Nghiên cứu vai trò của giới trong phát triển kinh tế hộ gia đình trên địa bàn huyện Định Hóa Tỉnh Thái Nguyên - Pdf 24

Số hóa bởi trung tâm học liệu http://lrc.tnu.edu.vn/ ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
ĐẶNG THỊ BÍCH HUỆ NGHIÊN CỨU VAI TRÕ CỦA GIỚI TRONG PHÁT TRIỂN
KINH TẾ HỘ GIA ĐÌNH TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN ĐỊNH HÓA
- TỈNH THÁI NGUYÊN

LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC NÔNG NGHIỆP Thái Nguyên, năm 2013

Thái Nguyên, năm 2013
Số hóa bởi trung tâm học liệu http://lrc.tnu.edu.vn/

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này là
trung thực và chưa từng được công bố trong bất kỳ công trình nào khác.
Các số liệu trích dẫn trong quá trình nghiên cứu đã được trích dẫn và
ghi rõ nguồn gốc.
Tác giả Đặng Thị Bích Huệ
Số hóa bởi trung tâm học liệu http://lrc.tnu.edu.vn/

LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận văn tôi đã được
sự quan tâm, giúp đỡ tận tình của nhiều tập thể và cá nhân. Nhân đây:
Tôi xin bày tỏ lòng cảm ơn sâu sắc đến Ban Giám hiệu, Phòng đào tạo,
Phòng Quản lý đào tạo Sau Đại học, Ban chủ nhiệm Khoa KT&PTNT cùng
các thầy cô Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên đã tận tình giúp đỡ,
hướng dẫn, tạo điều kiện về mọi mặt để tôi thực hiện đề tài này. Đặc biệt tôi
xin cảm ơn PGS.TS. Đinh Ngọc Lan, đã hướng dẫn chỉ bảo tận tình và đóng
góp nhiều ý kiến quý báu cho tôi hoàn thành luận văn tốt nghiệp.
Tôi xin chân thành cảm ơn các cơ quan, ban, ngành, đoàn thể gồm:
Huyện uỷ, UBND huyện Định Hóa, Phòng LĐ-XH, Chi cục Thống kê, Phòng
NN&PTNT, các tổ chức hội đoàn thể huyện Định Hóa, UBND các xã Quy

CEDAW
Xóa bỏ mọi hình thức phân biệt đối xử với phụ nữ
5
CNH
Công nghiệp hóa
6
CNVC
Công nhân viên chức
7
CRC
Công ước về quyền trẻ em
8
CT
Chỉ thị
9
DT
Diện tích
10
ĐVT
Đơn vị tính
11
GDI
Gender Development Index – Chỉ số phát triển giới
12
HDI
Chỉ số phát triển con người
13
HĐH
Hiện đại hóa
14

TC
Trung cấp
25
THCS
Trung học cơ sở
26
THPT
Trung học phổ thông
27
TTg
Thủ tướng
28
TW
Trung ương
29
UBND
Ủy ban nhân dân
Số hóa bởi trung tâm học liệu http://lrc.tnu.edu.vn/

MỤC LỤC
Trang

MỞ ĐẦU 1
1. Tính cấp thiết của đề tài 1
2. Mục tiêu nghiên cứu 2
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3
4. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 3
CHƢƠNG I. TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4
1.1. Cơ sở khoa học 4
1.1.1. Giới tính và giới 4

2.2.1.2. Chọn hộ nghiên cứu 28
2.2.2. Phương pháp thu thập số liệu . 29
2.2.2.1. Số liệu thứ cấp 29
2.2.2.2. Số liệu sơ cấp 30
2.2.3. Phương pháp tổng hợp và phân tích số liệu 30
2.2.3.1. Phương pháp xử lý số liệu 30
2.2.3.2. Phương pháp phân tổ thống kê 30
2.2.3.3. Phương pháp thống kê so sánh 30
2.2.3.4. Phương pháp phân tích giới 31
2.2.4. Hệ thống các chỉ tiêu nghiên cứu 31
2.2.4.1. Các chỉ tiêu phản ánh điều kiện sản xuất của hộ 31
2.2.4.2. Các chỉ tiêu biểu hiện sự đóng góp của hai giới trong
kinh tế hộ 31
CHƢƠNG III. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 33
3.1. Điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội của huyện Định Hóa,
tỉnh Thái Nguyên 33
3.1.1. Điều kiện tự nhiên 33
3.1.1.1. Vị trí địa lý 33
Số hóa bởi trung tâm học liệu http://lrc.tnu.edu.vn/

3.1.1.2. Địa hình 35
3.1.1.3. Khí hậu, thủy văn 35
3.1.1.4. Tài nguyên rừng 36
3.1.1.5. Tài nguyên đất 37
3.1.1.6. Tài nguyên du lịch, nhân văn 38
3.1.2. Điều kiện kinh tế - xã hội 39
3.1.2.1. Tình hình phát triển kinh tế 39
3.1.2.2. Tình hình xã hội 43
3.2. Thực trạng chung của các hộ điều tra trên địa bàn huyện
Định Hóa 45

3.5.4. Hỗ trợ vốn trong phát triển kinh tế hộ gia đình 87
3.5.5. Tăng cường sự tham gia của giới trong hoạt động cộng đồng 87
3.5.6. Làm tốt công tác KHHGĐ, chăm sóc sức khỏe của giới 88
3.5.7. Trong các chính sách, kế hoạch, chương trình dự án phát triển
cần đưa vào các chỉ tiêu về giới, các công cụ giám sát và đánh giá có
phân tách giới 89
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 91
1. Kết luận 91
2. Kiến nghị 92
TÀI LIỆU THAM KHẢO 95
Số hóa bởi trung tâm học liệu http://lrc.tnu.edu.vn/

DANH MỤC CÁC BẢNG
Trang

Bảng 3.1: Tình hình sử dụng đất của huyện Định Hóa 37
Bảng 3.2: Diện tích, năng xuất, sản lượng 1 số cây trồng chính 40
Bảng 3.3: Số lượng gia súc, gia cầm của huyện Định Hoá 42
Bảng 3.4: Tình hình dân số và lao động huyện Định hóa năm 2012 44
Bảng 3.5: Tình hình chung của các hộ điều tra 46
Bảng 3.6: Bình quân lao động và nhân khẩu của các hộ điều tra 47
Bảng 3.7: Tỷ lệ dân số theo tuổi và theo giới tính 48
Bảng 3.8: Trình độ học vấn của các thành viên trong gia đình 49
Bảng 3.9: Bình quân đất đai của các hộ 52
Bảng 3.10: Nguồn nước sinh hoạt chủ yếu của hộ gia đình 54
Bảng 3.11: Tài sản sinh hoạt của hộ gia đình 55
Bảng 3.12: Phương tiện sản xuất của hộ 57
Bảng 3.13: Cơ cấu thu nhập từ các hoạt động sản xuất chính của hộ 59
Bảng 3.14: Mức độ đóng góp thu nhập của nam giới so với nữ giới 60
Bảng 3.15: Tỷ lệ các hộ vay vốn 61

tháng 7 năm 2007. Xác định đây là một động lực và mục tiêu phát triển của
quốc gia nên ngày 24 tháng 12 năm 2010, Thủ tướng Chính phủ đã ký Quyết
định số 2351/QĐ-TTg phê duyệt Chiến lược quốc gia về Bình đẳng giới giai
đoạn 2011 – 2020.
Nhờ những nỗ lực trên, khoảng cách giữa nam và nữ trên tất cả các lĩnh
vực như kinh tế, giáo dục, chính trị, xã hội… đã có nhiều thay đổi và đang
dần được thu hẹp. Đối tượng là phụ nữ và trẻ em gái đang dần khẳng định vị
thế, vai trò to lớn của mình trong đời sống kinh tế - xã hội. Theo số liệu thống
kê, tỷ lệ nam giới và phụ nữ tham gia hoạt động kinh tế ở mức gần bằng nhau,
đối với nữ là 83%, nam là 85%.
Tuy nhiên, thực tế cho thấy việc ghi nhận sự đóng góp của hai giới
chưa thực sự xứng đáng và phụ nữ vẫn là đối tượng yếu thế hơn về cơ hội
việc làm, tiền lương, thu nhập, cơ hội thăng tiến, Đặc biệt, phụ nữ và trẻ em
gái nghèo, sống ở vùng sâu, vùng xa, người tàn tật hay dân tộc thiểu số tiếp
tục là những đối tượng chịu thiệt thòi. Những đóng góp của họ cho xã hội là
không nhỏ, vì vậy cần có những chính sách bổ sung chú trọng để giải quyết
những vấn đề bất bình đẳng giới đang tồn tại này. Phát triển nông nghiệp,
nông thôn chỉ có thể đạt được bền vững, công bằng, hiệu quả khi yếu tố giới
được đảm bảo.

Số hóa bởi trung tâm học liệu http://lrc.tnu.edu.vn/

2
Định Hóa là một huyện miền núi phía Tây Bắc của tỉnh Thái Nguyên,
được biết đến với di tích Quốc gia An toàn khu Định Hóa. Được sự quan tâm
của Đảng và Nhà nước cùng với sự cố gắng, nỗ lực của Đảng bộ, chính quyền
và nhân dân trong huyện nên nền kinh tế đã có nhiều chuyển biến tích cực,
đặc biệt là công tác xóa đói giảm nghèo và các vấn đề liên quan tới bình đẳng
giới. Hiện nay, kinh tế hộ gia đình đã và đang đóng vai trò trọng yếu trong
những thành công của ngành nông nghiệp. Tuy nhiên, nhiều chính sách nhằm

triển kinh tế hộ gia đình.
- Đề xuất được các giải pháp chủ yếu nhằm phát huy vai trò của mỗi
giới trong phát triển kinh tế hộ gia đình trên địa bàn huyện Định Hóa.
3. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
* Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu là vai trò cụ thể của nam giới và nữ giới trên địa
bàn huyện Định Hóa, tỉnh Thái Nguyên.
* Phạm vi nghiên cứu
- Về không gian nghiên cứu: nghiên cứu vai trò của nam giới và nữ giới
trong phạm vi hộ gia đình trên địa bàn huyện Định Hóa.
- Về thời gian nghiên cứu: thu thập số liệu của các ban, ngành, đoàn thể,
tổ chức chính trị kinh tế xã hội trong thời gian từ năm 2010 đến năm 2012.
4. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
Đề tài giúp hệ thống lại một cách khoa học các kiến thức đã học, vận
dụng linh hoạt vào thực tiễn cuộc sống. Đồng thời giúp tìm hiểu nâng cao
kiến thức chuyên môn.
Đề tài là công trình khoa học có ý nghĩa lý luận và thực tiễn thiết thực,
cung cấp thêm các cơ sở khoa học giúp cho huyện Định Hóa xây dựng các
giải pháp nhằm nâng cao vai trò của giới trong các hoạt động phát triển kinh
tế hộ gia đình.
Số hóa bởi trung tâm học liệu http://lrc.tnu.edu.vn/

4
CHƢƠNG I
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1. Cơ sở khoa học
1.1.1. Giới tính và giới

sự khác biệt về xã hội và quan hệ (quyền lực) giữa trẻ em trai và trẻ em gái,
giữa phụ nữ và nam giới, được hình thành và khác nhau ngay trong một nền
văn hóa, giữa các nền văn hóa và thay đổi theo thời gian. Sự khác biệt này
được nhận thấy một cách rõ ràng trong vai trò, trách nhiệm, nhu cầu, khó
khăn, thuận lợi của các giới tính. [21]
Giới là sự khác biệt giữa nam và nữ về góc độ xã hội, sự khác nhau do
xã hội quyết định, các mối quan hệ do xã hội xác lập. Vai trò của giới được
xác định bởi các đặc tính xã hội, văn hóa và kinh tế, được nhận thức bởi các
thành viên trong xã hội đó. Do vậy vai trò của giới có sự biến động và thay
đổi qua không gian và thời gian. [14]
Xã hội tạo ra và gán cho trẻ em gái và trẻ em trai, cho phụ nữ và nam
giới các đặc điểm giới khác nhau. Bởi vậy, các đặc điểm giới rất đa dạng và
có thể thay đổi được.
Giới có thể là khái niệm dùng để chỉ các đặc trưng xã hội của nam và
nữ. Đây là tập hợp những hành vi ứng xử về mặt xã hội, những mong muốn
về những đặc điểm và năng lực mà xã hội coi là thuộc về nam giới hoặc phụ
nữ trong xã hội hay nền văn hóa cụ thể nào đó. [4]
Vào những năm 60 của thế kỷ XX, khái niệm về “Giới” được xuất hiện
ở các nước nói tiếng Anh. Sau đó nhanh chóng trở thành một phương pháp
tiếp cận khoa học được nghiện cứu và vận dụng trong việc xây dựng các kế
hoạch, chính sách phát triển kinh tế - xã hội của nhiều quốc gia.
Đối với Việt Nam, Khoa học về Giới xuất hiện vào cuối những năm
1980 với nhiều bài viết, công trình nghiên cứu về giới và các vấn đề của phụ
nữ. Thuật ngữ “Giới” bắt nguồn từ môn nhân khẩu học, nó đề cập đến phân
công lao động, vai trò, trách nhiệm và quyền lợi mà xã hội quy định cho nam
và nữ.

Số hóa bởi trung tâm học liệu http://lrc.tnu.edu.vn/

6

7
* Sự khác biệt về giới:
Phụ nữ được xem là phái yếu, vì họ sống thiên hơn về tình cảm, họ là
thành phần quan trọng tạo nên sự yên ấm trong gia đình. Thiên chức của phụ
nữ là làm vợ, làm mẹ nên họ gắn bó với con cái, gia đình hơn nam giới và
cũng từ đó mối quan tâm của họ cũng có phần khác nam giới.
Nam giới được coi là phái mạnh, là trụ cột gia đình. Họ cứng rắn hơn
về tình cảm, mạnh bạo và năng động hơn trong công việc. Đặc trưng này cho
phép họ dồn hết tâm trí vào lao động sản xuất, vào công việc xã hội, ít bị ràng
buộc bởi con cái và gia đình. Chính điều này đã làm tăng thêm khoảng cách
khác biệt giữa phụ nữ và nam giới trong xã hội.
Hơn nữa, nam giới và nữ giới lại có xuất phát điểm không giống nhau
để tiếp cận cái mới, họ có những thuận lợi, khó khăn với tính chất và mức độ
khác nhau để tham gia vào các chương trình kinh tế, từ góc độ nhận thức, nắm
bắt các thông tin xã hội. Trong nền kinh tế hội nhập quốc tế, từ điều kiện và
cơ hội được học tập, tiếp cận việc làm và làm việc, từ vị trí trong gia đình,
ngoài xã hội khác nhau, từ tác động của định kiến xã hội, các hệ tư tưởng,
phong tục tập quán đối với mỗi giới cũng khác nhau.
1.1.1.3. Nhu cầu, lợi ích giới và bình đẳng giới
* Nhu cầu giới (còn gọi là nhu cầu thực tế): là những nhu cầu xuất phát
từ công việc và hoạt động hiện tại của phụ nữ và nam giới. Nếu những nhu
cầu này được đáp ứng thì sẽ giúp cho họ làm tốt vai trò sẵn có của mình. [1]
Nhu cầu giới thực tế là những nhu cầu được hình thành từ những điều
kiện cụ thể mà phụ nữ trải qua. Chúng nảy sinh từ những vị trí của họ trong
phân công lao động theo giới, cùng với lợi ích giới thực tế của họ là sự tồn tại
của con người. Khác với nhu cầu chiến lược, chúng được chính phụ nữ đưa ra
từ vị trí của họ chứ không phải qua can thiệp từ bên ngoài. Vì vậy nhu cầu
giới thực tế thường là sự hưởng ứng đối với sự cần thiết được nhận thức ngay
do phụ nữ xác định trong hoàn cảnh cụ thể.



Số hóa bởi trung tâm học liệu http://lrc.tnu.edu.vn/

9
thể hiện ở việc tôn trọng giá trị nhân phẩm của nam giới cũng như nữ giới
trong những đóng góp của họ đối với xã hội và gia đình. Đồng thời, cả hai
giới đều có trách nhiệm, chia sẻ với nhau trong thực hiện công việc gia đình
và công việc chung của xã hội.
Trong xã hội, nếu cả phụ nữ và nam giới cùng được tạo điều kiện để
phát huy hết khả năng thực hiện các mong muốn, được tham gia, đóng góp và
hưởng thụ các nguồn lực và thành quả trong quá trình phát triển của xã hội,
được hưởng tự do và chất lượng cuộc sống như nhau thì xã hội đó đã đạt được
bình đẳng giới. Còn ngược lại, nếu những tiêu chí này chưa được xác lập thì
chứng tỏ rằng xã hội đó đang tồn tại bất bình đẳng giới.
1.1.1.4. Vai trò của giới
Trong cuộc sống, cả nam và nữ đều tham gia vào mọi hoạt động của
đời sống xã hội, tuy nhiên mức độ tham gia của nam và nữ trong các loại công
việc là khác nhau do những quan niệm, các chuẩn mực xã hội quy định.
Những công việc mà họ đảm nhận được gọi là vai trò giới. Các vai trò giới đa
dạng (tùy thuộc vào vị trí và bối cảnh), thay đổi theo thời gian (tương ứng với
sự thay đổi của các điều kiện và hoàn cảnh) và thay đổi theo sự thay đổi trong
quan niệm xã hội (tương ứng với việc chấp nhận hoặc không chấp nhận một
hành vi ứng xử vai trò nào đó).
Vai trò giới: là tập hợp các hành vi ứng xử mà xã hội mong đợi ở nam
và nữ liên quan đến những đặc điểm giới tính và năng lực mà xã hội coi là
thuộc về nam giới hoặc thuộc về phụ nữ (trẻ em trai hoặc trẻ em gái) trong
một xã hội hoặc một nền văn hoá cụ thể nào đó. Vai trò giới được quyết định
bởi các yếu tố kinh tế, văn hoá, xã hội.
Phụ nữ và nam giới thường có 3 vai trò giới như sau: Vai trò sản xuất,
vai trò tái sản xuất và vai trò cộng đồng.

gia đình của phụ nữ khiến họ ít có cơ hội tham gia vào các hoạt động cộng
đồng. Do vậy, nam giới có nhiều thời gian và cơ hội hơn để đảm nhận vai trò
cộng đồng và rất ít khi tham gia vào các hoạt động tái sản xuất.

Số hóa bởi trung tâm học liệu http://lrc.tnu.edu.vn/

11
Trên thực tế, đặc điểm giới tính là một trong những cơ sở để phân công
lao động trong một xã hội nhất định. Do đó, khi xem xét vai trò giới chính là
xem xét phụ nữ và nam giới trong 3 vai trò: vai trò sản xuất, tái sản xuất, cộng
đồng. [16]
1.1.1.5. Định kiến giới

Theo Từ điển Tiếng Việt: Định kiến chính là những ý nghĩ riêng đã có
sẵn, khó có thể thay đổi được. [26]
Theo Khoản 4, Điều 5, Luật Bình đẳng giới năm 2006 thì định kiến
giới là nhận thức, thái độ và sự đánh giá thiên lệch, tiêu cực về đặc điểm, vị
trí, vai trò và năng lực của nam hoặc nữ. [10]
Định kiến giới là suy nghĩ của mọi người về những gì mà phụ nữ và
nam giới có khả năng làm và loại công việc mà họ có thể làm và nên làm; là
tập hợp các đặc điểm mà một nhóm người, một cộng đồng cụ thể nào đó gán
cho là thuộc tính của nam giới hay nữ giới.
Ngày nay, định kiến giới đã có sự tiến bộ song vẫn còn tồn tại khiến
cho giới nam và giới nữ chịu nhiều áp lực trong việc thực hiện vai trò, trách
nhiệm và quyền lợi của mình trong cuộc sống.
1.1.1.6. Nhạy cảm giới

Nhạy cảm giới là nhận thức được đầy đủ và đúng đắn về các nhu cầu,
vai trò, trách nhiệm khác nhau mang tính xã hội của phụ nữ và nam giới nảy
sinh từ những đặc điểm sinh học vốn có của họ. Đồng thời hiểu được điều này

triển con người, tức là đảm bảo đời sống con người, tôn trọng con người, tạo
mọi điều kiện để hộ tham gia hoạt động về các mặt văn hoá - kinh tế - chính
trị - xã hội. [12]
* Phát triển kinh tế: có thể hiểu là quá trình lớn lên về mọi mặt của nền
kinh tế trong một thời kỳ nhất định. Trong đó bao gồm cả sự tăng thêm về
quy mô sản lượng và sự tiến bộ về cơ cấu kinh tế xã hội. [12]
1.1.2.2. Khái niệm, đặc điểm hộ gia đình, kinh tế hộ nông dân.
* Hộ gia đình:

Số hóa bởi trung tâm học liệu http://lrc.tnu.edu.vn/

13
Hộ đã có từ lâu đời, cho đến nay nó vẫn tồn tại và phát triển. Do vậy,
có rất nhiều khái niệm khác nhau của các nhà khoa học về “Hộ”:
- Thống kê Liên Hợp Quốc cũng có khái niệm về “Hộ” gồm những
người sống chung dưới một ngôi nhà, cùng ăn chung, làm chung và cùng có
chung một ngân quỹ.
- Giáo sư Mc Gê (1989) - Đại học tổng hợp Colombia (Canada) cho
rằng: “Hộ” là một nhóm người có cùng chung huyết tộc hoặc không cùng
chung huyết tộc ở trong một mái nhà và ăn chung một mâm cơm.
- Nhóm các học giả lý thuyết phát triển cho rằng: “Hộ là một hệ thống
các nguồn lực tạo thành một nhóm các chế độ kinh tế riêng nhưng lại có mối
quan hệ chặt chẽ và phục vụ hệ thống kinh tế lớn hơn”.
- Nhóm “hệ thống thế giới” (các đại biểu Wallerstan (1982), Wood
(1981, 1982), Smith (1985), Martin và BellHel (1987) cho rằng: “Hộ là một
nhóm người có cùng chung sở hữu, chung quyền lợi trong cùng một hoàn
cảnh. Hộ là một đơn vị kinh tế giống như các công ty, xí nghiệp khác”.
- Theo một số từ điển chuyên ngành kinh tế, từ điển ngôn ngữ thì hộ
được hiểu là: tất cả những người cùng sống trong một mái nhà, bao gồm
những người có cùng huyết tộc và những người làm công. [27]

- Nhà khoa học Traianốp đưa ra định nghĩa: "Hộ nông dân là đơn vị sản
xuất rất ổn định" và ông coi "hộ nông dân là đơn vị tuyệt vời để tăng trưởng
và phát triển nông nghiệp". [28]
- Tác giả Mats Lundahl và Tommy Bengtsson bổ sung thêm vào quan
điểm của Traianốp: "Hộ nông dân là đơn vị sản xuất cơ bản". [28]
- Theo nhà khoa học Lê Đình Thắng (năm 1993): "Nông hộ là tế bào
kinh tế xã hội, là hình thức kinh tế cơ sở trong nông nghiệp và nông thôn". [19]
- Đào Thế Tuấn (1997) chỉ ra: “Hộ nông dân là những hộ chủ yếu hoạt
động nông nghiệp theo nghĩa rộng, bao gồm cả nghề rừng, nghề cá và hoạt
động phi nông nghiệp ở nông thôn”.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status