân tộc, dân chủ ở miền Nam, cải thiện đời
sống nhân dân, giữ vững hòa bình, thực hiện thống nhất nước nhà.
Phương pháp cách mạng miền Nam: cách mạng bạo lực.
Phương hướng phát triển cơ bản của cách mạng miền Nam: dựa vào lực lượng chính trị của quần
chúng là chủ yếu, kết hợp với lực lượng vũ trang để đánh đổ quyền thống trị của đế quốc và
phong kiến, dựng lên chính quyền cách mạng của nhân dân.
Khả năng phát triển: có thể chuyển thành cuộc đấu tranh vũ trang lâu dài, nhưng cuối cùng thắng
tháng 9/1960. Phân tích vai trò, nhiệm vụ, mối quan hệ của hai nhiệm vụ chiến lược cách mạng ở hai
miền.
Trả lời:
- Nội dung của đường lối kháng chiến chống Mỹ tại Đại hội lần thứ III của Đảng vào tháng 9/1960:
Đại hội lần thứ III của Đảng họp tại Thủ đô Hà Nội từ ngày 5-1/9/1960 đã hoàn chỉnh đường lối chiến
lược chung của cách mạng Việt Nam trong giai đoạn mới.
Nhiệm vụ chung: Tăng cường đoàn kết toàn dân, kiên quyết đấu tranh giữ vững hòa bình, đẩy
mạnh cách mạng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc, đồng thời đẩy mạnh cách mạng dân tộc dân chủ
nhân dân ở miền Nam, thực hiện thông nhất nước nhà trên cơ sở độc lập và dân chủ, xây dựng
một nước Việt Nam hòa bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh, thiết thực góp phần
tăng cường phe xã hội chủ nghĩa và bảo vệ hòa bình ở Đông Nam Á và thế giới.
Nhiệm vụ chiến lược: Cách mạng Việt Nam trong giai đoạn hiện tại có hai nhiệm vụ chiến lược.
Một là, tiến hành cách mạng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc. Hai là, giải phóng miền Nam khỏi ách
thống trị của đế quốc Mỹ và bọn tay sai, thực hiện thống nhất nước nhà, hoàn thành độc lập và
dân chủ trong cả nước.
Con đường thống nhất đất nước: Trong khi tiến hành đồng thời hai chiến lược cách mạng, Đảng
kiên trì con đường hòa bình thống nhất theo tinh thần Hiệp nghị Geneve, sẵn sàng thực hiện hiệp
thương tổng tuyển cử hòa bình thống nhất Việt Nam nhưng phải luôn nâng cao cảnh giác, sẵn
sàng đối phó với mọi tình thế.
Triển vọng của cách mạng Việt Nam: cuộc đấu tranh nhằm thực hiện thống nhất nước nhà là một
quá trình đấu tranh cách mạng gay go, gian khổ, phức tạp và lâu dài chống đế quốc Mỹ và bè lũ
tay sai của chúng ở miền Nam. Thắng lợi cuối cùng nhất định thuộc về nhân dân ta, Nam Bắc
nhất định sum họp một nhà, cả nước sẽ đi lên chủ nghĩa xã hội.
- Vai trò, nhiệm vụ, mối quan hệ của hai nhiệm vụ chiến lược cách mạng ở hai miền:
(CSVN) Ôn Tập Tự Luận Võ Mạnh Lân ()
15
Nhiệm vụ cách mạng ở miền Bắc và nhiệm vụ cách mạng ở miền Nam thuộc hai chiến lược khác nhau,
mỗi nhiễm vụ nhằm giải quyết yêu cầu cụ thể của mỗi miền trong hoàn cảnh nước nhà tạm bị chia cắt.
Hai nhiệm vụ đó lại nhằm giải quyết mâu thuẫn chung của cả nước giữa nhân dân ta với đế quốc Mỹ và
đang tiến hành ở miền Nam vẫn là một cuộc chiến tranh xâm lược thực dân kiểu mới, buộc phải
thực thi trong thế thua, thế thất bại và bị động, cho nên nó chứa đựng đầy mâu thuẫn về chiến
lược. Đánh giá tương quan lực lượng, Đảng khẳng định rằng: “Mặc dù đế quốc Mỹ đưa vào miền
Nam hàng chục vạn quân đội viễn chinh nhưng lực lượng so sánh giữa ta và địch vẫn không thay
đổi lớn. Tuy cuộc chiến tranh trở nên gay go và ác liệt nhưng nhân dân ta đã có cơ sở chắc chắn
(CSVN) Ôn Tập Tự Luận Võ Mạnh Lân ()
16
để giữ vững và tiếp tục giành thế chủ động trên chiến trường, có lực lượng và điều kiện để đánh
bại âm mưu trước mắt và lâu dài của địch”. Từ đó, Trung ương Đảng quyết định phát động cuộc
kháng chiến chống Mỹ, cứu nước trong toàn quốc, coi chống Mỹ, cứu nước là nhiệm vụ thiêng
liêng của cả dân tộc.
Quyết tâm và mục tiêu chiến lược: Kiên quyết đánh bại cuộc chiến tranh xâm lược của đế quốc
Mỹ trong bất kỳ tình huống nào, nhằm bảo vệ miền Bắc, giải phóng miền Nam, hoàn thành cách
mạng dân tộc dân chủ nhân dân trong cả nước, tiến tới hòa bình thống nhất nước nhà.
Nhiệm vụ cách mạng Việt Nam: Lúc này chống Mỹ, cứu nước là nhiệm vụ thiêng liêng nhất của
mọi người Việt Nam yêu nước, vì vậy tất cả chúng ta hãy đoàn kết nhất trí triệu người như một,
quyết tâm đánh thắng giặc Mỹ xâm lược.
Tư tưởng chỉ đạo chiến lược: Giữ vững và phát triển thế tiến công, kiên quyết tiến công và liên
tục tiến công.
Phương châm chiến lược chung: Đánh lâu dài, dựa vào sức mình là chính, càng đánh càng mạnh,
cần phải cố gắng đến mức độ cao, tập trung lực lượng ở cả hai miền để mở những cuộc tiến công
lớn, tranh thủ thời co giành thắng lợi quyết định trong thời gian tương đối ngắn trên chiến trường
miền Nam.
Hình thức đấu tranh: Tiếp tục kết hợp đấu tranh quân sự với đấu tranh chính trị, triệt để thực hiện
ba mũi giáp công.
Nhiệm vụ đối với miền Bắc: Đảng chủ trương phải đánh bại cuộc chiến tranh phá hoạt của đế
quốc Mỹ, bảo vệ sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội, đồng thời tích cực chuẩn bị đề phòng để
đánh bại địch khi chúng liều lĩnh mở rộng “Chiến tranh cục bộ” ra cả nước. Thực hiện chuyển
hướng nền kinh tế để phù hợp với thời chiến, đảm bảo tiếp tục xây dựng miền Bắc vững mạnh về
nền kinh tế nông nghiệp lạc hậu tiến thẳng
lên chủ nghĩa xã hội không trải qua giai
đoạn phát triển tư bản chủ nghĩa. Miền Bắc
vừa phải khắc phục hậu quả chiến tranh,
xây dựng cơ sở vật chất và kỹ thuật cho
mục tiêu chủ nghĩa xã hội, vừa phải ra sức
tiếp viện cho miền Nam trong cuộc chiến
tranh với đế quốc Mỹ.
Nền kinh tế - xã được quản lý theo cơ chế
quan liêu, bao cấp bị khủng hoảng nặng nề
nhiều năm. Cơ sở vật chất - kỹ thuật còn lạc
hậu, cơ cấu kinh tế phát triển không đồng bộ,
sản phẩm nông nghiệp chưa đáp ứng được
như cầu về lương thực, thực phẩm cho xã
hội.
Quan điểm
Nhất quán xác định công nghiệp hóa là nhiệm vụ trọng tâm của thời kỳ quá độ.
Công nghiệp hóa là quá trình tạo ra những tiền đề về vật chất, kỹ thuật, về con người, công
nghệ, phương tiện, phương pháp - những yếu tố cơ bản của lực lượng sản xuất cho chủ
nghĩa xã hội.
Nhằm mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh.
Quá trình công nghiệp hóa phải kết hợp chặt chẽ và toàn diện giữa phát triển kinh tế với
củng cố, tăng cường quốc phòng, an ninh bảo vệ tổ quốc.
Công nghiệp hóa không đi liền với hiện đại
hóa.
Công nghiệp hóa phải gắn liền với hiện đại
hóa. Có như vậy mới rút ngắn được quá trình
công nghiệp hóa, nâng cao hiệu quả của quá
trình này ở nước ta, khắc phục được nguy cơ
tụt hậu về kinh tế.
và hàng xuất khẩu; chú trọng phát triển các
doanh nghiệp vừa và nhỏ có sử dụng nhiều
lao động bên cạng việc xây dựng những tập
đoàn kinh tế lớn.
(CSVN) Ôn Tập Tự Luận Võ Mạnh Lân ()
18
Công nghiệp hóa trước đổi mới theo kiểu
khép kín, chỉ quan hệ và chỉ nhận sự giúp
đỡ của các nước xã hội chủ nghĩa.
Công nghiệp hóa, hiện đại hóa theo xu thế
quốc tế hóa và hội nhập kinh tế thế giới,
tham gia phân công lao động quốc tế.
Thành tựu
Nhiều khu công nghiệp lớn, quan trọng
hình thành.
Giá trị công nghiệp tăng.
Cơ sở vật chất - kỹ thuật trong nông nghiệp
được tăng cường.
Nhiều trường đào tạo lực lượng lao động
trình độ tay nghề cao ra đời.
Cơ sở vật chất của đất nước được tăng cường
đáng kể, khả năng độc lập tự chủ của nền
kinh tế được nâng cao.
Cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng công
nghiệp hóa, hiện đại hóa đạt được những kết
quả quan trọng.
Nền kinh tế tăng trưởng khá cao, góp phần
quan trọng vào công tác xóa đói, giảm nghèo,
đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân tiếp
Câu 13: Cần làm gì để khắc phục những hạn chế trong quá trình đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa
đất nước hiện nay?
Trả lời:
Sau 27 năm đổi mới, đất nước ta đã thu được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử, trong đó có
những thành tựu nổi bật của công nghiệp hóa, hiện đại hóa:
Cơ sở vật chất – kỹ thuật của đất nước được tăng cường đáng kể, khả năng độc lập tự chủ của nền
kinh tế được nâng cao. Từ một nền kinh tế chủ yếu là nông nghiệp lạc hậu, cơ sở vật chất yếu
kém đi lên, đến này cả nước đã có nhiều khu công nghiệp, khu chế xuất tập trung hoạt động có
hiệu quả. Một số sản phẩm công nghiệp đã cạnh tranh được trên thị trường trong và ngoài nước.
Nhiều công trình quan trọng thuộc kết cấu hạ tầng được xây dựng theo hướng hiện đại.
(CSVN) Ôn Tập Tự Luận Võ Mạnh Lân ()
19
Cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa đã đạt được những kết quả
nhất định. Trong từng ngành kinh tế đều có sự chuyển dịch tích cực về cơ cấu sản xuất, cơ cấu
công nghệ theo hướng tiến bộ, hiệu quả, gắn với sản xuất, với thị trường. Cơ cấu kinh tế vùng đã
có sự điều chỉnh theo hướng phát huy lợi thế so sánh của từng vùng. Cơ cấu thành phần kinh tế
tiếp tục chuyển dịch theo hướng phát huy tiềm năng của các thành phần kinh tế và đan xen nhiều
hình thức sở hữu. Cơ cấu lâu động đã có sự chuyển đổi tích cực gắn liền với quá trình chuyển
dịch cơ cấu kinh tế.
Những thành tựu của công nghiệp hóa, hiện đại hóa đã góp phần quan trọng đưa nền kinh tế đạt
tốc độ tăng trưởng khá cao, đóng vai trò lớn vào công tác xóa đói, giảm nghèo. Thu nhập bình
quân đầu người hàng năm tăng lên đáng kể, đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân tiếp tục
được cải thiện.
Bên cạnh những thành tựu to lớn đã đạt được, công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở nước ta vẫn còn nhiều hạn
chế, nổi bật là:
Tốc độ tăng trưởng kinh tế vẫn thấp so với khả năng và thấp hơn nhiều nước trong khu vực thời
kỳ đầu công nghiệp hóa. Quy mô nền kinh tế còn nhỏ, thu nhập bình quân đầu người thấp. Tăng
trưởng kinh tế chủ yếu theo chiều rộng, tập trung vào các ngành công nghệ thấp, sử dụng nhiều
tài nguyên. Năng suất lao động còn thấp.
nâng cao trình độ của Đảng viên. Đối với Nhà nước phải đẩy mạnh quá trình cải cách hành chính,
làm cho bộ máy hành chính gọn nhẹ, trong sạch.
Thực hiện nhất quán chính sách kinh tế nhiều thành phần tạo điều kiện cho mọi thành phần kinh
tế phát triển, tạo động lực phát triển kinh tế - xã hội.
Đào tạo, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực. Tạo ra một cơ cấu nhân lực đồng bộ về mọi mặt.
Phải phát huy được đầy đủ khả năng sáng tạo của mỗi cá nhân để đạt được hiệu quả lao động cao
nhất, góp phần thúc đẩy quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa của đất nước.
Đẩy mạnh đổi mới phát triển công nghệ, công tác nghiên cứu đánh giá chính xác tài nguyên quốc
gia. Chú trọng nghiên cứu cơ bản về khoa học xã hội, khoa học tự nhiên. Mở rộng công tác khoa
học công nghệ với quốc tế nhằm tiếp cận các thành tựu khoa học kỹ thuật mới. Chú trọng đào tạo
chuyên gia, tăng cường cơ sở vật chất - kỹ thuật cho các ngành khoa học công nghệ.
Đẩy mạnh công tác huy động vốn và sử dụng vốn có hiệu quả. Cần nỗ lực sản xuất, khắc phục
tình trạng yếu kém, gây thất thoát, lãng phí tiền của đất nước và nhân dân, tập trung vốn cho đầu
tư và phát triển kinh tế.
Mở rộng và nâng cao hiệu quả kinh tế đối ngoại nhằm tận dụng sức mạnh của thời đại, thu hút
các nguồn lực phát triển từ bên ngoài.
Giữ gìn sự ổn định chính trị, hoàn thiện hệ thống pháp luật. Đây là nhân tố quan trọng đầu tiên để
phát triển, là điều kiện để các nhà sản xuất kinh doanh trong và ngoài nước yên tâm đầu tư.
Câu 14: Vì sao Đảng ta lại chủ trương Việt Nam cần thiết và có thể phải rút ngắn thời gian tiến hành
công nghiệp hóa, hiện đại hóa?
Trả lời:
- Khái niệm công nghiệp hóa, hiện đại hóa:
Công nghiệp hóa, hiện đại hóa là quá trình chuyển đổi căn bản, toàn diện các hoạt động sản xuất kinh
doanh, dịch vụ và quản lý kinh tế - xã hội, từ sử dụng sức lao động thủ công là chính sang sử dụng một
cách phổ biến sức lao động với công nghệ, phương tiện, phương pháp tiên tiến hiện đại, dựa trên sự phát
triển của công nghiệp và tiến bộ khoa học công nghệ, tạo ra năng suất lao động xã hội cao.
- Tác động của công nghiệp hóa, hiện đại hóa:
Công nghiệp hóa, hiện đại hóa là quá trình tạo ra những điều kiện vật chất kĩ thuật và khoa học công
nghệ, thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế nhằm huy động và sử dụng có hiểu quả mọi nguồn lực để
kết thúc, cũng như giãn cách xa nhau về trình độ và thành quả đạt được trong quá trình công nghiệp hóa,
hiện đại hóa . Vì vậy, để đuổi kịp các nước đi trước và phát triển hơn, bắt buộc các nước đi sau phải tăng
tốc, rút ngắn lộ trình phát triển của mình.
Thực tiễn thế giới cho thấy có sự rút ngắn rõ rệt qua những giai đoạn lịch sử trong quá trình công nghiệp
hóa, hiện đại hóa đất nước. Xét trên phạm vi toàn cầu: Nếu như các nước Tây Âu và Bắc Mỹ phải mất
trên 200 năm để tạo dựng nền công nghiệp phát triển của mình, thì Nhật Bản nhờ mở cửa cầu thị và
hướng về Âu - Mỹ, nên chỉ mất 50 - 60 năm để hoàn thành công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước; còn
các nước NICs do bắt đầu muộn hơn, lại biết kết hợp cả sự giúp đỡ và kinh nghiệm của Âu, Mỹ và Nhật
Bản, đồng thời phát huy các lợi thế so sánh của mình, đã rút ngắn thời gian phát triển nền công nghiệp
của họ xuống còn bằng 1/2 thời gian của Nhật, tức chỉ bằng khoảng 1/10 thời gian mà các nước Âu - Mỹ
phải đi qua. Đến lượt Thái Lan, thời gian này còn được rút ngắn hơn nữa…
Với Việt Nam, rút ngắn vừa là mục tiêu, vừa là phương thức quan trọng hàng đầu trong quá trình công
nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Việt Nam bắt tay vào công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất
nước chậm hơn so với các nước phát triển trong khu vực và thế giới khác (cả về thời gian và trình độ phát
(CSVN) Ôn Tập Tự Luận Võ Mạnh Lân ()
22
triển) từ vài thập kỷ đến hàng thế kỷ do xuất phát điểm của nền kinh tế rất thấp cả về lượng và chất, hơn
nữa lại bị chiến tranh kéo dài tàn phá nặng nề và cơ chế bao cấp kìm hãm khá lâu,…
Chính vì vậy, để rút ngắn khoảng cách với thế giới, tạo nền tảng cơ sở vật chất - kỹ thuật cho chủ nghĩa
xã hội, Việt Nam phải đồng thời vừa triển khai trên bề rộng quá trình công nghiệp hóa, phát triển nền
công nghiệp truyền thống, vừa phải nhanh chóng hiện đại hóa, đi thẳng vào phát triển từng bộ phận cấu
thành của kinh tế tri thức, nhằm sớm đưa nước ta thoát khỏi tình trạng kém phát triển, cơ bản trở thành
nước công nghiệp vào năm 2020… Điều đó cũng có nghĩa là phát triển rút ngắn phải trở thành sự lựa
chọn bắt buộc quan trọng hàng đầu cả về mục tiêu và phương thức trong quá trình phát triển đất nước.
Câu 15: Vì sao Đảng ta lại xem công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp nông thôn là mặt trận hàng
đầu trong thời kỳ đổi mới? Những mặt tích cực và hạn chế của chủ trương này.
Trả lời:
Trong khi coi công nghiệp hóa, hiện đại hóa là nhiệm vụ trung tâm trong suốt thời kỳ quá độ lên chủ
Trong ngành trồng trọt thì cây lương thực vẫn là chủ yếu, chất lượng các loại nông sản chưa đáp
ứng được thị trường trong nước và xuất khẩu. Sự phát triển thời gian qua chỉ dựa vào nhân tố
chiều rộng.
Công nghiệp phát triển nhanh nhưng cơ cấu nội bộ ngành còn lạc hậu, thiếu các ngành công
nghiệp có kỹ thuật, hàm lượng chất xám cao; thủ công nghiệp và ngành nghề nông thôn chưa
được nhân rộng, tạo hạt nhân cho quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp nông thôn.
Các làng nghề còn mang yếu tố tự phát. Trình độ quản lý kinh tế còn nhiều hạn chế.
Khu vực dịch vụ còn gặp nhiều khó khăn, chưa hình thành đồng bộ các loại thị trường như thị
trường khoa học – công nghệ, lao động,
Cơ sở hạ tầng nông thôn và dịch vụ còn yếu kém.
Khoa học, kỹ thuật và công nghệ trên một số lĩnh vực còn hạn chế, thiếu đầu tư. Sự chuyển giao
công nghệ còn nhiều bất cập. Nhiều cơ sở sản xuất kinh doanh chỉ đạt trình độ trung bình.
Thu nhập bình quân của dân cư nông thôn còn thấp, tích lũy nội bộ chưa cao, hạn chế tái đầu tư
sản xuất mở rộng.
Trình độ chuyên môn của lực lượng lao động trong khu vực nông nghiệp, nông thôn còn thấp,
phân bố lại bất hợp lý giữa các ngành, các địa phương.
Các lĩnh vực văn hóa, xã hội còn một số mặt yếu kém, giáo dục và đào tạo chưa thực sự phát huy
đầy đủ.
Tài nguyên khoáng sản bị sử dụng lãng phí, đất nông nghiệp ngày càng thu hẹp do mật độ dân số
cao.
Câu 16: Để tiến hành quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa thành công, ta cần có những yếu tố nào?
Yếu tố nào mang tính quyết định, tại sao?
Trả lời:
Để tiến hành quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa thành công cần năm yếu tố chủ yếu là vốn; khoa học
và công nghệ; con người; cơ cấu kinh tế; thể chế chính trị và quản lý nhà nước. Trong các yếu tố tham gia
vào quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa, yếu tố con người luôn được coi là yếu tố cơ bản, yếu tố
quyết định.
Nói đến công nghiệp hóa, hiện đại hóa là nhằm mục đích phát triển toàn diện ba hệ thống: kinh tế - xã hội
- môi trường, để phát triển toàn diện con người. Phát triển con người là đặc trưng bản chất của xã hội chủ
Hiện đại hóa là quá trình ứng dụng và trang bị những thành tựu khoa học và công nghệ tiên tiến, hiện đại
vào quá trình sản xuất, kinh doanh, dịch vụ và quản lý kinh tế - xã hội.
- Tính tất yếu của việc tiến hành đồng thời 2 quá trình công nghiệp hóa và hiện đại hóa:
Sau chiến tranh thế giới lần thứ hai, nhiều nước dù thắng hay bại đều trở thành nước kiệt quệ đã trở thanh
mét trong những nguyên nhân cho bước khởi động của cuộc khoa học công nghệ hiện đại. Có thể chia
cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật hiện đại thành hai giai đoạn:
Giai đoạn thứ nhất bắt đầu từ những năm 40 đến giữa những năm 70. Giai đoạn này sử dụng khoa
học kỹ thuật để hiện đại hoá các công cụ sản xuất, phát triển kinh tế theo hướng mở rộng và tăng
thêm các yếu tố sản xuất. Thực chất đây là giai đoạn bắt đầu phát triển của lực lượng sản xuất cả
về con người và công cụ sản xuất.
Giai đoạn hai bắt đầu vào những năm 70 trở đi và cho đến nay vẫn đang tiếp tục rất mạnh mẽ.
Giai đoạn này là thực hiện cuộc cách mạng với qui mô lớn và toàn diện trên lực lượng sản xuất
trên cơ sở áp dụng các thành tựu khoa học - kỹ thuật, đổi mới toàn bộ bộ máy sản xuất hiện hành
trên cơ sở sử dụng những phương tiện kỹ thuật về công nghệ mới khác hẳn về nguyên tắc thay thế
(CSVN) Ôn Tập Tự Luận Võ Mạnh Lân ()
25
hàng loạt các thiết bị lạc hậu bằng các thiết bị hiện đại làm cho năng suất và chất lượng sản phẩm
lên cao. Đây là giai đoạn biến đổi hẳn về chất của lực lượng sản xuất ở các nước tư bản chủ nghĩa
thì đây là thời kỳ mâu thuẫn của lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất lên cao tạo điều kiện cho
sự ra đời của phương thức sản xuất mới.
Quá trình diễn ra không đồng đều ở các nước do nhiều nguyên nhân dễ dẫn đến sự chênh lệch về kinh tế.
Trên thế giới hình thành 3 nhóm nước đó là các cường quốc về kinh tế, các nước phát triển và đang phát
triển. Sự phân chia này cũng hình thành nên các mâu thuẫn cơ bản của xã hội, vấn đề cơ bản của các nước
đang phát triển là đường lối đấu tranh hoà bình giải quyết mâu thuẫn thông qua làm cuộc cách mạng về
kinh tế.
Việt Nam là một nước có nền kinh tế nhỏ, lạc hậu về khoa học kỹ thuật, lực lượng sản xuất còn non nớt
chưa phù hợp với quan hệ sản xuất của xã hội chủ nghĩa. Để có cơ sở kỹ thuật của nền sản xuất lớn,
không còn con đường nào khác là công nghiệp hoá, cơ khí hoá cân đối và hiện đại trên trình độ khoa học
kỹ thuật phát triển cao. Muốn vậy công nghiệp hoá, hiện đại hoá là phát triển tuần tự và phát triển nhảy