Trường Đại học Ngoại thương
Khoa Kinh tế và Kinh doanh quốc tế
Chuyên ngành Kinh tế đối ngoại
============
TIỂU LUẬN
TIỂU LUẬN
Đề tài: Phân tích các quy định
về hợp đồng bảo hiểm hàng hải theo MIA 1906
Nhóm thực hiện: Nhóm 9
1. Phạm Trung Kiên-Trưởng nhóm
2. Phạm Tuấn Anh
3. Phạm Minh Quang
4. Mai Quý Hanh
5. Nguyễn Văn Huấn
Lớp: TMA 402.7_LT
Giáo viên hướng dẫn: Ts. Trần Sỹ Lâm
Hà Nội - 11/2011
1
MỤC LỤC
Trang
- Mục lục 1
- Mở đầu 2
- Chương 1: Giới thiệu chung về Luật bảo hiểm hàng hải Anh-MIA
1906
3
1.1. Lịch sử ra đời của Luật bảo hiểm hàng hải Anh-MIA 1906 3
1.2. Ý nghĩa của sự ra đời của Luật bảo hiểm hàng hải Anh-MIA
1906
4
- Chương 2: Phân tích các quy định về hợp đồng bảo hiểm hàng hải
Bảo hiểm trong kinh doanh.
Ngoài phần mở đầu, kết luận, mục lục và danh mục tài liệu tham khảo, tiểu
luận được chia làm 3 chương với kết cấu như sau:
- Chương 1: Giới thiệu chung về Luật bảo hiểm hàng hải Anh-MIA 1906.
- Chương 2: Phân tích các quy định về hợp đồng bảo hiểm hàng hải theo
MIA 1906.
- Chương 3: Một số vấn đề cần chú ý khi áp dụng các quy định về hợp đồng
bảo hiểm hàng hải theo MIA 1906.
Nhóm chúng tôi xin trân trọng cảm ơn thầy giáo Tiến sỹ Trần Sỹ Lâm đã tận
tình hướng dẫn, giúp đỡ chúng tôi hoàn thành bài tiểu luận này.
Chương 1
Giới thiệu chung về Luật bảo hiểm hàng hải Anh - MIA 1906
1.1. Lịch sử ra đời của Luật bảo hiểm hàng hải Anh - MIA 1906
3
Ngành thương mại hàng hải được coi là một trong những phương thức vận
tải đầu tiên trong lịch sử nhân loại, tạo sự thông thương hàng hóa giữa các châu
lục. Nhưng tương ứng với mức lợi nhuận mang lại là mức độ và số lượng rủi ro
phải ứng phó, dẫn đến sự ra đời của bảo hiểm hàng hải.
Những hình thức sơ khai của ngành bảo hiểm bắt đầu từ khá sớm, khoảng thế
kỷ thứ 5 trước Công nguyên, với hình thức “cho vay mạo hiểm” để kinh doanh. Đến
thế kỷ XIV, các hợp đồng bảo hiểm hàng hải đầu tiên đã xuất hiện Ý. Đến thế kỷ
XV, các văn bản pháp luật về bảo hiểm đầu tiên đã xuất hiện ở Tây Ban Nha. Tuy
nhiên, phải đến thế kỷ XVI - XVII, cùng với sự ra đời của phương thức sản xuất tư
bản chủ nghĩa, thì hoạt động bảo hiểm mới phát triển rộng rãi và ngày càng đi sâu
vào nhiêu lĩnh vực của đời sống kinh tế - xã hội. Mở đường cho sự phát triển này là
Luật bảo hiểm năm 1601 của Anh thời Nữ hoàng Elisabeth. Sau đó là Chiếu dụ
1681 của Pháp do Vua Louis XIV ban hành, đó là những đạo luật mở đường cho
lĩnh vực bảo hiểm hảng hải.
Văn bản pháp luật đầu tiên trong hệ thống pháp luật về bảo hiểm hàng hải của
Anh thể hiện sự cần thiết phải điều chỉnh các quan hệ phát sinh trong lĩnh vực bảo
những kinh nghiệm và sự sáng tạo trong giải quyết các tranh chấp từ hơn một thế
kỷ trước. Điều này đã tạo cho MIA có thể tồn tại và trở thành Luật mẫu cho nhiều
nước học tập, cũng như thông lệ quốc tế về bảo hiểm hàng hải cho việc thiết lập
hợp đồng bảo hiểm, giải quyết tranh chấp của các bên trong thương mại quốc tế về
lĩnh vực này.
MIA cũng mở ra cho các bên lựa chọn việc áp dụng MIA hoặc các quy định
trong hợp đồng. Nhưng cũng đồng thời có những quy định mang tính bắt buộc nếu
các bên không có thỏa thuận khác.
Chương 2
Phân tích các quy định về hợp đồng bảo hiểm hàng hải theo MIA 1906
5
2.1. Khái niệm và nội dung các cam kết trong hợp đồng bảo hiểm hàng hải
Các cam kết (warranties) được coi là van an toàn cho người bảo hiểm. Cùng
với các cam kết này và tất cả khai báo trung thực thì người bảo hiểm có thể khẳng
định rủi ro này là rủi ro họ có ý định bảo hiểm. Điều 33 - MIA (Bản chất của cam
kết) đã nêu định nghĩa cam kết như sau: “Một cam kết và những điều khoản sau
đây liên quan đến cam kết, có nghĩa là một hứa hẹn của người bảo hiểm với người
được bảo hiểm, thông thường là về bảo vệ và cải tiến rủi ro”. Do đó, các hợp đồng
bảo hiểm hàng hải luôn được “bảo vệ và cải tiến rủi ro” bằng các cam kết cho phù
hợp với tình hình thực tế cũng như sự phát triển của ngành hàng hải.
Một cam kết là một điều kiện phải tuân theo một cách chính xác, dù điều
kiện này có cần thiết cho rủi ro này hay không. Nếu không tuân theo điều kiện
được quy định trong hợp đồng, người bảo hiểm được miễn trừ trách nhiệm từ ngày
vi phạm cam kết đó. Tuy nhiên, điều này không có bất cứ tác động nào đến trách
nhiệm mà người bảo hiểm phải gánh chịu trước ngày này.
Có thể so sánh giữa khai báo và cam kết: khai báo là đúng nếu cụ thể là
đúng, nghĩa là nếu khác biệt giữa khai báo và sự thật là không quan trọng, nhưng
cam kết thì phải thi hành đúng từng từ.
Các cam kết trong hợp đồng bảo hiểm hàng hải:
* Căn cứ vào tính chất được quy định trong hợp đồng hoặc mặc nhiên được công
hợp pháp trong phạm vi kiểm soát được của người được bảo hiểm. Ví dụ, khi hành
trình hợp pháp thì một hành vi bất hợp pháp của thuyền trưởng không làm vô hiệu
hợp đồng bảo hiểm, trừ khi người được bảo hiểm đồng lõa; hoặc: một hành trình vi
phạm luật hải quan của nước này là phi pháp, song một hành trình kinh doanh vi
phạm luật hải quan nước khác vẫn có thể bảo hiểm hợp pháp tại đây.
Điều 41-MIA quy định cam kết về sự hợp pháp: Khi có cam kết mặc nhiên
rằng hành trình được bảo hiểm là hợp pháp, cho đến khi người được bảo hiểm có thể
kiểm soát được vấn đề, thì hành trình đó sẽ được tiến hành theo cách thức hợp pháp.
- Không có cam kết mặc nhiên về tình trạng đi biển được của hàng hóa.
7
Điều 40-MIA quy định rằng không có cam kết mặc nhiên về tình trạng đi
biển được của hàng hóa:
+ Trong một hợp đồng bảo hiểm về hàng hóa hoặc động sản khác, sẽ không
có cam kết mặc nhiên về tình trạng đi biển được của hàng hóa hay động sản đó.
+ Trong một hợp đồng bảo hiểm bao đối với hàng hóa hay động sản khác, sẽ
có một cam kết mặc nhiên rằng vào thời điểm bắt đầu hành trình, tàu chở hàng
không chỉ có khả năng đi biển mà nó còn có khả năng phù hợp để chở hàng hóa và
động sản đó đến nơi dự tính theo như hợp đồng.
Ngoài ra, MIA cũng nêu lên một số loại cam kết thường hay được sử dụng
như: Cam kết trung lập (Điều 36), Cam kết mặc nhiên về quốc tịch (Điều 37), Cam
kết về tình trạng an toàn (Điều 38).
Cam kết trung lập quy định tàu và hàng hóa (tùy trường hợp) phải là trung
lập vào lúc bắt đầu và trong suốt thời gian bảo hiểm, trong phạm vi người được
bảo hiểm có thể kiêm soát được. Đối với tàu: phải có đầy đủ tài liệu chứng minh sự
trung lập đó, nếu không người bảo hiểm có quyền từ chối đơn bảo hiểm. Điều 36
MIA quy định: “Những đặc tính trung lập vào thời điểm bắt đầu rủi ro, cho đến khi
người được bảo hiểm có thể kiểm soát được rủi ro, đặc tính trung lập của tài sản đó
vẫn tồn tại trong quá trình rủi ro”.
Cam kết mặc nhiên về quốc tịch quy định: “Quốc tịch của tàu không được
chi phối bởi một cam kết mặc nhiên, hay quốc tịch đó sẽ không bị thay đổi trong
hiểm được coi như chứng cứ có giá trị trong bất kỳ vụ kiện pháp lý nào. Hợp đồng
bảo hiểm mới là tài liệu pháp lý thể hiện cho hợp đồng, song khi hợp đồng bảo hiểm
được ký kết, giấy nhận bảo hiểm sẽ trở thành chứng cứ pháp lý được sử dụng để sửa
đổi một đơn bảo hiểm khi có nhầm lẫn thông thường hoặc trong các vụ kiện tranh
chấp pháp lý.
9
Thời điểm hợp đồng được coi là có hiệu lực (Điều 21) khi sự đề nghị của người
được bảo hiểm được chấp thuận của người bảo hiểm, bất kể hợp đồng sau đó có được
soạn thảo hay không, và sự đề nghị được chấp thuận có thể dưới hình thức là đơn,
giấy nhận bảo hiểm hoặc các hình thức khác theo tập quán mà không cần đóng dấu.
2.2.2. Hình thức của hợp đồng bảo hiểm.
Điều 22 quy định: “Hợp đồng không thể có giá trị chứng cứ nếu hợp đồng
đó không tuân theo hình thức của hợp đồng bảo hiểm hàng hải được quy định
trong Luật này. Tuy nhiên, hợp đồng bảo hiểm có thể được soạn thảo và được cấp
cùng vào thời điểm hợp đồng được ký kết hoặc sau đó”.
MIA quy định những nội dung cần thiết, phải có trong hợp đồng bảo hiểm.
Nếu không tuân thủ, hợp đồng sẽ không có giá trị pháp lý và không thể dùng để
khởi kiện được. Những nội dung chủ yếu của hợp đồng (Điều 23) bao gồm: (1)
Tên của người được bảo hiểm, hoặc người thay mặt người thụ hưởng; (2) Đối
tượng bảo hiểm và cảc rủi ro cần bảo hiểm; (3) Chuyến hàng hoặc khoảng thời
gian hoặc cả hai; (4) Khoản tiền bảo hiểm; (5) Tên của người bảo hiểm.
Hợp đồng bảo hiểm hàng hải phải được ký bởi người bảo hiểm hoặc nhân
danh người đó. Chỉ cần chữ ký của người bảo hiểm, dấu của công ty cũng cần
thiết, nhưng không bắt buộc. Khi một hợp đồng bảo hiểm do nhiều người bảo hiểm
nhận bảo hiểm, được coi là từng hợp đồng riêng rẽ với những người được bảo
hiểm, trừ khi hợp đồng có quy định khác (Điều 24).
2.2.3. Việc giải thích các điều khoản trong hợp đồng
Điều 30 quy định: Theo quy định của luật này, trừ khi hợp đồng có quy định
khác, các từ ngữ và diễn đạt đề cập trong hợp đồng mẫu của Luật này sẽ được hiểu
trong phạm vi và theo nghĩa mà hợp đồng đó xác định. Ngoài ra còn quy định hợp
11
+ Bảo hiểm đối với các đối tượng bảo hiểm khác, giá trị có thể được bảo
hiểm là tổng số chi phí đối với rủi ro của người được bảo hiểm khi hợp đồng bảo
hiểm đã có hiệu lực cộng với phí bảo hiểm.
* Phí bảo hiểm trong hợp đồng: Điều 31 quy định: Khi một bảo hiểm có
hiệu lực, phí bảo hiểm căn cứ theo thỏa thuận, nếu không có thỏa thuận phí bảo
hiểm căn cứ theo khoản phí bảo hiểm hợp lý phải trả. Khi một bảo hiểm có hiệu
lực theo các điều khoản là khoản phí phụ thu sẽ theo thỏa thuận trong một sự kiện
nhất định, thi khi sự kiện đó xảy ra nhưng chưa có thỏa thuận về khoản phí đó, thì
khoản phí phụ thu là khoản hợp lý phải trả.
2.3. Các loại hợp đồng bảo hiểm hàng hải
- Căn cứ vào thời điểm bắt đầu và kết thúc hiệu lực của bảo hiểm, có thể
chia ra là hợp đồng bảo hiểm theo chuyến và hợp đồng bảo hiểm theo định hạn:
Hợp đồng bảo hiểm theo chuyến là hợp đồng bảo hiểm cho đối tượng bảo
hiểm từ chỗ này đến chỗ khác (Điều 25). Khi một hợp đồng bảo hiểm cho đối
tượng bảo hiểm trong một thời gian xác định trong hợp đồng được gọi là hợp đồng
định hạn (Điều 26). Một hợp đồng có thể bao gồm cả bảo hiểm theo chuyến và bảo
hiểm theo thời gian xác định.
- Căn cứ vào xác định giá trị của đối tượng được bảo hiểm trong hợp đồng
có thể chia thành hợp đồng định giá và hợp đồng không định giá:
+ Hợp đồng định giá là một hợp đồng xác định rõ theo thỏa thuận giá trị của
đối tượng bảo hiểm (Điều 27). Đối tượng bảo hiểm được xác định theo quy định
của Luật này, không có sự gian lận, giá trị được ấn định trong hợp đồng giữa người
bảo hiểm và người được bảo hiểm, nhằm để xác định giá trị có thể bảo hiểm của
đối tượng được dự tính bảo hiểm kể cả khi bị tổn thất toàn bộ hay bộ phận. Trừ khi
hợp đồng có quy định khác, giá trị được ấn định trong hợp đồng không dùng để
xác định trong trường hợp đó là tổn thất toàn bộ ước tính.
12
+ Hợp đồng không định giá là một hợp đồng không xác định rõ giá trị của đối
tượng bảo hiểm, song bị chi phối đến giới hạn của số tiền được bảo hiểm, để giá trị
lực. Không có quy định nào trong điều này ảnh hưởng đến việc chuyển nhượng
hợp đồng sau khi có tổn thất xảy ra.
Khi không có thỏa thuận trước đó để chuyển nhượng hợp đồng bảo hiểm thì
hợp đồng chấm dứt cùng với sự chấm dứt quyền lợi của người được bảo hiểm trên
đối tượng bảo hiểm.
2.5. Sự vô hiệu hợp đồng bảo hiểm
Mặc dù, MIA không có điều khoản riêng quy định về hợp đồng bảo hiểm hàng
hải vô hiệu. Nhưng có thể tổng kết ở các điều khoản theo quy định của Luật bảo hiểm
hàng hải Anh năm 1906, hợp đồng bảo hiểm có thể vô hiệu trong các trường hợp sau:
- Do vi phạm nguyên tắc trung thực tuyệt đối, các bên khai sai hoặc không
khai những sự kiện được coi là cần thiết.
- Do các bên ký kết hợp đồng mà không có quyền lợi được bảo hiểm hoặc
hợp đồng đó mang tính chất đánh cuộc.
- Do vi phạm các cam kết kể cả cam kết mặc nhiên hoặc cam kết minh thì.
Mặc dù bên vi phạm đã sửa sai vi phạm đó nhưng hợp đồng vẫn có thể bị hủy bỏ.
- Do vi phạm hình thức của hợp đồng được quy định trong Luật.
Có thể thấy việc vô hiệu trong hợp đồng được quy định trong MIA đã được
mở rộng bằng việc cho phép bên bị thiệt hại có thể lựa chọn hủy bỏ hợp đồng hoặc
tiếp tục thực hiện hợp đồng. Ví dụ trong trường hợp vi phạm nguyên tắc trung thực
không tới mức độ man trá thì người bảo hiểm nếu là bên thiệt hại có thể bỏ qua vi
phạm đó hoặc có thể hủy bỏ hợp đồng theo cách lựa chọn của mình.
Người bảo hiểm khi huỷ bỏ hợp đồng được coi là đứng ngoài hợp đồng và
hợp đồng đó chưa từng được chấp nhận trước đó. Tức là sự hủy bỏ bao giờ cũng là
từ lúc bắt đầu. Tuy nhiên hợp đồng vẫn là tài liệu có giá trị pháp lý để người được
bảo hiểm sử dụng hợp đồng như một văn bản trước toà án để yêu cầu bác bỏ quyền
hủy bỏ hợp đồng của bên bảo hiểm. Tuy nhiên, cũng có ngoại lệ khi có thay đổi
14
hành trình, người bảo hiểm không phải chịu trách nhiệm từ thời điểm quyết định
thay đổi hành trình được biểu lộ. Những tổn thất trước đó người bảo hiểm vẫn phải
chịu trách nhiệm.
bảo hiểm phải chịu trách nhiệm, vì tổn thất không quy được cho sự kiện không có
khả năng đi biển.
Tuy nhiên trong một hợp đồng bảo hiêm chuyến, trong đó có cam kết tuyệt
đối về khả năng đi biển thì người bảo hiểm sẽ được giải trách vì vi phạm cam kết
đó.
3.4. Hiệu lực pháp lý giấy nhận bảo hiểm: Trong MIA chỉ nêu lên giấy
nhận bảo hiểm nhưng không quy định rõ về giá trị pháp lý của giấy này, nó chỉ
ràng buộc trên danh dự mà thôi. Trong vụ Home Marine Ins.Co. chống Smith năm
1808 tòa đã xử một giấy nhận bảo hiểm không phải tờ đơn bảo hiểm: Nếu một thỏa
thuận đơn thuần để tái bảo hiểm những rủi ro vượt quá một số tiền ấn định, không
được thể hiện bằng một đơn bảo hiểm, thì sẽ không có hiệu lực pháp luật.
3.5. Chuyển nhượng hợp đồng bảo hiểm hàng hải: Vấn đề chuyển
nhượng hợp đồng bảo hiểm (Điều 51) không còn phù hợp trong thanh toán quốc tế
hiện nay. Cụ thể là khi người mua hàng theo điều kiện F.O.B không thể có hợp
đồng bảo hiểm của người bán về những tổn thất xảy ra trước khi hàng hóa lên tàu,
vì cho tới thời điểm này người mua chưa có quyền lợi trên hàng hóa. Như vậy, sẽ
vi phạm quy định trong MIA về quyền lợi bảo hiểm và không thể chuyển nhượng
hợp đồng bảo hiểm và các quyền lợi kèm theo.
Ngày nay trong trường hợp này người mua có thể hoàn toàn yên tâm nhận
hàng hóa đã bị tổn thất trước khi mình có quyền lợi trên hàng hóa đó vì được bảo
vệ bởi hợp đồng bảo hiểm, với điều kiện là vào lúc bán phải chuyển nhượng quyền
hưởng lợi ích trên hợp đồng bảo hiểm.
Điều này đã được quyết định trong vụ J.Aron and Co.(Inc) chống Miall năm
1928. Một lô cacao được bảo hiểm từ nhà máy Tây Phi để giao tại Boston. Đã thỏa
thuận chuyển nhượng hợp đồng bảo hiểm cùng với hàng hóa. Hạt cacao bị tổn thất
trên xà lan trước lúc lên tàu.
Người bảo hiểm kháng kiện là tổn thất đã xảy ra trước khi người được
nhượng quyền chưa được chuyển nhượng hợp đồng bảo hiểm để hưởng quyền lợi
của mình. Tòa xử: người hưởng quyền có được quyền lợi về mọi khiếu nại mà chủ
sở hữu gốc có được trên hợp đồng bảo hiểm, dù tổn thất đã xảy ra trước khi người
- http:// www.baominh.com.vn
- http:// www.ntu.edu.vn
- http:// www. baohiem .pro.vn
- http:// www.web baohiem .net
18