Nghiên cứu sinh trưởng, phát triển của cây cao su (hevea brasiliensis) Trên địa bàn huyện Bát Xát, tỉnh Lào Cai - Pdf 24


Số hóa bởi trung tâm học liệu
i ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
DƢƠNG PHÚC TOÁN

NGHIÊN CỨU SINH TRƢỞNG, PHÁT TRIỂN
CỦA CÂY CAO SU (Hevea brasiliensis) TRÊN
ĐỊA BÀN HUYỆN BÁT XÁT, TỈNH LÀO CAI



DƢƠNG PHÚC TOÁN

NGHIÊN CỨU SINH TRƢỞNG, PHÁT TRIỂN
CỦA CÂY CAO SU (Hevea brasiliensis) TRÊN
ĐỊA BÀN HUYỆN BÁT XÁT, TỈNH LÀO CAI
CHUYÊN NGÀNH: LÂM HỌC
MÃ SỐ: 60.62.02.01

LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC LÂM NGHIỆP
NGƢỜI HƢỚNG DẪN KHOA HỌC
PGS.TS: DƢƠNG MỘNG HÙNG

Với mong muốn góp phần công sức cho sự phát triển trồng cây Cao su
trên địa bàn tỉnh Lào Cai, tôi đã thực hiện đề tài “Nghiên cứu sinh trưởng,
phát triển của cây Cao su (Hevea brasiliensis) trên địa bàn huyện Bát Xát, tỉnh
Lào Cai”. Trong thời gian nghiên cứu, thực hiện đề tài và viết bản luận văn
này, ngoài sự cố gắng của bản thân, tôi đã nhận được rất nhiều sự quan tâm,
giúp đỡ. Nhân dịp này tôi xin chân thành cảm ơn về sự giúp đỡ quý báu đó.
Trước tiên, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới thầy giáo hướng dẫn
khoa học PGS. TS Dương Mộng Hùng người đã trực tiếp hướng dẫn, tận tình
giúp đỡ, truyền đạt những kiến thức quý báu cho tôi trong suốt quá trình
nghiên cứu và hoàn thiện đề tài.
Tôi xin cảm ơn các thầy, cô giáo và Ban giám hiệu Trường Đại học
Nông - Lâm Thái Nguyên, Trung tâm học liệu Đại học Thái Nguyên đã tạo
những điều kiện thuận lợi, cung cấp những tài liệu cần thiết cho tôi hoàn
thành các nội dung và chương trình mà luận văn đặt ra.
Tôi xin cảm ơn Ban giám đốc, các phòng chuyên môn của sở Nông
nghiệp & PTNT Lào Cai; Lãnh đạo UBND, các cơ quan chuyên môn của
huyện Bát Xát; cán bộ, nhân dân các xã Bản Qua, Bản Vược, Trịnh Tường
huyện Bát Xát; cán bộ, công nhân viên Tập đoàn công nghiệp Cao su Việt
Nam (Văn phòng đại diện tại Lào Cai) đã tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong
nghiên cứu, thu thập số liệu và thừa kế các tài liệu, số liệu sẵn có. Tôi xin cảm
ơn Thường trực Thành ủy, lãnh đạo UBND thành phố Lào Cai, cán bộ công
chức phòng Kinh tế thành phố nơi tôi đang công tác và bạn bè, người thân
trong gia đình đã tạo điều kiện, động viên, giúp đỡ tôi trong suốt thời gian học
tập, nghiên cứu để hoàn thành luận văn này.
Xin chân thành cảm ơn!
Lào Cai, tháng 10 năm 2013
Tác giả luận văn Dương Phúc Toán

gỗ Cao su 14

Số hóa bởi trung tâm học liệu
vi
1.4.1. Tiến bộ kỹ thuật 14
1.4.2. Giá trị kinh tế của mủ và gỗ cây Cao su 15
1.5. Tổng quan khu vực nghiên cứu 20
1.5.1. Điều kiện tự nhiên 20
1.5.1.1. Vị trí địa lý 20
1.5.1.2. Địa hình 21
1.5.1.3. Địa chất thổ nhưỡng 22
1.5.1.4. Khí hậu thời tiết 23
1.5.1.5. Hiện trạng sử dụng đất đai, tài nguyên rừng 24
1.5.2. Điều kiện kinh tế - xã hội 26
1.5.2.1. Dân số, thành phân dân tộc, lao động 26
1.5.2.2. Sản xuất nông nghiệp 27
1.5.2.3. Sản xuất lâm nghiệp 27
1.5.3. Đời sống kinh tế - văn hoá xã hội 28
1.5.3.1. Đời sống kinh tế 28
1.5.3.2. Về văn hoá xã hội 28
1.5.3.3. Cơ sở hạ tầng 28
1.5.4. Nhận xét chung các điều kiện TN-KT-XH và tính phù hợp với
cây Cao su 28
1.5.4.1. Thuận lợi 28
1.5.4.2. Khó khăn 29
CHƢƠNG 2: MỤC TIÊU, NỘI DUNG VÀ PHƢƠNG PHÁP
NGHIÊN CỨU 30
2.1. Mục tiêu nghiên cứu 30
2.1.1. Mục tiêu chung 30
2.1.2. Mục tiêu cụ thể 30

3.4.1. Những căn cứ pháp lý để phát triển cây Cao su 70
3.4.2. Cơ sở khoa học để phát triển cây Cao su trên địa bàn tỉnh Lào Cai 71

Số hóa bởi trung tâm học liệu
viii
3.4.3. Đề xuất một số giải pháp góp phần phát triển cây Cao su trên địa bàn tỉnh
Lào Cài 72
3.4.3.1. Giải pháp về khoa học kỹ thuật 72
3.4.3.2. Giải pháp về cơ chế chính sách 73
3.4.3.3. Giải pháp về tổ chức thực hiện 74
3.4.3.4. Giải pháp về vốn 75
3.4.3.5. Giải pháp về nguồn nhân lực 75
3.4.3.6. Giải pháp về bảo vệ môi trường 76
3.4.3.7. Tăng cường sự phối hợp của các cơ quan liên quan 78
3.4.3.8. Một số giải pháp khác 78
KẾT LUẬN TỒN TẠI VÀ KHUYẾN NGHỊ 82
1. Kết luận 82
2. Tồn tại 84
3. Khuyến nghị 85
TÀI LIỆU THAM KHẢO 86
I. Tài liệu tiếng Việt 86
II. Tài liệu tiếng Anh 86

Số hóa bởi trung tâm học liệu
ix
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

Viết tắt
Tên đầy đủ
NN&PTNT


Số hóa bởi trung tâm học liệu
x
DANH MỤC CÁC BẢNG

Trang
Bảng 1.1: Thực trạng sản xuất, tiêu thụ và xuất khẩu Cao su tự nhiên của các
nước trên thế giới giai đoạn 2002-2008 7
Bảng 3.1: Diện tích Cao su tại vùng nghiên cứu đến hết năm 2012 37
Bảng 3.2: Biện pháp kỹ thuật áp dụng đối với cây Cao su tại huyện Bát Xát,
tỉnh Lào Cai 42
Bảng 3.3: Sinh trưởng về D
1.3
và Hvn của cây Cao su 44
Bảng 3.4: Sinh trưởng về Hdc và Dt của cây Cao su 46
Bảng 3.5: Phương trình tương quan giữa các chỉ tiêu sinh trưởng của cây Cao
su trong thời kỳ kiến thiết cơ bản 48
Bảng 3.6: Sinh trưởng của cây Cao su 19 tuổi tại Bản Qua - Bát Xát 48
Bảng 3.7: Phương trình tương quan giữa các chỉ tiêu sinh trưởng của cây Cao
su 19 tuổi 51
Bảng 3.8: Tình hình sâu bệnh hại ảnh hưởng đến sinh trưởng, phát triển của
cây Cao su 53
Bảng 3.9: Kết quả phân tích một số tính chất hóa tính của đất 58
Bảng 3.10: Kết quả phân tích một số tính chất vật lý của đất 64
Bảng 3.11: Sản lượng mủ Cao su trung bình của cây tiêu chuẩn 68
Bảng 3.12: Đặc tính sinh thái của cây Cao su với điều kiện tự nhiên vùng
nghiên cứu 71

Vân Nam - Trung Quốc. Tỉnh Lào Cai có tổng diện tích tự nhiên 638.389 ha,
trong đó diện tích đất lâm nghiệp 417.754 ha chiếm 65,4% diện tích tự nhiên.
Tuy nhiên, giá trị kinh tế của lâm nghiệp trong thời gian qua chưa tương xứng
với tiềm năng và lợi thế của tỉnh.
Trong giai đoạn tới chủ trương của tỉnh Lào Cai phát triển nông - lâm
nghiệp theo hướng sản xuất hàng hóa, có năng suất, chất lượng, hiệu quả cao,
gắn với chế biến và thị trường [2]. Triển khai tích cực và có hiệu quả Chương
trình xây dựng nông thôn mới. Cây Cao su được xác định là loài cây mũi
nhọn góp phần thực hiện thành công chủ trương trên.
Việc phát triển cây Cao su cũng có những tác động nhất định tới môi
trường: Trồng Cao su đúng kỹ thuật góp phần phủ xanh đất trống đồi trọc,
nâng cao độ che phủ rừng, cải thiện môi trường sinh thái hạn chế rửa trôi, xói
mòn suy thoái đất, hạn chế nguy cơ và thiệt hại do mưa lũ gây ra, nguồn tài
nguyên đất đai sẽ được sử dụng hợp lý, đồng thời người dân có thu nhập cao
sẽ hạn chế phá rừng làm nương [8].

Số hóa bởi trung tâm học liệu
2
Bên cạnh đó thị trường Cao su trong nước và thế giới có xu thế phát triển
nhanh, giá Cao su liên tiếp đạt mức cao khiến hiệu quả kinh tế do cây Cao su
mang lại lớn, ổn định hơn so với các cây công nghiệp khác.
Trong những năm gần đây, Lào Cai đã bước đầu thành công việc đưa cây
Cao su vào trồng và phát triển nhiều mô hình Cao su tiểu điền, từng bước hướng
tới trồng Cao su với quy mô đại điền ở nhiều vùng trong tỉnh, góp phần thúc đẩy
nhanh việc chuyển dịch cơ cấu cây trồng, gắn liền với chuyển đổi lao động trong
nông nghiệp, nông thôn theo hướng sản xuất hàng hóa tập trung, quy mô lớn.
Thực tế, nhiều vườn Cao su trên địa bàn huyện Bát Xát đang có khả năng sinh
trưởng, phát triển tốt. Tuy nhiên trong bối cảnh chung hiện nay với Lào Cai, Cao
su là loài cây mới đang trong bước thử nghiệm. Ngoài yếu tố chủ quan của con
người còn có những thách thức khách quan về giống, điều kiện thổ nhưỡng, khí

sóc, bảo vệ và phát triển cây Cao su của người dân.
Kết quả nghiên cứu của đề tài có giá trị về việc đánh giá sinh trưởng phát
triển, sự thích nghi của cây Cao su tại địa phương, góp phần làm giàu thêm kiến
thức về chương trình phát triển cây Cao su tại các tỉnh miền núi phía Bắc.
3.2. Ý nghĩa thực tiễn
Kết quả của đề tài làm cơ sở cho việc ứng dụng trong việc phát triển cây
Cao su tại Lào Cai. Những giải pháp cụ thể cho việc phát triển nhanh và bền
vững cây Cao su trên địa bàn tỉnh Lào Cai, hướng đến khai thác các tiềm năng
của tự nhiên, nội lực của cộng đồng và xã hội cho phát triển kinh tế, lồng ghép
các hoạt động bảo vệ và phát triển rừng với các hoạt động kinh tế - xã hội ở các
địa phương.
Đề tài cung cấp cơ sở dữ liệu có giá trị cho trong việc đánh giá bước đầu
về sự thích nghi về sinh trưởng phát triển và tiềm năng cho năng suất mủ cao của
cây Cao su tại địa phương. Chúng sẽ trở thành những căn cứu khoa học có giá trị
cho chương trình phát triển cây Cao su tại các tỉnh miền núi phía Bắc.

Số hóa bởi trung tâm học liệu
4
CHƢƠNG 1
TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

1.1. Giới thiệu về cây Cao su
1.1.1. Vị trí phân loại
Cây Cao su Hevea brasiliensis thuộc [1]
Giới (regnum): Plantae;
Bộ (ordo): Malpighiales;
Họ (familia): Euphorbiaceae;
Phân họ (subfamilia): Crotonoideae;
Tông (tribus): Micrandreae;
Phân tông (subtribus): Heveinae;

Cây Cao su chỉ được thu hoạch 9 tháng, 3 tháng còn lại không được thu
hoạch vì đây là thời gian cây rụng lá, nếu thu hoạch vào mùa này, cây sẽ chết
[6]. Việc cạo mủ rất quan trọng và ảnh hưởng tới thời gian và lượng mủ mà
cây có thể cung cấp. Bình thường bắt đầu cạo mủ khi chu vi thân cây khoảng
50 cm. Cạo mủ từ trái sang phải, ngược với mạch mủ Cao su. Độ dốc của vết
cạo từ 20 đến 350, vết cạo không sâu quá 1,5 cm và không được chạm vào
tầng sinh gỗ làm vỏ cây không thể tái sinh. Khi cạo lần sau phải bốc thật sạch
mủ đã đông lại ở vết cạo trước. Thời gian thích hợp nhất cho việc cạo mủ
trước 7 giờ sáng [6].
Cây Cao su là một loại cây độc, chất mủ của cây là một loại chất độc
cho con người khai thác nó. Tuổi thọ của người khai thác mủ Cao su thường
giảm từ 3 đến 5 năm nếu làm việc trong khoảng thời gian dài. Cây Cao su còn
độc ngay cả trong việc trao đổi khí ngay cả ban ngày và ban đêm. Không bao
giờ xây dựng nhà để ở trong rừng Cao su, khả năng hiếm khí rất cao.
1.1.3. Ứng dụng
Sản phẩm từ cây Cao su chủ yếu là mủ Cao su với các đặc tính hơn hẳn
Cao su tổng hợp về độ giãn, độ đàn hồi, chống đứt, chống lạnh tốt, [1]… vì
thế Cao su thiên nhiên được ứng dụng vào sản xuất các vật dụng như: vỏ, ruột
xe, ống dẫn nước, giày dép, dụng cụ y tế và gia đình, gối đệm chống sốc, các
sản phẩm Cao su xốp [8].
Gỗ từ cây Cao su, gọi là gỗ Cao su, được sử dụng trong sản xuất đồ gỗ
[1]. Nó được đánh giá cao vì có thớ gỗ dày, ít co, màu sắc hấp dẫn và có thể
chấp nhận các kiểu hoàn thiện khác nhau. Nó cũng được đánh giá như là loại
gỗ "thân thiện môi trường", do người ta chỉ khai thác gỗ sau khi cây Cao su
đã kết thúc chu trình sản sinh nhựa mủ.

Số hóa bởi trung tâm học liệu
6
1.2. Lịch sử phát triển cây Cao su
1.2.1. Trên Thế giới

7
vậy, mức tiêu thụ Cao su trên toàn thế giới tăng trung bình 2,3%/năm, nhưng
đặc biệt là khu vực châu Á Thái Bình Dương như Ấn Độ và Trung Quốc tăng
khá nhanh (khoảng 7%/năm).
Tình hình chung của giai đoạn 2002-2008 là lượng xuất khẩu có xu
hướng tăng liên tục qua các năm, còn vấn đề giảm của khối lượng xuất khẩu
qua từng năm chỉ là cục bộ và không đáng kể. Kể từ năm 2002 tới nay sản
lượng sản xuất và xuất khẩu trên toàn cầu vẫn gia tăng không ngừng.
Từ năm 2002, Trung Quốc vượt qua Mỹ trở thành thi trường tiêu thụ
lớn nhất và đầy tiềm năng cho các nước xuất khẩu vì nhu cầu luôn tăng cao.
Tiếp theo sau là Nhật Bản và Ấn Độ. Tóm lại, nếu nhìn xuyên suốt diễn biến
của 7 năm, từ năm 2002-2008, nhận thấy rằng nhu cầu hang hóa Cao su tăng
lên theo đà phát triển kinh tế xã hội.
Bảng 1.1: Thực trạng sản xuất, tiêu thụ và xuất khẩu Cao su tự nhiên của
các nƣớc trên thế giới giai đoạn 2002-2008
(ĐVT: 1.000 tấn)
2002 2003 2004 2005 2006 2007 2008
Sản xuất
Thailan 2615 2876 2984 2937 2056 3056 3104
Indonesia 1630 1792 2066 2271 2797 2797 2860
Malaysia 890 986 1169 1126 1284 1200 1263
India 641 707 743 772 900 811 917
VietNam 269 363 400 468 555 635 685
China 372 380 573 510 533 600 634
Cote d'Ivoire 120 127 143 165 178 192 207
Thế giới 7344 7992 8748 8882 9846 9725 10241
Tiêu Thụ
China 1310 1485 2000 2150 2400 2550 2678
US 1111 1079 1144 1159 1003 1018 1432
Japan 749 784 815 857 874 888 976

thứ 2 về sản xuất Cao su, sản lượng năm 2008 đạt 2,86 triệu tấn tăng nhẹ so
với năm 2007 (2,76 triệu tấn), chiếm thị phần 28,8%. Hiện nước này đang
hướng tới tốc độ tăng trưởng sản lượng 8,12%/ năm nhắm nâng sản lượng
Cao su lên 3,072 triệu tấn vào năm 2010. Để đạt được mục tiêu này, Chính
phủ có kế hoạch phục hồi 250.000 ha Cao su tiểu điền đã cũ và trồng mới
50.000 ha Cao su tiểu điền cho đến năm 2015.
* Malaysia:
Trong những năm 2006, 2007 nước này đã mất 250.000 ha cây Cao su,
mặt khác do những nguyên nhân như công nghiệp hóa mạnh mẽ, diện tích
trồng cây cọ dầu được mở rộng và nhu cầu nhiên liệu sinh học ngày càng tăng
cao nên đã đẩy giá mặt hàng này lên cao kỷ lục. dự kiến nước này cũng sẽ
tăng sản lượng Cao su thêm 17% trong vòng 5 năm tới nhờ cá đồn điền trồng
mới Cao su bắt đầu cho khai thác mủ.

Số hóa bởi trung tâm học liệu
9
Malaysia bắt đầu chuyển sang tập trung vào cây cọ dầu, trong khi Thái
Lan thiếu đất trồng cây Cao su trầm trọng. Sản lượng Cao su của Malaysia
năm 2008 đạt 1,26 triệu tấn ở mức tương đương với 1,2 triệu tấn năm 2007,
thị phần chiếm 12,3%.
* Myanma
Thực hiện kế hoạch tăng gấp đôi diện tích trồng cây Cao su nhằm đạt
được gần 400.000 ha trong hai năm 2007-2008. Sản lượng Cao su Myanma
năm 2006-2007 đạt 61.717 tấn, trên diện tích 302.053 ha, còn sản lượng năm
2005-2006 là gần 60.000 tấn, trên diện tích 226.171 ha. Myanma có kế hoạch
tăng diện tích đất trồng Cao su lên 405.000 ha và sản lượng 146.700 tấn vào
2020, và 607.500 ha vào năm 2030.
* Lào và Campuchia
Đến nay sản xuất Cao su của vương quốc Campuchia có vị trí khá
khiêm tốn trên thị trường thế giới. Theo số liệu thống kê tính đến năm 2008,

Năm 1897 đã đánh dấu sự hiện diện của cây Cao su ở Việt Nam [8].
Công ty Cao su đầu tiên được thành lập là Suzannah (Dầu Giây, Long Khánh,
Đồng Nai) năm 1907. Tiếp sau, hàng loạt đồn điền và công ty Cao su ra đời,
chủ yếu là của người Pháp và tập trung ở Đông Nam Bộ : SIPH, SPTR,
CEXO, Michelin… Một số đồn điền Cao su tư nhân Việt Nam cũng được
thành lập.
Năm 1920, miền Đông Nam Bộ có khoảng 7.000 ha, sản lượng 3.000 tấn.
Cây Cao su được trồng thử ở Tây Nguyên năm 1923 và phát triển mạnh
trong giai đoạn 1960 - 1962, trên những vùng đất cao 400 - 600 m [12], sau
đó ngưng vì chiến tranh.
Trong thời kỳ trước 1975, để có nguồn nguyên liệu cho nền công nghiệp
miền Bắc, cây Cao su đã được trồng vượt trên vĩ tuyến 170 Bắc (Quảng Trị,
Quảng Bình, Nghệ An, Thanh Hóa, Phú Thọ). Trong những năm 1958 - 1963
bằng nguồn giống từ Trung Quốc, diện tích đã lên đến khoảng 6.000 ha.

Số hóa bởi trung tâm học liệu
11
Đến năm 1976, Việt Nam còn khoảng 76.000 ha, tập trung ở Đông
Nam Bộ khoảng 69.500 ha, Tây Nguyên khoảng 3.482 ha, các tỉnh duyên hải
miền Trung và khu 4 cũ khoảng 3.636 ha.
Sau năm 1975, cây Cao su được tiếp tục phát triển chủ yếu ở Đông
Nam Bộ. Từ năm 1977, Tây Nguyên bắt đầu lại chương trình trồng mới Cao
su, thoạt tiên do các nông trường quân đội, sau năm 1985 đo các nông trường
quốc doanh, từ năm 1992 đến nay tư nhân đã tham gia trồng Cao su. Ở miền
Trung sau năm 1984, cây Cao su được phát triển ở Quảng trị, Quảng Bình
trong các công ty quốc doanh.
Đến năm 1999, diện tích Cao su cả nước đạt 394.900 ha, Cao su tiểu
điền chiếm khoảng 27,2 %. Năm 2004, diện tích Cao su cả nước là 454.000
ha, trong đó Cao su tiểu điền chiếm 37 % [10]. Trong những năm gần đây,
nhất là từ năm 2005, giá trị kinh tế lớn và bài học thực tiễn trồng Cao su thành

nguyên liệu với những chủng loại đạt tiêu chuẩn chất lượng và giá trị cao, phù
hợp với thị trường, đồng thời tang tốc độ tăng trưởng công nghiệp chế biến
sản phẩm nhằm đáp ứng nhu cầu trong nước, giảm nhập siêu và tiến đến mở
rộng thị trường sản phẩm Cao su Việt Nam phục vụ xuất khẩu và tiêu dung
trong nước.
Năm 1993 trong chương trình phủ xanh đất trống đồi trọc, dự án hợp tác
trồng rừng Việt Nam - Thụy Điển đã đưa một số diện tích cây Cao su vào trồng tại
các huyện trong vùng dự án như huyện Phong Thổ tỉnh Lai Châu và huyện Bát
Xát tỉnh Lào Cai đến nay những cây còn lại ở hai địa phương trên đang sinh
trưởng và phát triển tốt [5].
Từ năm 1996, Tổng công ty Cao su Việt Nam (nay là Tập Đoàn Công
Nghiệp Cao su VN) đã tiến hành xây dựng vườn thử nghiệm một số giống
Cao su có thể trồng ở các tỉnh phía Bắc (Phú Thọ), đến nay đã có một số
giống được khai thác. Tuy nhiên vẫn chưa có đủ thời gian để nghiên cứu một
cách đầy đủ về khả năng sinh trưởng và phát triển, cũng như cho sản phẩm
mủ của cây Cao su.

Số hóa bởi trung tâm học liệu
13
Năm 2005 - 2008, tại một số tỉnh trong vùng đã triển khai trồng Cao su
với nguồn giống nhập từ Vân Nam - Trung Quốc; giống của Tập Đoàn Công
Nghiệp Cao su Việt Nam. Việc trồng Cao su trong thời gian gần đây chủ yếu
là tự phát, chưa có quy hoạch.
Qua thực tế đợt rét đậm, rét hại lịch sử ở miền Bắc đầu năm 2008 đã có
thêm cơ sở thực tiễn bước đầu để lựa chọn những giống Cao su phù hợp với
biên độ sinh thái ở một số tiểu vùng của các tỉnh Tây Bắc.
Hiện nay, xã Hoang Thèn - Phong Thổ - Lai Châu vẫn còn 28 cây Cao
su giống RRIM 600 được nhập từ Kim Bình tỉnh Vân Nam - Trung Quốc
được trồng thử nghiệm từ năm 1993, sinh trưởng phát triển tốt, đường vanh
gốc một số cây >50cm, hiện đang tiến hành cạo mủ cho kết quả khá tốt.

tấn (81,2%) với năng suất khá cao, do áp dụng các tiến bộ kỹ thuật và giống
cao sản [4].
* Cơ cấu giống cây Cao su
Về giống Tập đoàn Công nghiệp Cao su Việt Nam đã có một số sơ sở
cho việc đề xuất cơ cấu giống cho vùng núi phía Bắc, đó là:
+ Trong nước: Các cơ sở dữ liệu vườn giống Phú Thọ đã ghi nhận
được một số giống sinh trưởng, chống chịu lạnh và cho năng suất mủ tốt có
thể bước đầu làm cơ sở cho việc xây dựng cơ cấu bộ giống cho khu vực miền
Bắc như các giống GT1, PB260, IAN 873, RRIM600, RRIM 712;
+ Ngoài nước: Giống Trung Quốc tại vùng Vân Nam, giáp với Lai
Châu và có điều kiện sinh thái vùng tương tự như ở Lai Châu và Sơn La cho
thấy các giống Trung Quốc YITC 77-2 (Yunyan 77-2) và YITC 77-4 (Yunyan
77-4) là các giống đang được khuyến cáo trồng, có khả năng chống chịu lạnh
và cho năng suất khá, các giống này cũng đã được trồng ở Bắc Lào là cơ sở
cho việc xem xét nhập nội.
* Phương pháp kỹ thuật bảo vệ môi trường cho rừng trồng Cao su
Trồng rừng Cao su là sử dụng đất cho hoạt động canh tác. Các thành
phần môi trường được khai thác trong rừng Cao su chủ yếu là đất và nước.
Các loại chất thải trong trồng rừng Cao su chủ yếu là dư lượng phân bón,
thuốc bảo vệ thực vật, các chất phân hủy từ cành khô, lá rụng và nhựa Cao su,
những rủi ro môi trường có thể xảy ra trong trồng rừng Cao su là việc làm


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status