GVHD: Nguyễn Thị Phương Linh
Trường Đại học Nông lâm TPHCM
Câu 1: Hãy nêu và phân tích nội dung định nghĩa vật chất của Lênin? Từ đó rút ra phương
ý nghĩa phương pháp luận của nó?
Trả lời:
* Phạm trù vật chất trong lịch sử triết học duy vật:
- Thời kỳ cổ đại: quan niệm đồng nhất vật chất với các dạng vật chất cụ thể
+ Trường phái triết học Trung Hoa:
▪ Thuyết Âm dương cho rằng nguyên lý vận hành đầu tiên và phổ biến của vạn vật là tương
tác của những thế lực đối lập nhau đó là âm và dương.
▪ Thuyết ngũ hành có xu hướng phân tích về cấu trúc của vạn vật để quy nó về yếu tố khởi
nguyên với tính chất khác nhau. Theo thuyết này có 5 nhân tố khởi nguyên là Kim- Mộc -
Thủy - Hỏa - Thổ. Trong đó chúng có quan hệ với nhau (tương sinh, tương khắc).
+ Trường phái triết học Ấn độ: Phái Nyaya và Vaisesia coi nguyên tử là thực thể của TG.
+ Ở phương tây: Một số quan điểm điển hình thời kỳ này là: Talét coi vật chất là nước,
Anaximen coi vật chất là không khí, Hêraclit coi vật chất là lửa. Đặc biệt đỉnh cao của quan
niệm về vật chất của thời kỳ Hy Lạp cổ đại là thuyết nguyên tử của Lơxip và Đêmôcrít.
Theo thuyết này thì thực thể tạo nên thế giới là nguyên tử và nó là phần tử nhỏ bé nhất và
không thể phân chia được, khôg thể xâm nhập và quan sát được, chỉ có thể nhận biết được
bằng tư duy.
- Thời kỳ cận đại: quan niệm đồng nhất vật chất với nguyên từ và khối lượng. Các phát
minh của của vật lý học cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX đã bác bỏ các quan niệm trên:
+ Năm 1895, Rơn-ghen (Đức): người phát hiện ra tia X - sóng điện từ có bước sóng rất
ngắn.
+ Năm 1896 Béc-cơ-ren (Pháp): Phát hiện ra hiện tượng phóng xạ. Đã chứng minh rằng
nguyên tử không phải là bất biến là cái không thể phân chia được và chuyển hóa cho nhau,
mà hoàn toàn ngược lại.
+ Năm 1897 Tôm-xơn (Anh): Phát hiện ra điện tử. Điện tử là một trong những yếu tố tạo ra
nguyên tử vì thế nguyên tử không phải là đơn vị cuối cùng tạo nên thế giới vật chất.
- Vật chất được đem lại cho con người trong cảm giác tức là nó là nguồn gốc, nguyên nhân
của cảm giác, của ý thức, nó có trước ý thức và tạo nên nội dung của ý thức. Còn cảm giác
hay ý thức là sự chép lại chụp lại, phản ánh, nó có sau so với vật chất. Rõ ràng vật chất là
tính thứ nhất, ý thức là tính thứ hai, vật chất quyết định ý thức.
- Tóm lại những luận điểm chính trong định nghĩa vật chất của Lênin:
+ Vật chất cái đang tồn tại khách quan bên ngoài ý thức và không phụ thuộc vào ý thức của
con người.
GVHD: Nguyễn Thị Phương Linh
Trường Đại học Nông lâm TPHCM
+ Vật chất cái gây nên cảm giác ở con người khi bằng cách nào đó trực tiếp hay gián tiếp
tác động lên giác quan của con người.
+ Vật chất cái mà cảm giác, tư duy, ý thức chẳng qua chỉ là sự phản ánh của nó.
+ Thuộc tính chung nhất của mọi dạng vật chất là tồn tại khách quan bên ngoài ý thức của
con người.
- V.I.Lênin đã thừa nhận:
+ Giúp phân biệt sự khác nhau cơ bản giữa khái niệm vật chất trong triết học và các khóa
học chuyên ngành.
+ Vật chất là tính thứ nhất và là nguồn gốc khách quan của cảm giác, ý thức.
+ Bằng những phương thức nhận thức khác nhau (chép lại, chụp lai, ) con người có khả
năng nhận thức được thế giới vật chất.
* Ý nghĩa phương pháp luận:
- Định nghĩa vật chất của Lênin đã giải đáp một cách khoa học về vấn đề cơ bản của triết
học Phủ nhận quan điểm của chủ nghĩa duy tâm, thuyết “bất khả tri” khi giải quyết các vấn
đề cơ bản của triết học.
- Khắc phục quan điểm trực quan, siêu hình trong quan niệm về vật chất của chủ nghĩa duy
vật cũ, đồng thời kế thừa và phát triển tư tưởng của C.Mác và Ph.Ăngghen về vật chất.
- Là cơ sở của thế giới quan và phương pháp luận đúng đắn cho các nhà khoa học trong việc
nghiên cứu về vật chất.
- Là cơ sở khoa học cho việc xây dựng quan điểm biện chứng trong lĩnh vực xã hội để có
▪ Kinh nghiệm và kỹ năng của người lao động.
▪ Trình độ phân công lao động.
+ Tính chất của lực lượng sản xuất (tính chất của lao động):
▪ Nền sản xuất thủ công: lao động mang tính cá thể.
▪ Nền sản xuất đạt đến trình độ cơ khí hóa: lực lượng sản xuất vận động trong sự hợp tác
rộng rãi trên cơ sở chuyên môn hóa cao dẫn đến tính chất của lao động có tính chất xã hội
hóa cao.
- Lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất là hai mặt cơ bản tất yếu của quá trình sản xuất
trong đó lực lượng sản xuất là nội dung vật chất còn quan hệ sản xuất là hình thức xã hội
của quá trình sản xuất.
- Lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất tồn tại trong tính quy định lẫn nhau, thống nhất
với nhau:
GVHD: Nguyễn Thị Phương Linh
Trường Đại học Nông lâm TPHCM
+ Tương ứng với thực trạng phát triển của của lực lượng sản xuất đòi hỏi phải có một quan
hệ sản xuất phù hợp với nó trên cả ba phương diện: sở hữu tư liêu sản xuất, tổ chức và quản
lý, phân phối sản phẩm.
+ Sự phù hợp của quan hệ sản xuất với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất là trạng
thái mà ở đó các yếu tố cấu thành quan hệ sản xuất phải tạo điều kiện cho lực lượng sản
xuất phát triển.
- Theo C.Mác:
+ Động lực phát triển của lịch sử do sự phát triển của lực lượng sản xuất quyết định.
+ Trình độ phát triển nhất định của lực lượng sản xuất là yếu tố quyết định các quan hệ kinh
tế và là nguyên nhân chủ yếu của các biến đổi xã hội.
- Mối quan hệ giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất là mối quan hệ thống nhất có
bao hàm khả năng chuyển hóa thành các mặt đối lập và phát sinh mâu thuẫn:
+ Khi lực lượng sản xuất phát triển đến một trình độ cao hơn dẫn đến sự thống nhất nói trên
bị phá vỡ dẫn đến mâu thuẫn giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất từ đó xã hội tìm
định hướng xã hội chủ nghĩa.
- Phát triển lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Thực
hiện nhiều hình thức phân phối thu nhập, trong đó lấy phân phối theo lao động là chủ yếu.
- Chuyển đổi cơ cấu kinh tế theo hướng hiện đại hóa hợp lý và hiệu quả cao:
+ Thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước .
+ Thể hiện trong đường lối đối ngoại, trong việc xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ
nghĩa “Dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ văn minh”.
Câu 3: Hãy trình bày nội dung cơ bản của quy luật từ những sự thay đổi về lượng dẫn tới
sự thay đổi về chất và ngược lai? Từ đó rút ra ý nghĩa phương pháp luận và liên hệ thực tiễn
bản thân?
Trả lời:
* Khái niệm chất, lượng:
- Khái niệm chất:
+ Chất là phạm trù của triết học dùng để chỉ tính khách quan vốn có của sự vật, hiện tượng
là sự thống nhất hữu cơ của các thuộc tính cấu thành nó, làm cho nó là nó không phải chất
khác.
+ Thuộc tính:
▪ Là những tính chất của sự vật.
▪ Chỉ bộc lộ khi tác động qua lại với sự vật khác.
GVHD: Nguyễn Thị Phương Linh
Trường Đại học Nông lâm TPHCM
▪ Mỗi sự vật, hiện tượng có thuộc tính cơ bản và thuộc tính không cơ bản, trong đó thuộc
tính cơ bản tạo thành chất của sự vật.
▪ Thuôc tính thay đổi thì chất thay đổi.
+ Để nhận thức được chất với tư cách là sự tổng hợp tất cả các thuộc tính vốn có của nó,
chúng ta phải nhận thức sự vật trong sự tổng hợp tất cả các mối quan hệ có thể có giữa sự
vật đó với sự vật khác.
+ Chất được xác định bởi:
▪ Chất của các yếu tố cấu thành nó.
sự ra đời của chất mới. Sự thay đổi về chất gọi là bước nhảy. Bước nhảy là một phạm trù
dùng để chỉ giai đoạn chuyển hóa về chất của sự vật do sự thay đổi lượng trước đó gây ra.
- VD:
- Sự hình thành chất mới không phải là quá trình chấm dứt của sự vật, hiện tượng mà nó
mởi ra chu kỳ mới, sức sống mới cho chất đó phát triển, chuẩn bị cho sự chuyển hóa, tiến
hóa tiếp theo.
- Khi chất mới ra đời, sẽ tác động trở lại lượng mới. Khi sự vật mới ra đời, với chất mới lại
có một lượng mới phù hợp, tạo nên sự thống nhất mới giữa chất và lượng. Sự tác động của
chất mới đối với lượng mới được biểu hiện ở quy mô, nhịp điệu phát triển về lượng thay
đổi.
- Nội dung cơ bản của quy luật từ những sự thay đổi về lượng dẫn tới sự thay đổi về chất và
ngược lại: Bất kỳ sự vật hiện tượng nào cũng là sự thống nhất biện chứng giữa hai mặt chất
và lượng; sự thay đổi dần dần về lượng tới điểm nút tất yếu sẽ dẫn đến sự thay đổi căn bản
về chất của sự vật thông qua bước nhảy. Đến đây, chấm dứt một dạng tồn tại của vật chất.
Chất cũ, sự vật cũ mất đi; chất mới, sự vật mới hình thành. Chất mới ra đời sẽ tác động trở
GVHD: Nguyễn Thị Phương Linh
Trường Đại học Nông lâm TPHCM
lại lượng của sự vật, tạo ra sự biến đổi mới về lượng của sự vật, khi đạt tới điểm nút mới
chất mới sẽ ra đời.
* Ý nghĩa phương pháp luận:
- Bất kỳ sự vật, hiện tượng nào cũng có phương diện chất và lượng tồn tại trong tính quy
định lẫn nhau, tác động và làm chuyển hóa lẫn nhau do đó trong hoạt động nhận thức và
thực tiễn phải coi trọng cả hai phương diện chất và lượng.
- Những sự thay đổi về lượng sẽ dẫn đến sự thay đổi về chất trong điều kiện nhất định và
ngược lại do đó trong hoạt động nhận thức và hoạt động thực tiễn phải biết từng bước tích
lũy về lượng để làm biến đổi về chất theo quy luật. đồng thời phát huy tác động của chất
Trả lời:
* Khái niệm con người:
- Con người là một thực thể tự nhiên mang đặc tính xã hội, có sự thống nhất biện chứng
giữa hai phương diện tự nhiên và xã hội.
- Hai mặt của con người:
+ Mặt tự nhiên: thể hiện ở chỗ cũng giống như những động vật khác, con người cũng chịu
sự quy định của các quy luật sinh học, của tự nhiên như quy luật đồng hoá và dị hoá, quy
luật biến dị và di truyền, v.v. Dẫn đến con người là sản phẩm của tự nhiên.
+ Mặt xã hội: thể hiện ở chỗ, con người là một loại động vật có tính chất xã hội, trước hết
và cơ bản nhất là nhân tố lao động hay hoạt động sản xuất vật chất con người còn có ngôn
ngữ, tư duy, ý thức, sự tồn tại và phát triển của con người luôn bị chi phối bởi các nhân tố
xã hội và các quy luật xã hội. Xã hội biến đổi thì mỗi con người cũng biến đổi và ngược lại,
sự phát triển của mỗi cá nhân lại trở thành tiền đề cho sự phát triển xã hội.Dẫn đến con
người là sản phẩm của xã hội.
- Quan điểm của chủ nghĩa duy vật lịch lịch sử về con người về con người: theo C.Mác:
“Con vật chỉ tái sản xuất lại chính bản thân nó, còn con người thì tái sản xuất ra toàn bộ
giới tự nhiên”.
* Bản chất của con người:
- Theo C.Mác “Bản chất con người không phải là một cái trừu tượng cố hữu của cá nhân
riêng biệt. Trong tính hiện thực của nó, bản chất con người là tổng hòa những quan hệ xã
hội”.
- Bản chất của con người xét trên phương diện hiện thực của nó, chính là của các quan hệ xã
hội, là sản phẩm tất yếu của những quan hệ kinh tế, chính trị – xã hội trong những điều kiện
lịch sử nhất định.
- Khi những quan hệ xã hội thay đổi thay đổi thì bản chất của con người sẽ thay đổi.
- Con người làm ra lịch sử của chính mình. Theo quan điểm duy vật biện chứng về bản chất
xã hội của con người thì sự hình thành và phát triển của con người cùng những khả năng
sáng tạo lịch sử của nó là xuất phát từ sự hình thành và phát triển của những quan hệ xã hội
GVHD: Nguyễn Thị Phương Linh
- Thứ ba, về văn hóa - giáo dục, tiếp tục xây dựng nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân
tộc; xây dựng gia đình no ấm, tiến bộ, hạnh phúc làm nền tảng tinh thần cho mỗi cá nhân; tiếp
tục đổi mới giáo dục – đào tạo theo hướng dân tộc, hiện đại, toàn diện nhằm đáp ứng đòi hỏi
của thực tiễn đất nước và thời đại đặt ra.
- Thứ tư, việc phát triển con người toàn diện cần được quán triệt trong các chủ trương của
Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, trong từng giải pháp của các cấp, các ngành, các
GVHD: Nguyễn Thị Phương Linh
Trường Đại học Nông lâm TPHCM
địa phương và đến từng cá nhân. Để có được điều này, sự tham gia một cách chủ động, tích
cực của các phương tiện truyền thông là điều không thể thiếu.
Câu 5: Hãy phân tích nội dung cơ bản của nguyên lý về mối liên hệ phổ biến và nguyên lý về sự
phát triển? Từ đó rút ra ý nghĩa phương pháp luận của nó và liên hệ với thực tiễn bản thân?
Trả lời:
* Nguyên lý về mối liên hệ phổ biến:
- Khái niệm mối liên hệ, mối liên hệ phổ biến:
+ Mối liên hệ: Dùng để chỉ sự quy định sự tác động và chuyển hóa lẫn nhau giữa các sự vật ,
hiện tượng hay giữa các mặt, các yếu tố của mỗi sự vật, hiện tượng trong TG.VD: Mối liên hệ
giữa điện tích dương và điện tích âm trong một nguyên tử; mối liên hệ giữa vô cơ với hữu
cơ;
+ Mối liên hệ phổ biến: Dùng để chỉ tính phổ biến của các mối liên hệ của các sự vật, hiện
tượng của thế giới, đồng thời cũng dùng để chỉ các mối liên hệ tồn tại ở nhiều sự vật, hiện
tượng của thế giới.
- Tính chất của các mối liên hệ:
trực tiếp và gián tiếp, liên hệ cơ bản và không cơ bản….Trong đó, liên hệ bên trong, bản
chất, chủ yếu, trực tiếp, cơ bản mang tính chất quyết định
- Ý nghĩa phương pháp luận:
+ Vì mối liên hệ có tính khách quan và tính phổ biến cho nên trong nhận thức cũng như
trong thực tiễn cần phải có quan điểm toàn diện:
▪ Phải xem xét sự vật trong mối liên hệ qua lại giữa các bộ phận, các yếu tố, các thuộc tính
nhau của chính sự vật.
▪ Xem xét nó trong mối liên hệ qua lại giữa sự vật đó với sự vật khác.
▪ Cần xem xét “nó” trong mối liên hệ với nhu cầu thực tiễn của con người (tri thức đạt được
của con người về 1 sự vật hiện tượng nào đó điều có tính tương đối đầy đủ, không tròn vẹn
từ đó tránh tuyệt đối hóa những tri thức đã có sự thật – xem nó là những chân lý bất biến để
khỏi phạm sai lầm.
+ Từ tính chất đa dạng, phong phú của các mối liên hệ cho thấy trong hoạt động nhận thức
và thực tiễn cần phải kết hợp quan điểm toàn diện với quan điểm lịch sử - cụ thể:
▪ Cần phải xem xét đến hoàn cảnh LS - cụ thể của đối tượng nhận thức và bối cảnh hiện
thực (khách quan, chủ quan).
▪ Khi xem xét 1 quan điểm, 1 luận thuyết cũng phải đặt nó trong mối QH.
- Liên hệ bản thân về nguyên lý về mối liên hệ phổ biến:
+ Với tư cách là những nguyên tắc phương pháp luận, quan điểm toàn diện, quan điểm lịch
sử - cụ thể góp phần định hướng, chỉ đạo hoạt động nhận thức và hoạt động thực tiễn cải tạo
hiện thực, cải tạo chính bản thân chúng ta. Song để thực hiện được chúng, mỗi chúng ta cần
nắm chắc cơ sở lý luận của chúng - nguyên lý về mối liên hệ phổ biến . Đối với sinh viên,
ngay từ khi còn ngồi trên ghế nhà trường, vẫn có thể sử dụng các nguyên tắc phương pháp
GVHD: Nguyễn Thị Phương Linh
Trường Đại học Nông lâm TPHCM
luận đó vào việc thực hiện nhiệm vụ chính trị của mình góp phần xây dựng đất nước ngày
càng phồn vinh, xã hội ta ngày càng tươi đẹp.
+ Quan điểm toàn diện dạy cho ta biết rằng khi xem xét, đánh giá một sự vật, hiện tượng
phải xem xét đánh giá một cách toàn diện , mọi mặt của vấn đề để hiểu được bản chất thật
Trường Đại học Nông lâm TPHCM
quan vốn có của sự vật; là quá trình thống nhất giữa phủ định những nhân tố tiêu cực và kế
thừa, nâng cao nhân tố tích cực từ sự vật cũ trong hình thái mới của sự vật.
+ Nguồn gốc của sự phát triển:
▪ Phát triển là quá trình phát sinh và giải quyết những mâu thuẫn khách quan vốn có của sự
vật.
▪ Phát triển cũng là quá trình thống nhất giữa phủ định những nhân tố tiêu cực và kế thừa
năng cao những nhân tố tích cực từ sự vật cũ trong hình thái mới của sự vật.
+ Cách thức của sự phát triển: sự phát triển chính là kết quả của quá trình thay đổi về lượng
dẫn đến sự biến đổi về chất của sự vật.
+ Khuynh hướng của sự phát triển: Sự phát triển diễn ra theo đường xoáy ốc (cái mới ra đời
dường như có sự quay trở lại điểm xuất phát nhưng trên cơ sở mới cao hơn).
- Tính chất của sự phát triển:
+ Tính khách quan của sự phát triển: Sự phát triển bắt nguồn từ bản thân sự vật, hiện tượng
là quá trình giải quyết mâu thuẫn của sự vật, hiện tượng.
+ Tính phổ biến của sự phát triển: Quá trình phát triễn diễn ra trong mọi lĩnh vực, mọi quá
trình, mọi giai đoạn.
+ Tính đa dạng, phong phú của sự phát triển:
▪ Phát triển là khuỳnh hướng chung của thê giới vật chất nhưng ở mỗi sự vật, hiện tượng
quá trình phát triển không hoàn toàn giống nhau.
▪ Trong hiện thực tùy vào hình thức tồn tại cụ thể của các dạng vật chất sự phát triển được
thực hiện khác nhau.
▪ Trong quá trình phát triển sự vật, hiên tượng chịu nhiều tác động khác nhau làm thay đổi
chiều hướng của sự vật.
▪ Tồn tại trong những không gian, thời gian khác nhau thì sự vật sẽ phát triễn khác nhau.
+ Sự phát triển thường diễn ra quanh co phức tạp trãi qua những khâu trung gian, thậm chí
có những bước thụt lùi tạm thời song phát triển luôn là khuynh hướng chung của sự vật,
hiện tượng.
Dẫn đến, phát triển là tiến lên có sự kế thừa.
mặt của lao động sản xuất hàng hóa.
Trả lời:
* Khái niệm hàng hóa:
GVHD: Nguyễn Thị Phương Linh
Trường Đại học Nông lâm TPHCM
- Hàng hóa là sản phẩm của lao động, có thể thỏa mãn nhu cầu nào đó của con người và thông
qua trao đổi, mua bán.
- Hàng hóa là 1 phạm trù kinh tế phản ánh những mối QH kinh tế-xã hội của những người sản
xuất và trao đổi hàng hóa.
- Có hai hình thức:
+ Hàng hóa hữu hình: có thể sờ, nắm, được (lương thực, thực phẩm, sắt, thép, )
+ Hàng hóa vô hình: chỉ có thể cảm nhận được (giáo dục, văn hóa, )
* Hai thuộc tính hàng hóa:
- Giá trị sử dụng:
+ Giá trị sử dụng là công dụng của vật phẩm có thể thỏa mãn nhu cầu nào đó của con người
trực tiếp hay gián tiếp.
VD: gạo để ăn, vậy giá trị sử dụng của gạo là để ăn.
+ Bất kỳ hàng hóa nào cũng có một hay một số công dụng nhất định làm cho nó có giá trị
sử dụng.
+ Công dụng của vật phẩm là do những thuộc tính tự nhiên của vật chất quyết định mỗi một
vật có thể có nhiều thuộc tính tự nhiên khác dẫn đến nó sẽ có nhiều giá trị sử dụng hay công
dụng khác.
+ Giá trị sử dụng của hàng hóa được phát hiện dần dần trong quá trình phát triển của khoa
học - kỹ thuật và của lực lượng sản xuất nói chung. Xã hội càng tiến bộ, lực lượng sản xuất
càng phát triển thì số lượng giá trị sử dụng ngày càng nhiều, chủng loại giá trị sử dụng càng
phong phú, chất lượng giá trị sử dụng ngày càng cao.
+ Giá trị sử dụng của hàng hóa là giá trị sử dụng xã hội vì giá trị sử dụng của hàng hóa
không phải là giá trị sử dụng cho người sản xuất trực tiếp mà là cho người khác, cho xã hội,
thông qua trao đổi mua bán. Điều đó đòi hỏi người sản xuất hàng hóa phải luôn quan tâm
hàng hóa: Hàng hóa có hai thuộc tính vì lao động của người sản xuất hàng hóa có tính hai
mặt: vừa mang tính chất cụ thể (lao động cụ thể) vừa mang tính chất trừu tượng (lao động
trừu tượng). - Lao động cụ thể:
GVHD: Nguyễn Thị Phương Linh
Trường Đại học Nông lâm TPHCM
+ Lao động cụ thể là lao động có ích ích dưới một hình thức cụ thể của những nghề nghiệp
chuyên môn nhất định.
+ Mỗi lao động cụ thể có mục đích riêng, đối tượng riêng, phương tiện riêng, phương pháp
riêng và kết quả riêng. Những cái riêng này phân biệt lao động cụ thể khác nhau.
+ VD: lao động của người thợ mộc là:
▪ Mục đích là sản xuất cái bàn, cái ghế,
▪ Đối tượng lao động là gỗ.
▪ Phương tiện là cái cưa, cái đục, cái bào,
▪ Phương pháp là các thao tác cưa, bào, khoan, đục,
▪ Kết quả là tạo ra cái bàn, cái ghế,
+ Mỗi lao động cụ thể tạo ra một loại giá trị sử dụng nhất định. Lao động cụ thể càng nhiều
loại càng tạo ra nhiều loại giá trị sử dụng khá nhau.
+ Các lao động cụ thể hợp thành hệ thống phân công lao động xã hội.
+ Lao động cụ thể không phải là nguồn gốc duy nhất của giá trị sử dụng lao động cụ thể chỉ
thay đổi hình thức tồn tại của giá trị sử dụng lao động cụ thể chỉ thay đổi hình thức tồn tại
của các vật chất, làm cho nó thích hợp với nhu cầu của con người.
+ Giá trị sử dụng là phạm trù vĩnh viễn vì vậy lao động cụ thể cũng là phạm trù vĩnh viễn
tồn tại gắn liền với sản phẩm, nó là điều kiện không thể thiếu trong bất cứ hình thái kinh tế -
xã hội.
- Lao động trừu tượng:
+ Lao động trừu tượng là sự hao phí sức lực ( tiêu hao sức cơ bắp, thần kinh) của người sản
cách là tư bản thì vận động theo công thức: T - H - T’. Bất cứ tiền nào vận động theo công
thức T - H - T đều chuyển hoá thành tư bản.
- So sánh công thức H - T - H’ và công thức T - H - T’
+ Điểm giống nhau:
▪ Đều phản ánh sự vận động của kinh tế hàng hóa.
▪ Đều chứa đựng hai hành vi đối lập nhau đó là mua và bán.
▪ Đều cấu thành bởi hai nhân tố vật chất đó là tiền và hàng.
▪ Đều biểu hiện quan hệ kinh tế giữa người mua và người bán.
+ Điểm khác nhau:
▪ Lưu thông hàng hoá giản đơn bắt đầu bằng việc bán (H - T) và kết thúc bằng việc mua (T
- H). Điểm xuất phát và điểm kết thúc của quá trình đều là hàng hoá, còn tiền chỉ đóng vai
trò trung gian.
GVHD: Nguyễn Thị Phương Linh
Trường Đại học Nông lâm TPHCM
▪ Lưu thông của tư bản bắt đầu bằng việc mua (T - H) và kết thúc bằng việc bán (H – T).
Tiền vừa là điểm xuất phát, vừa là điểm kết thúc của quá trình, còn hàng hoá chỉ đóng vai
trò trung gian; tiền ở đây không phải là chi ra dứt khoát mà chỉ là ứng ra rồi thu về.
▪ Mục đích của lưu thông hàng hoá giản đơn là giá trị sử dụng để thoả mãn nhu cầu, nên các
hàng hoá trao đổi phải có giá trị sử dụng khác nhau. Sự vận động sẽ kết thúc ở giai đoạn
hai, khi những người trao đổi có được giá trị mà họ cần.
▪ Mục đích của lưu thông tư bản không phải là giá trị sử dụng, mà là giá trị, hơn nữa giá trị
tăng thêm. Vì vậy, nếu số tiền thu về bằng số tiền ứng ra, thì quá trình vận động trở nên vô
nghĩa. Do đó, số tiền thu về phải lớn hơn số tiền ứng ra, nên công thức vận động đầy đủ của
tư bản phải là T - H - T', trong đó T' = T + ΔT. Số tiền trội hơn so với số tiền ứng ra (ΔT),
C.Mác gọi là giá trị thặng dư, ký hiệu là m. Số tiền ứng ra ban đầu chuyển hoá thành tư bản.
- Vậy tư bản là giá trị mang lại giá trị thặng dư. Mục đích lưu thông tư bản là sự lớn lên của
giá trị, là giá trị thặng dư, nên sự vận động của tư bản là không có giới hạn, vì sự lớn lên
của giá trị là không có giới hạn.
C.Mác gọi công thức T - H - T' là công thức chung của tư bản, vì sự vận động của mọi tư
* Nói hàng hóa sức lao động là chìa khóa giải quyết mâu thuẫn của công thức của tư bản vì:
- Phải tìm ra hàng hóa nào đó để khi sử dụng tạo ra một giá trị lớn hơn giá trị của bản thân
nó, đồng thời nó làm rõ mâu thuẫn trong công thức chung của tư bản. Đó là hàng hóa sức
lao động.
- Theo C.Mác: “Sức lao động, đó là toàn bộ các thể lực và trí lực ở trong thân thể một con
người, trong nhân cách sinh động của con người, thể lực và trí lực mà con người phải làm
cho hoạt động để sản xuất ra những vật có ích”.
- Sức lao động chỉ trở thành hàng hóa khi có hai điều kiện:
+ Thứ nhất, người có sức lao động phải tự do về thân thể, làm chủ sức lao động của mình và
có quyền bán sức lao động của mình như một hàng hóa.
+ Thứ hai, người có sức lao động phải bị tước đoạt hết mọi TLsản xuất và TLSH, họ trở
thành người “Vô sản”, để tồn tại buộc anh ta phải bán sức lao động của mình để kiếm sống.
- Sức lao động trở thành hàng hóa là điều kiện quyết định để biến tiền thành tư bản. Nó là
một bước ngoặc, một bước tiến trong lịch sử trong phương thức kết hợp người lao động và
tư liệu sản xuất.
- Đặc điểm của hàng hóa sức lao động: Giống như mọi hàng hóa khác, hàng hóa sức lao
động cũng có hai thuộc tính: giá trị và giá trị sử dụng.
- Giá trị hàng hóa sức lao động:
GVHD: Nguyễn Thị Phương Linh
Trường Đại học Nông lâm TPHCM
+ Giá trị hàng hóa sức lao động cũng do thời gian lao động xã hội cần thiết để sản xuất và tái
sản xuất sức lao động quyết định.
+ Thời gian lao động xã hội cần thiết để tái sản xuất ra sức lao động được quy thành thời gian
lao động xã hội cần thiết để sản xuất ra ra những tư liệu sinh hoạt của người công nhân.
+ Như vậy, lượng giá trị của hàng hóa sức lao động bao gồm 3 bộ phận:
▪ Giá trị những tư liệu sinh hoạt về vật chất và tinh thần cần thiết để duy trì đời sống của bản
thân người công nhân để sản xuất và tái sản xuất ra sức lao động.
▪ Phí tổn đào tạo người công nhân.
▪ Giá trị những tư liệu sinh hoạt về vật chất và tinh thần cần thiết cho con cái (người thân)
Câu 8: Tư bản bất biến, tư bản khả biến, tư bản cố định, tư bản lưu động là gì? Căn cứ và ý
nghĩa của việc phân chia tư bản tư bản sản xuất các loại tư bản trên?
Trả lời:
* Khái niệm tư bản, bản chất của tư bản:
- Các nhà kinh tế học tư sản thường cho rằng, mọi công cụ lao động, mọi tư liệu sản xuất đều là
tư bản. Thực ra bản thân tư liệu sản xuất không phải là tư bản, nó chỉ là yếu tố cơ bản của sản
xuất trong bất cứ xã hội nào.
- Tư liệu sản xuất chỉ trở thành tư bản khi nó trở thành tài sản của các nhà tư bản và được dùng
để bóc lột lao động làm thuê. Khi chế độ tư bản bị xoá bỏ thì tư liệu sản xuất không còn là tư
bản nữa.
- Tư bản là giá trị mang lại giá trị thặng dư bằng cách bóc lột lao động không công của công
nhân làm thuê.
- Tư bản có bốn loại: tư bản bất biến, tư bản khả biến, tư bản lưu động và tư bản cố định. Cả
bốn loại đều phản ánh quan hệ sản xuất xã hội mà trong đó giai cấp tư sản chiếm đoạt giá trị
thặng dư do giai cấp công nhân sản tạo ra
- Tư bản có bốn loại: tư bản bất biến, tư bản khả biến, tư bản lưu động và tư bản cố định. Như
vậy, về bản chất cả bốn loại tư bản đều phản ánh quan hệ sản xuất xã hội mà trong đó giai cấp
tư sản chiếm đoạt giá trị thặng dư do giai cấp công nhân sản tạo ra. Chia thành hai nhóm: tư
bản bất biến và tư bản khả biến; tư bản lưu động và tư bản cố định.
* Tư bản bất biến, tư bản khả biến, căn cứ và ý nghĩa của việc phân chia:
- Tư bản bất biến và tư bản khả biến:
GVHD: Nguyễn Thị Phương Linh
Trường Đại học Nông lâm TPHCM
+ Muốn tiến hành sản xuất, nhà tư bản phải ứng tư bản ra để mua tư liệu sản xuất và sức lao
động, tức là, biến tư bản tiền tệ thành các yếu tố của quá trình sản xuất, thành các yếu tố tồn tại
khác nhau của tư bản sản xuất.
+ Trước hết, tư bản tồn tại dưới hình thức tư liệu sản xuất. Tư liệu sản xuất có nhiều loại, có
loại được sử dụng toàn bộ trong quá trình sản xuất, nhưng chỉ hao mòn dần, do đó chuyển dần
từng phần giá trị của nó vào sản phẩm của máy móc, thiết bị, nhà xưởng, Có loại khi đưa vào